Cổng thông tin điện tử tỉnh thanh hóa

Huyện Quan Sơn

Chủ nhật, ngày 19 tháng 9 năm 2021

100%

LỜI NÓI ĐẦU
Quan Sơn là huyện miền núi cao biên giới nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hóa, vùng đất giàu truyền thống cách mạng, có bề dày lịch sử - văn hóa và có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng; nơi sinh tụ của cộng đồng các dân tộc: Thái, Kinh, Mường, Mông... đoàn kết chung sống từ bao đời nay. Ngày 18/11/1996, huyện Quan Sơn được thành lập theo Nghị định 72/NĐ-CP của Chính phủ, trên cơ sở chia tách từ huyện Quan Hóa (cũ), đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của vùng đất này. 

Trong tiến trình lịch sử, Quan Sơn giữ vị trí quan trọng về quốc phòng - an ninh và phát triển kinh tế - xã hội trên dải đất phía tây của tỉnh. Người Quan Sơn với bản tính tự chủ, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết, cần cù chịu khó, sáng tạo trong lao động sản xuất, kiên cường dũng cảm trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, thiên tai, góp phần quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đồng thời hun đúc nên những giá trị truyền thống tốt đẹp mang đậm sắc thái văn hóa địa phương.
Lịch sử để lại trên đất Quan Sơn một kho tàng di sản văn hóa phong phú và đa dạng, gắn liền với quá trình chống chọi thiên tai địch họa để dựng mường, giữ bản, như truyền thuyết đồng bào Quan Sơn ủng hộ Bình Định Vương Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn; di tích về Tư Mã Hai Đào; sự kiện thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (tháng 4 năm 1955)... Quan Sơn còn được biết đến với những danh thắng nổi tiếng như: Thác bản Xày (suối Bá), thác Ma Hao (suối Din) xã Trung Hạ, mó nước nóng bản Khạn, cầu Pha Lò (xã Trung Thượng), động Nang Non (núi đá Su Lú, xã Sơn Lư), thác bản Nhài (xã Sơn Điện), Pha Dùa, động Bo Cúng (xã Sơn Thủy)... đến các con sông Luồng, sông Lò... tất cả hội tụ và đan xen, tạo nên sự thăng hoa của vùng đất này.
Với những đặc trưng về yếu tố tự nhiên, Quan Sơn có nhiều lợi thế, tiềm năng để phát triển kinh tế lâm nghiệp và chăn nuôi. Ngoài ra, huyện còn có Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, Quốc lộ 217 dài 200km nối với Quốc lộ 1 từ huyện Hà Trung lên Na Mèo. Đây là tuyến giao thông huyết mạch phía tây bắc của tỉnh Thanh Hóa, đoạn chạy qua huyện dài 75km, kết nối huyện với các vùng miền trong tỉnh và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, đã và đang mang lại lợi ích trên nhiều phương diện cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Quan Sơn nói riêng, tỉnh Thanh Hóa và cả nước nói chung. Mặc dù vậy, Quan Sơn luôn phải đối diện với nhiều thách thức như: địa hình núi cao, độ dốc lớn, đất canh tác ít; ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nguồn nước ngày một cạn kiệt... Xuất phát điểm về kinh tế - xã hội, hạ tầng vật chất kỹ thuật nhìn chung còn lạc hậu, chưa đồng bộ, trình độ dân trí còn thấp, tập quán canh tác của người dân chủ yếu dựa vào tự nhiên... Đó là những thử thách không nhỏ, tác động đến quá trình phát triển của huyện nhà.
Xuất phát từ tình cảm cao đẹp “Uống nước nhớ nguồn”, Huyện ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện Quan Sơn thống nhất chủ trương nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn, xuất bản cuốn sách Địa chí huyện Quan Sơn - một cuốn sách mang tính bách khoa thư về địa lý, hành chính, lịch sử, hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và con người Quan Sơn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay. Qua đó, giúp cho mỗi người dân Quan Sơn nâng cao niềm tự hào, trân trọng giữ gìn những giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của quê hương; ra sức vươn lên trong học tập, lao động, công tác, đóng góp trí tuệ, sức lực, đoàn kết chung sức, chung lòng xây dựng Quan Sơn sớm thoát khỏi huyện nghèo, trở thành huyện phát triển vững về kinh tế - xã hội, mạnh về quốc phòng - an ninh, giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa các dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Cuốn sách Địa chí huyện Quan Sơn do các nhà nghiên cứu, giảng viên Trường Đại học Hồng Đức chủ trì biên soạn với sự đóng góp tâm sức, trí tuệ của các các bậc lão thành, các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo huyện qua các thời kỳ, các nhà nghiên cứu địa phương, Nhà xuất bản Thanh Hóa cùng cán bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn. Đến nay, cuốn sách được xuất bản, đây là công trình khoa học, thiết thực chào mừng Kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập huyện Quan Sơn (18/11/1996 - 18/11/2016), đồng thời đáp ứng lòng mong đợi của cán bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình tổ chức nghiên cứu, sưu tầm và biên soạn, song cuốn sách không tránh khỏi những khiếm khuyết. Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của cán bộ, đảng viên, nhân dân các dân tộc trong huyện, các nhà nghiên cứu và bạn đọc để lần tái bản cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn sự đóng góp quý báu của quý vị và trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc!

Chương 1. ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN

1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Quan Sơn là huyện miền núi vùng cao biên giới, nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hóa, trung tâm huyện lỵ cách trung tâm tỉnh lỵ hơn 150km. Nơi xa nhất là Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo cách thành phố Thanh Hóa 200km.

Quan Sơn có tọa độ địa lý:

- Điểm cực Bắc có vĩ độ 21006’15” Bắc, thuộc địa phận phía bắc bản Chanh, xã Sơn Thủy;

- Điểm cực Nam có vĩ độ 20024’30” Bắc, thuộc bản Xum, địa phận xã Sơn Hà;

- Điểm cực Đông có tọa độ 104015’30” Đông, thuộc địa phận bản Phú Nam, xã Trung Xuân;

- Điểm cực Tây có tọa độ 104015’30” - 105008’25” Đông, thuộc địa phận bản Cha Khót, xã Na Mèo.

Vị trí địa lý:

- Phía đông giáp huyện Bá Thước và Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa;

- Phía nam và phía tây giáp huyện Sầm Tớ, huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào);

- Phía bắc giáp huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Lãnh thổ Quan Sơn trải dài theo hướng tây - đông. Chiều dài đường chim bay theo hướng tây - đông, từ bản Cha Khót (xã Na Mèo) đến phía đông bản Phú Nam (xã Trung Xuân) là 80km và chiều rộng trung bình theo hướng bắc - nam là 40km.

Diện tích tự nhiên của huyện 92.662,3ha, bằng 8,35% diện tích tự nhiên của tỉnh Thanh Hóa, là huyện có diện tích tự nhiên đứng thứ ba trong tỉnh (sau huyện Thường Xuân và Quan Hóa); trong đó đất nông nghiệp: 81.337,5 ha, đất phi nông nghiệp 2.574,56ha; đất chưa sử dụng 8.750,44ha. Quan Sơn còn là huyện có thế mạnh về rừng, năm 2015 độ che phủ rừng là 88,8%, là huyện có độ che phủ rừng cao nhất tỉnh Thanh Hóa.

Huyện Quan Sơn có 13 đơn vị hành chính, gồm thị trấn Quan Sơn và 12 xã: Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Tiến, Trung Thượng, Sơn Lư, Sơn Hà, Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thủy, Na Mèo. Toàn huyện có 99 khu, bản. Trung tâm hành chính của huyện là thị trấn Quan Sơn (Km 35 đường 217, tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Huyện có 06 xã biên giới: Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thủy, Na Mèo với 64km đường biên.

Dân số của huyện là 37.139 người (tính đến năm 2015), trong đó phân theo giới tính là 18.884 nam và 18.255 nữ; phân theo thành thị, nông thôn: thành thị 2.830 người, nông thôn: 34.309 người. Mật độ dân số trung bình 40 người/km2.

Vùng đất Quan Sơn là nơi sinh sống đoàn tụ của nhiều dân tộc anh em: Thái, Kinh, Mường, Mông (trong đó, dân tộc Thái chiếm 81% dân số, dân tộc Kinh 9,1%, dân tộc Mường 7,4%, dân tộc Mông, 2,3%,), còn lại là các dân tộc khác 0,2%.

Có thể nhận thấy, hệ tọa độ địa lý mang đến cho Quan Sơn nhiều lợi ích: Toàn bộ lãnh thổ huyện đều nằm trọn trong múi giờ thứ 7 (giờ quốc tế GMT), nên thuận tiện cho việc quản lý thống nhất các hoạt động hành chính, sản xuất, văn hóa, xã hội và mọi mặt sinh hoạt của con người. Lãnh thổ Quan Sơn nằm trọn trong vùng nhiệt đới nên có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào. Đấy là động lực để hàng loạt quá trình tự nhiên diễn ra liên tục với cường độ mạnh, đảm bảo sự sinh sôi, nảy nở và phát triển của thế giới sinh vật; làm cho thiên nhiên Quan Sơn in đậm tính chất của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa.

Về mặt vị trí địa lý kinh tế, Quan Sơn có thể giao lưu thuận lợi với các lãnh thổ khác thông qua Quốc lộ 217. Khoảng cách từ thị trấn Quan Sơn (theo Quốc lộ 217) tới Quốc lộ 15A tại ngã ba Đồng Tâm, huyện Bá Thước là 35km và tới đường Hồ Chí Minh là 80km, tới Quốc lộ 1 tại thành phố Thanh Hóa là 150km. Thông qua Quốc lộ 15A, Quan Sơn có thể giao lưu thuận lợi với các tỉnh ở khu vực Tây Bắc của đất nước. Thông qua tuyến đường Hồ Chí Minh, Quan Sơn có thể giao lưu thuận lợi với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (cách Hà Nội gần 170km), với cảng biển và Khu kinh tế Nghi Sơn và các vùng phát triển khác trong cả nước. Theo Quốc lộ 217, Quan Sơn có thể giao lưu thuận lợi với tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) qua Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo và Cửa khẩu tiểu ngạch Tam Thanh.

Nằm ở vùng cao biên giới phía tây tỉnh Thanh Hóa, Quan Sơn không chỉ có vị thế quan trọng về kinh tế đối ngoại, quốc phòng an ninh mà còn có vai trò là rừng phòng hộ giữ cân bằng môi trường sinh thái của tỉnh Thanh Hóa.

Chính nhờ vị trí địa lý đặc biệt đó mà trong suốt chiều dài lịch sử, lãnh thổ này đã trở thành điểm hẹn của cộng đồng người Thái, Mường, Mông, Kinh... từ các vùng khác nhau mang theo những sắc thái văn hóa tộc người, những kinh nghiệm sản xuất đa dạng hội tụ về đây khám phá thiên nhiên, lập nghiệp sinh sống và cùng tạo nên tính phong phú và độc đáo của văn hóa Quan Sơn.

Trong lịch sử, Quan Sơn cũng là hậu phương quan trọng của Mặt trận Thượng Lào và chiến dịch Điện Biên Phủ. Quan Sơn là địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh của tỉnh, của Quân khu IV và cả nước, là đầu mối giao thương chính giữa hai tỉnh Thanh Hóa (Việt Nam) và Hủa Phăn (Lào).

Với vị trí địa lý là cửa ngõ phía tây của tỉnh và địa bàn có vai trò trọng yếu về quốc phòng, an ninh, với quỹ đất cho phép, Quan Sơn đã và sẽ thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư, phát triển các trung tâm thương mại ở các khu đô thị như: thị tứ Km 19 Trung Hạ; Km 22 Trung Tiến; thị trấn Quan Sơn; chợ biên giới Tam Thanh; Khu dân cư Km 54, Km 61, Km 66, Trung tâm xã Sơn Thủy và Khu kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo. Phát triển kinh tế du lịch với các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử như cầu Pha Lò (Phà Lò), động Bo Cúng, động Nang Non (pha Su Lú), núi Pù Mằn, thác Ma Hao, suối nước nóng bản Khạn, đền thờ Tư Mã Hai Đào,... Trong thời đại hiện nay, vị trí địa lý này đang mở ra nhiều cơ hội để huyện Quan Sơn khai thác những tiềm năng, lợi thế giúp cho Quan Sơn thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển.

1.2. ĐỊA HÌNH

Về điều kiện tự nhiên, bề mặt địa hình là nơi gặp gỡ và tiếp xúc của các hợp phần tự nhiên như nham thạch, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật. Vì thế sự phân hóa của địa hình là nguyên nhân làm cho tự nhiên huyện Quan Sơn có sự khác nhau theo lãnh thổ.

Về mặt xã hội, bề mặt địa hình cũng là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động cư trú, sinh hoạt và sản xuất của con người. Vì thế, đặc điểm và sự khác biệt theo lãnh thổ của địa hình có tác động rất lớn đến phát triển và phân bố các hoạt động kinh tế - xã hội, cư trú và sinh hoạt của con người trên địa bàn huyện.

1.2.1. Đặc điểm chung

Theo các bản đồ nền tỷ lệ 1/100.000 và 1/50.000 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ảnh vệ tinh Landsat, tư liệu ở các trang website: google earth.com, maps.google.com cùng các tài liệu đo đạc, nghiên cứu thực tế trong nhiều năm qua của các cơ quan chuyên môn, có thể nhận ra một số đặc điểm của địa hình Quan Sơn như sau:

1.2.1.1. Quan Sơn có địa hình núi chia cắt phức tạp

Nhìn chung, địa hình Quan Sơn chủ yếu là núi cao và sâu hình thành nhiều lòng máng dọc theo các khe suối và các thung lũng dọc theo hai bên bờ sông Lò và sông Luồng, thấp dần đổ về hướng tây nam - đông bắc. Phần lớn núi cao trung bình trên 600m, cao nhất trên 1.000m như đỉnh Pha Phanh (giữa 2 xã Sơn Điện, Sơn Lư) cao 1.100m - 1.300m, Pù Mằn (xã Sơn Hà) cao 1.247m. Diện tích đồi núi chiếm khoảng 91% diện tích toàn huyện, còn lại xen kẽ là những thung lũng nhỏ, khu vực đất thấp tương đối bằng, chủ yếu nằm dọc theo sông Lò và sông Luồng. Mặc dù có các di tích của các bề mặt san bằng cổ với các bậc độ cao: 900m - 1.247m, 600m - 800m và 300m - 500m, do sự chia cắt phức tạp nên phần lớn địa hình Quan Sơn có độ dốc lớn.

Sự chia cắt phức tạp của địa hình tuy có mang lại một số lợi ích như xây dựng các công trình cấp nước tự chảy, đỡ tốn năng lượng, nhưng lại gây ra rất nhiều khó khăn trong việc đi lại, xây dựng các công trình, tăng chi phí xây dựng và ẩn chứa nguy cơ trượt đất, lũ ống, lũ quét, lũ bùn đá,... đó cũng là khó khăn trở ngại trong việc quy hoạch dân cư. Sự chia cắt phức tạp của địa hình cũng làm cho thời gian chiếu sáng tại các thung lũng thường ngắn hơn khu vực đỉnh núi và đồng bằng từ 1 đến 2 giờ. Do vậy, giờ làm việc, học tập, sinh hoạt của con người nơi đây phải bắt đầu muộn và kết thúc sớm hơn so với các khu vực đồng bằng và ven biển.

Với hơn 60% diện tích của Quan Sơn có độ cao trên 700m. Nhờ sự giảm nhiệt độ khi lên cao mà những nơi này có khí hậu cận nhiệt đới mát mẻ, có thể mở ra khả năng phát triển tập đoàn cây dược liệu, rau và hoa quả xứ lạnh và các hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, chữa bệnh.

Khoảng 97% diện tích tự nhiên của huyện có độ dốc trên 150 và không hề có một sơn nguyên, cao nguyên nào. Đặc điểm này chi phối phương hướng hoạt động kinh tế chủ yếu của huyện là tập trung vào các hoạt động lâm nghiệp, bảo tồn thiên nhiên và du lịch. Các hoạt động canh tác nông nghiệp, xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi và dân sinh khó khăn hơn các huyện đồng bằng vì phải khắc phục độ dốc lớn.

Các khu vực có độ dốc dưới 150 chủ yếu tập trung tại các thung lũng sông Luồng và sông Lò. Tại đây có thể phát triển các hoạt động lâm nghiệp và nông nghiệp với điều kiện phải xây dựng ruộng bậc thang để giữ nước, giảm bớt sự rửa trôi các chất dinh dưỡng và chống xói mòn cho đất.

Nơi có độ cao tuyệt đối lớn nhất của Quan Sơn là các đỉnh núi tại biên giới Việt - Lào thuộc phía tây xã Sơn Thủy và phía nam xã Mường Mìn. Tại đây độ cao đạt 1.300m - 1.400m. Nơi có độ cao tuyệt đối thấp nhất là thung lũng sông Lò tại phía đông xã Trung Xuân có độ cao chưa đầy 70m. Độ cao trung bình của địa hình Quan Sơn giảm từ 1.200m ở phía tây và phía nam xuống thung lũng sông Luồng, sông Lò và dọc hai bên Quốc lộ 217.

1.2.1.2. Các dãy núi ở Quan Sơn phần lớn nghiêng, dốc và kéo dài theo hướng tây - đông

Các dãy núi ở Quan Sơn là sự tiếp tục của các dãy núi chạy từ nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào rồi thấp dần về phía đông và phía đông bắc. Đây là nguyên nhân làm cho mạng lưới sông, suối ở Quan Sơn chủ yếu chảy theo hướng tây nam - đông bắc.

Các dãy núi chính ở Quan Sơn gồm: dãy Pù Mằn - Sơn Hà, cao 1.247m; dãy Pha Phanh - Sơn Điện - Sơn Lư cao 1.146m - 1.346m; Pù Xa Lày, xã Mường Mìn cao 1.416m.

Dãy Pù Mằn - Sơn Hà phát triển trên nền đá trầm tích cát kết, cát kết tụ, cát bột kết xen ryolit và thấu kính cuội kết, sạn kết... có tuổi (T2a đt1). Dãy núi này chạy từ nước bạn Lào qua phía nam bản Cha Khót (xã Na Mèo) chạy dọc biên giới Việt - Lào theo hướng tây - đông, tới đông nam bản Yên (xã Mường Mìn) bị khối macma bản Bin (yaT2 sm1) chia thành 2 nhánh, một nhánh chạy theo hướng đông - đông bắc và chạy tới bản Hậu (xã Sơn Lư); nhánh thứ hai tiếp tục chạy theo hướng đông - đông nam, sau khi hạ thấp độ cao còn 230m ở thung lũng sông Lò tại bản Kham (xã Tam Thanh) đạt độ cao trên 1.300m ở Sơn Hà và sau đó hạ thấp độ cao và đi vào lãnh thổ Lang Chánh.

Dãy Na Mèo - Sơn Lư. Dãy này chạy từ Lào qua bản Na Mèo theo hướng tây - đông đến phía tây - nam bản Bin (xã Sơn Lư). Dãy núi này nằm ở phía nam và chạy gần song song với Quốc lộ 217. Móng địa chất của dãy núi là các loại cát kết, cát bột kết xen đá phiến sét và các thấu kính đá vôi đen phân lớp mỏng của Hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn). Nếu như dãy Pù Mằn - Sơn Hà chạy tương đối liên tục, thì dãy Na Mèo - Sơn Lư lại bị chia cắt phức tạp bởi sông Luồng và các nhánh của nó.

Dãy núi phía bắc chạy từ Lào qua phía nam bản Son (xã Na Mèo) theo hướng tây - đông về tận phía tây bản Bàng (xã Trung Thượng). Nửa phía đông của dãy núi này như là địa giới thiên nhiên giữa hai huyện Quan Sơn và Quan Hóa. Đây là dãy núi cao hiểm trở được cấu tạo bởi tập hợp đá rất phức tạp xen kẽ nhau bao gồm cát kết dạng quarzit, đá phiến silic, đá vôi silic của Hệ tầng La Khê (C1lk); cát kết, cát bột kết xen đá phiến sét và các thấu kính đá vôi đen phân lớp mỏng của Hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn); granit biotit và granit hai mica thuộc Phức hệ Phia bioc pha 1 (T3n pb1). Chính điều này làm cho địa hình dãy núi này rất hiểm trở, nhiều vách đứng, chia cắt phức tạp. Dãy núi phía bắc cũng bị các dòng sông, suối chạy theo hướng tây nam - đông bắc của sông Luồng chia cắt phức tạp. Đặc điểm này tạo thuận lợi cho việc mở những tuyến đường qua lại giữa huyện Quan Sơn và Quan Hóa.

1.2.1.3. Bề mặt địa hình Quan Sơn vẫn đăng tiếp tục thay đổi

Ngày nay vận động tân kiến tạo vẫn tiếp tục diễn ra và sẽ nâng cao thêm địa hình, làm xuất hiện các bậc địa hình mới, các thềm sông. Hệ thống sông suối tiếp tục đào lòng, chia cắt bề mặt địa hình. Các quá trình: phong hóa, cacxtơ, xói mòn, trượt đất, lở đất, rửa trôi, bồi tụ... và cuối cùng là hoạt động ngày càng mạnh thêm của con người sẽ làm cho bề mặt địa hình Quan Sơn thay đổi và chúng ta khó có thể hình dung được địa hình Quan Sơn sẽ như thế nào trong hàng vạn, hàng triệu năm sau. Vấn đề quan trọng là cần phải nhận thức được quy luật và xu hướng thay đổi của chúng để có những biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo phù hợp, để vừa thuận lợi cho sinh hoạt, phát triển sản xuất, vừa phòng tránh được các tai biến thiên nhiên vừa bảo vệ được cảnh quan môi trường.

1.2.2. Các kiểu địa hình

Quan Sơn có 4 nhóm kiểu địa hình: địa hình kiến tạo, địa hình xâm thực, địa hình cacxtơ và địa hình tích tụ. Mỗi kiểu, nhóm địa hình đều có những đặc điểm riêng biệt. Sự đa dạng của các kiểu, nhóm địa hình không chỉ làm cho cảnh quan Quan Sơn thêm đa dạng, ngoạn mục mà điều quan trọng hơn là làm cho các hoạt động sản xuất, cư trú và sinh hoạt của con người ở đây có sự khác nhau từ bản này sang bản khác. Do vậy khó mà có thể áp dụng một mô hình sinh hoạt, sản xuất và cư trú đồng nhất cho tất cả các khu vực trên địa bàn huyện.

1.2.2.1. Địa hình kiến tạo

Địa hình kiến tạo gồm các sườn và vách dốc dọc theo các đứt gãy tuyến tính, thể hiện rất rõ dọc theo đứt gãy sâu phân miền kiến tạo Điện Biên - Núi Nưa, đứt gãy theo phương vĩ tuyến chạy song song theo hướng tây - đông ở phía nam đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa, các đứt gãy theo phương á kinh tuyến ở phía bắc Quốc lộ 217... Hệ thống các đứt gãy này nhiều khi làm ranh giới giữa các kiểu loại đá có thành phần và tuổi khác nhau, thậm chí giữa các nếp uốn khác nhau trong cùng một loại đá, cùng một thành hệ đất đá. Ngoài ra, còn có nhiều đoạn sườn và vách dốc ngắn, hẹp dọc theo các đứt gãy phương đông bắc - tây nam như ở các xã: Trung Thượng, Trung Xuân, Sơn Thủy, Sơn Điện. Hai hệ thống sườn và vách dốc này cắt nhau, cùng nhau chia cắt các dãy núi thành từng khối. Tại những nơi giao cắt, có thể nhận thấy thung lũng đột nhiên mở rộng ra, hoặc phát triển các trũng hoặc phễu sụt nếu ở diện phân bố đá vôi.

1.2.2.2. Địa hình xâm thực

Địa hình xâm thực phát triển chủ yếu trên các macma và trầm tích. Địa hình xâm thực trên đá macma của phức hệ sông Mã và phức hệ Phia bioc pha. Các sườn dốc nhóm này phát triển ở độ cao tương đối khoảng 700m - 1.000m. Bề mặt sườn thường thẳng hoặc hơi uốn lượn, góc dốc sườn tăng dần lên trên tới khoảng 300. Mức xâm thực sâu thường khá cao, tới 200m - 700m, trong khi mạng lưới sông suối lại không phát triển. Bề mặt sườn lộ đầy đá gốc bị dập vỡ, chia cắt, đôi khi được lớp đất mỏng màu nâu vàng che phủ.

Địa hình xâm thực phát triển trên đá trầm tích của hệ tầng sông Mã (Cambri giữa Î2 sm), hệ tầng Hàm Rồng (Î3 - O1hr), hệ tầng La Khê (C1lk), hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs), hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn), hệ tầng Đồng Trầu (T2a đt). Các kiểu địa hình trên đá lục nguyên có thể được chia nhỏ thêm thành các nhóm phụ sau: Các bề mặt san bằng, vạt gấu (pediments), sườn xâm thực tổng hợp, sườn xâm thực do các rãnh xói hoặc nước chảy tràn trên mặt;

Bề mặt san bằng: Tàn dư của các bề mặt san bằng thấy khá nhiều trên các đỉnh hoặc sườn núi ở các mức độ cao khác nhau, khiến cho địa hình trong vùng có dạng bậc, chẳng hạn như các bậc 900m - 1.200m, 600m - 800m và 300m - 500m. Bề mặt chúng hơi lượn sóng, được phủ một lớp mỏng sườn tích, tàn tích hoặc sản phẩm phong hóa bở rời.

Vạt gấu là một dạng bề mặt san bằng thấp, chưa hoàn chỉnh, chủ yếu do nước chảy trên mặt các đá lục nguyên. Có hai loại vạt gấu là vạt gấu thung lũng và vạt gấu trước núi, ở dạng các dãy đồi thấp (300m - 500m), có đỉnh tròn, sườn thoải. Vạt gấu trước núi thấy ở dạng các đồi thoải dưới chân núi.

Sườn xâm thực tổng hợp hình thành do nhiều yếu tố như gió, nước chảy bề mặt hoặc trọng lực... nhưng không yếu tố nào được coi là chủ yếu. Các sườn kiểu này thường thẳng, không dốc hơn 200 và thường không có rãnh xói. Bề mặt chúng thường được phủ bởi tàn tích, sườn tích, đôi chỗ bởi lớp vỏ phong hóa mạnh của đá gốc; Sườn xâm thực do rãnh xói hoặc nước chảy bề mặt phát triển ở thấp hơn một chút so với sườn xâm thực tổng hợp, với góc dốc khoảng 20 - 400, bị xâm thực và biến dạng thành các bậc ở độ cao 300m - 500m; 600m - 800m và 900m - 1.200m. Rãnh xói thường thấy ở các dạng song song, tỏa tia hoặc lượn sóng, trong khi các thung lũng thường có dạng “chữ V”. Những sườn kiểu này thấy ở Trung Xuân, Trung Thượng, Sơn Hà, Tam Thanh... Sườn xâm thực do rãnh xói có thể nhận thấy dễ dàng qua mạng lưới dày đặc các dòng chảy bậc cao. Bề mặt sườn dốc thường uốn cong lên, dốc dần lên đỉnh tới trên 300, hơi lượn sóng và bị chia cắt mạnh mẽ bởi các rãnh xói. Các rãnh xói thường có dạng tỏa tia, dạng cành cây trong khi các thung lũng thường có dạng “chữ V” hoặc thậm chí “chữ U”.

Sườn trọng lực: Sườn trọng lực dễ thấy nhất trên đá gốc cứng, giòn, dập vỡ mạnh dọc các thung lũng sông suối lớn và trên sườn các cao nguyên đá vôi, bị nâng mạnh trong giai đoạn tân kiến tạo. Sườn trọng lực thường phân cắt yếu với các vách dốc (>600) và tích tụ vật liệu trượt ở chân dốc. 

1.2.2.3. Địa hình cacxtơ và cacxtơ - xâm thực

Chúng chủ yếu tập trung ở phía bắc Quốc lộ 217 thuộc các xã: Sơn Điện, Sơn Thủy, Sơn Lư... Địa hình kiểu này có sườn rất dốc, tạo nên chuỗi các tháp karst cao thấp không đều rất độc đáo xen giữa các thung lũng karst - xâm thực hẹp, song song cùng phương. Mạng lưới dòng chảy mặt không phát triển nhưng lại có nhiều hố sụt hoặc dãy các phễu sụt cũng chạy dài theo phương đông - tây. Ở nơi giao cắt giữa các thung lũng karst - xâm thực đôi khi hình thành nên các cánh đồng karst rộng 1 - 2km với dòng chảy mặt thường xuyên.

Thung lũng cacxtơ có dạng chữ U phân tách các khối cacxtơ. Thung lũng thường khô, hẹp, dốc đứng với lớp phủ đất đỏ “terrarosa” tích tụ dưới chân. Ngoài ra, trên các trũng sụt kéo dài, ở nơi đá vôi xen kẹp với các đá lục nguyên khác cũng phát triển các đồi karst dạng nón, sườn không dốc mà lại được phủ bởi đất tàn tích. Chúng phân bố rải rác làm nên địa hình karst tàn dư, rất điển hình ở Sơn Điện, Sơn Thủy.

1.2.2.4. Địa hình tích tụ

Thuộc nhóm địa hình này có bãi bồi, thềm tích tụ bậc I và bậc II, thềm xâm thực bậc III và IV, các nón sườn tích và lũ tích... hình thành chủ yếu do tác động của các dòng chảy thường xuyên, tạm thời và ít hơn là các quá trình trọng lực.

Bãi bồi phát triển liên tục dọc sông Luồng, sông Lò và các dòng suối lớn khác, thường bị ngập trong mùa mưa lũ. Dạng địa hình này thường chỉ rộng 10 - 15m, dày 0,5 - 1,0m, chủ yếu gồm cuội sỏi, cát sạn, sét bột bở rời...

Thềm tích tụ bậc I, phát triển không liên tục dọc sông Luồng, sông Lò, cao khoảng 5 - 12m, rộng khoảng 20 - 100m và dài vài trăm km. Bề mặt thềm khá phẳng, hơi lượn sóng do phân cắt trung bình (0,7 - 1,2km/km2) và chúng thường cấu tạo bởi bột cát và sét, cuội sỏi và tảng, dày 2 - 4m, nằm phủ trên đá gốc là phiến sét phong hóa.

Thềm tích tụ - xâm thực bậc II, nằm cao hơn thềm bậc I khoảng 1 - 3m và tồn tại dọc sông Luồng, sông Lò.

Thềm xâm thực bậc III và IV chỉ còn sót lại dọc sông Lò, sông Luồng, nằm cao hơn mực nước sông khoảng 60 - 80m ở dạng đồi thoải, lộ toàn đá gốc phong hóa.

Các nón tích tụ sườn tích - lũ tích. Các nón tích tụ cả cổ lẫn hiện đại phát triển khá rộng rãi trên địa bàn huyện. Các hiện tượng xói rửa, bóc mòn, trượt lở hiện nay vẫn tiếp tục xảy ra, để lại dọc Quốc lộ 217 vô số tảng lăn, nhiều khi phá hủy, làm ách tắc đường, cuốn theo nhiều vạt nương rẫy. Các nón tích tụ sườn và lũ tích quy mô nhỏ hơn cũng khá phát triển ở cửa các dòng chảy tạm thời, gồm nhiều loại tảng, dăm hỗn độn.

1.3. ĐỊA CHẤT VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

Theo Bản đồ Địa chất và Khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1: 200.000 của Cục Địa chất Việt Nam xuất bản năm 1995 thì đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa là đứt gãy sâu phân miền kiến tạo đi qua lãnh thổ Quan Sơn và chia Quan Sơn thành hai miền kiến tạo với những đặc điểm địa tầng, hoạt động macma và thạch học khác nhau: Đới phức nếp lồi sông Mã ở phía bắc và đới võng chồng Sầm Nưa ở phía nam. Hướng chạy của đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa gần trùng với tuyến đường 217.

Đáng chú ý là hiện nay đứt gãy này vẫn đang hoạt động, gắn liền với vận động Tân kiến tạo và sự chuyển dịch của các kiến trúc địa chất của miền Tây Bắc Bộ. Đấy chính là nguyên nhân làm cho lãnh thổ Quan Sơn nói riêng và khu vực Mường Lát, Quan Hóa, Lang Chánh, Bá Thước vẫn thường xuyên xảy ra động đất cấp 3, cấp 4 độ richter. Chẳng hạn như trận động đất lúc 21 giờ ngày 13/3/2015 có cường độ 2,9 độ richter, độ sâu chấn tiêu khoảng 8km tại các xã Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Thủy... Trận động đất xảy ra lúc 19 giờ 38 phút ngày 19/01/2015 tại vị trí khu vực giữa xã Nam Động, huyện Quan Hóa và Sơn Điện, huyện Quan Sơn, độ sâu chấn tiêu là 10km, cường độ 3 độ richter. Trong năm 2010, trên địa bàn huyện cũng đã xảy ra 3 trận động đất, với cường độ từ 3,5 - 4 độ richter. Các trận động đất gây ra tình trạng sụt, lở đất, đá, xuất hiện hố tử thần, đổ nhà và phá hoại các công trình xây dựng...

1.3.1. Địa tầng

Địa tầng (các tầng đất đá) - dấu ấn của hoạt động địa chất trong quá khứ. Phía bắc đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa thống trị chủ yếu là các hệ tầng của đới phức nếp lồi sông Mã như: Hệ tầng Hàm Rồng, hệ tầng sông Mã, hệ tầng Bắc Sơn và hệ tầng La Khê. Phía nam đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa có sự thống trị của các hệ tầng thuộc võng chống Sầm Nưa: hệ tầng Huổi Nhị và hệ tầng Đồng Trầu.

Đới phức nếp lõi sông Mã gồm các hệ tầng:

Hệ tầng sông Mã (Cambri giữa Î2sm) chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ tại đông bắc xã Trung Xuân. Bề dày của hệ tầng 500m - 600m và cấu tạo bởi đá phiến thạch anh chứa cuội thạch anh, đá phiến thạch anh sericit xen các lớp mỏng đá vôi tái kết tinh.

Hệ tầng Hàm Rồng (Î3 -O1hr): dày 650m - 850m cấu tạo bởi đá phiến sericit, đá phiến thạch anh sericit xen đá vôi phân lớp trung bình. Hệ tầng này chiếm diện tích rất lớn tại Mường Lát và Quan Hóa. Tại Quan Sơn chỉ có một diện tích nhỏ thuộc đông bắc xã Trung Xuân.

Hệ tầng La Khê (C1lk): gồm cát kết dạng quarzit, đá phiến silic, đá vôi silic. Độ dày 115 m. Hệ tầng này chủ yếu phân bố ở nơi tiếp xúc của hệ tầng Bắc Sơn với tập nham granit biotit và granit hai mica của phức hệ Phia bioc pha 1 (T3n pb1); hoặc tại đới tiếp xúc của hệ tầng Bắc Sơn với tạp nham cát kết, cát bột kết xen đá phiến sét và các thấu kính đá vôi đen phân lớp mỏng. Hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn). Chúng chiếm diện tích không lớn và phân bố rải rác tại các xã: Sơn Thủy, Sơn Điện, Trung Thượng và Trung Tiến.

Hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs): Tầng kiến trúc này gồm chủ yếu là đá vôi hệ tầng Bắc Sơn (C-P1 bs) dày trung bình 400m có nơi tới 800m - 900m, với xen kẽ luân phiên giữa đá vôi, đá vôi sét, đá vôi silic, dăm kết vôi màu xám, xám sẫm, phân lớp mỏng; đá vôi xám vàng, phân lớp dày; đá vôi dạng trứng cá bị hoang hóa; và đá vôi tái kết tinh dạng đường màu xám trắng, phân lớp dày, cùng tạo nên cánh của một nếp lõm lớn, cắm thoải 20 - 400 về phía đông bắc. Tầng kiến trúc này phân bố trên địa bàn rất rộng chiếm tới gần 1/5 diện tích huyện Quan Sơn và phân bố khá liên tục trên địa bàn các xã phía bắc Quốc lộ 217: Na Mèo, Sơn Thủy, Sơn Điện, Trung Thượng và Trung Tiến. Chuyển động nâng nhanh và các quá trình xói mòn mạnh mẽ đã làm nên cái gọi là “rừng đá” trên các diện lộ đá vôi này, với các đỉnh nhọn nhô lên sàn sàn nhau trên nền của các cánh đồng karst bên dưới.

Đới võng chồng Sầm Nưa gồm các hệ tầng sau:

Hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn): Có bề dày hơn 1.000m, cấu tạo bởi cát kết, cát bột kết xen đá phiến sét và các thấu kính đá vôi đen phân lớp mỏng. Hệ tầng Huổi Nhị phân bố ngay sát rìa Nam của đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa, chiếm khoảng 1/6 diện tích huyện Quan Sơn và phân bố khá liên tục dọc hai bên Quốc lộ 217 chạy từ Biên giới Việt - Lào tới phía đông nam huyện chạy qua rìa Tây thung lũng sông Âm ở Lang Chánh, Ngọc Lặc, tới Thường Xuân và chìm xuống các hệ tầng trẻ hơn ở lòng hồ Cửa Đặt. Ngoài ra hệ tầng này còn phân bố rải rác, xen kép giữa các địa phân bố của các hệ tầng: Hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs), hệ tầng La Khê (C1lk) và đá xâm nhập Phức hệ Phia bioc pha 1 (T3n pb1) ở phía bắc đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa.

Hệ tầng Đồng Trầu (T2a đt), chiếm gần 1/4 diện tích và phân bố chủ yếu ở phía nam của huyện. Hệ tầng này phân bố song song với hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn và chạy dọc theo biên giới Việt - Lào tạo thành một dải tương đối liên tục từ các xã Na Mèo, Mường Mìn, Sơn Điện, Tam Thanh, Tam Lư, Sơn Hà và sau đó qua lãnh thổ Lang Chánh. Vận động kiến tạo nâng hệ tầng này lên rất mạnh và tạo thành những đỉnh núi cao trên 1.000m chạy dọc theo biên giới Việt - Lào (phía tây nam của Quan Sơn). Hệ tầng Đồng Trầu gồm 2 phân hệ tầng:

T2ađt1: Phân hệ tầng dưới, bề dày 700 - 800m cấu tạo bởi cát kết, cát kết tuf, cát bột kết xen ryolit và thấu kính cuội kết, sạn kết.

T2ađt2: Phân hệ tầng trên dày 500 - 600m, cấu tạo bởi cát bột kết, cát kết tuf, xen ít đá vôi phân lớp mỏng.

1.3.2. Lịch sử địa chất  - kiến tạo

Trên bình đồ địa chất - kiến tạo, Thanh Hóa là một bộ phận của đới phức nếp lồi sông Mã và đới võng chồng Sầm Nưa. Ranh giới của đới võng chồng Sầm Nưa và đới phức nếp lồi sông Mã là đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa. Các đơn vị cấu trúc trên đây lại là một bộ phận của vùng biển cổ Tetit - một vùng biển cổ nằm giữa lục địa cổ Âu - Á ở phía bắc và lục địa Gônvana ở phía Nam. Quá trình phát triển lâu dài qua nhiều giai đoạn khác nhau của mỗi đới kiến tạo trên đây là nguyên nhân cơ bản hình thành những đặc điểm của lãnh thổ Thanh Hóa và Quan Sơn ngày nay.

Lãnh thổ Quan Sơn cũng thuộc 2 đới kiến tạo lớn quy mô khu vực là: Đới phức nếp lồi sông Mã ở phía bắc và đới võng chồng Sầm Nưa ở phía nam, ngăn cách nhau bởi đứt gãy sâu Điện Biên - Núi Nưa nổi tiếng phương tây bắc - đông nam. Lịch sử kiến tạo - địa chất của Quan Sơn diễn ra theo các giai đoạn sau đây:

Giai đoạn Tiền Cambri (Cách đây khoảng 550 - 570 triệu năm). Cũng như toàn bộ Việt Nam, lãnh thổ Thanh Hóa là một vũng biển rộng lớn, chỉ nhô lên một vài đảo nhỏ. Các mỏm nhô cổ ấy còn tồn tại đến ngày nay hiện có mặt ở Mường Lát, Quan Hóa, núi Trường Lệ (Sầm Sơn) và núi Hoằng Trường (Hoằng Hóa). Một diện tích rất nhỏ phía bắc Quan Sơn là rìa Nam của đảo cổ Mường Lát. Phần lớn diện tích còn lại lúc này còn đang nằm dưới biển và chịu tác động của quá trình lắng đọng trầm tích.

Giai đoạn Cổ sinh (Cách đây từ 270 đến 550 triệu năm). Giai đoạn này có chu kỳ kiến tạo Calêđôni và Hecxini. Chu kỳ tạo núi Calêđôni (từ Cambri tới hết Silua - cách đây từ 420 đến 570 triệu năm) có hai pha: pha sụt lún để lắng đọng trầm tích kéo dài từ Cambri đến O2 và pha uốn nếp kéo dài từ O3 đến S2. Lãnh thổ Quan Sơn lúc này cũng đang nằm trong quá trình nhận trầm tích lắng đọng để hình thành các thành hệ trầm tích từ O3 - S1 của hệ tầng sông Cả với thành hệ đá phiến sericit, đá phiến thạch anh sericit xen đá vôi phân lớp trung bình.

Chu kỳ kiến tạo Hecxini kéo dài từ Dêvôn hạ đến hết Pecmi thượng (cách đây từ 270 đến 400 triệu năm). Vào D1 có hiện tượng biển tiến mạnh tại các khu vực ven rìa đới phức nếp lồi sông Mã. Trong khi ở đới võng chồng Sầm Nưa vẫn là chế độ biển. Theo S.K Kitôvani (1964), trong khi hầu hết lãnh thổ Thanh Hóa là vùng biển lắng đọng trầm tích, thì Quan Sơn (cùng với Mường Lát, Quan Hóa) đã trở thành lục địa. Đến giai đoạn D2 - P, miền núi Thanh Hóa, trong đó có Quan Sơn lại bị lún chìm để lắng đọng thành hệ trầm tích đá vôi (ở phía bắc đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa) và đá phiến sét, đá vôi, cát kết ở phía nam đứt gãy này.

Giai đoạn Trung sinh (Cách đây từ 65 đến 270 triệu năm). Giai đoạn này có chu kỳ kiến tạo Inđôxini và kimeri. Chu kỳ Inđôxini diễn ra trong thời gian tương đối ngắn (chỉ khoảng 40 triệu năm) nhưng là chu kỳ quan trọng nhất trong việc hình thành lãnh thổ Việt Nam, Thanh Hóa nói chung và Quan Sơn nói riêng. Nguồn gốc của vận động này chủ yếu có sự liên quan trực tiếp với sự tiến lại gần nhau và xô húc của hai mảng lục địa Ấn Độ ở phía nam và Âu - Á ở phía bắc. Vào đầu chu kỳ, lục địa Cổ sinh bị phân cắt do sự xuất hiện một mạng lưới các đứt gãy mới và sự hồi sinh các đứt gãy cũ tạo nên hàng loạt vùng nâng và sụt có kích thước nhỏ hơn. Lúc này, ở phía bắc Thanh Hóa, địa máng sông Đà sụt lún trước, từ T1 đầu T3 và sụt lún rất mạnh, biển tiến cực đại vào T2a, tốc độ có thể đạt 0,18 - 0,20mm/năm. Đới võng chồng Sầm Nưa trong đó có Quan Sơn bị sụt lún muộn hơn, với tốc độ dưới 0,18mm/năm.

Vào T3 - nr (Triat muộn kỳ nori) có hiện tượng uốn nếp ở địa máng sông Đà và võng chồng Sầm Nưa. Đới sông Mã có lẽ uốn nếp sớm hơn (cuối T2 ?). Hoạt động macma cũng đã diễn ra để hình thành các khối macma xâm nhập thuộc Phức hệ sông Mã pha 1 (yt T2 sm1) ở phía nam và Phức hệ Phia bioc pha 1 (T3n pb1) ở phía bắc Quốc lộ 217. Cho đến trước Nêôgen, giai đoạn tổng nâng là chủ yếu, làm cho biển lùi và Quan Sơn là lục địa, chịu tác động rửa xói.

Theo S.K Kitovani (1964), vào T1 lãnh thổ Thanh Hóa thuộc phạm vi đới phức nếp lồi sông Mã là lục địa và chịu tác động rửa xói, còn võng chồng Sầm Nưa là vùng biển lắng đọng phiến sét, cát kết. Nhưng vào T3 đầu kỳ Nori, lãnh thổ Thanh Hóa lại bị biển bao phủ, chỉ có mỏm cực Tây thuộc huyện Mường Lát và Vịnh Bắc Bộ là lục địa chịu tác động của quá trình rửa xói. Sang Đệ Tam toàn bộ lãnh thổ Quan Sơn là lục địa, chịu tác động rửa xói.

Giai đoạn Tân sinh bắt đầu từ kỷ Đệ tam cũ (Palêôgen) - cách đây 65 triệu năm và kéo dài đến ngày nay. Trong suốt 40 triệu năm đầu tiên (kỷ Palêôgen) đã diễn ra quá trình bán bình nguyên hóa. Sau sự kiện xô húc vào Trung sinh, đến giai đoạn này diễn ra sự sáp vào nhau của hai mảng lục địa Ấn Độ và Âu - Á (kết quả là hình thành dãy núi Hymalaya vĩ đại). Chính đây là nguyên nhân làm nảy sinh vận động Tân kiến tạo và được bắt đầu từ Nêôgen (cách đây 25 triệu năm). Chúng đã làm làm trẻ lại các bán bình nguyên cổ hình thành vào Palêôgen, bóc mòn các nếp núi hình thành trong Trung sinh, chia cắt, hạ thấp địa hình và san bằng các chỗ lõm, làm sụt lún mạnh Vịnh Bắc Bộ và khu vực đồng bằng Thanh Hóa (Vào Plêixtôxen giữa - Plêixtôxen muộn, cách đây 700.000 đến 300.000 năm) tạo điều kiện để lắng đọng vật liệu hình thành đồng bằng Thanh Hóa ngày nay. Vận động Tân kiến tạo trong giai đoạn này diễn ra theo 6 chu kỳ và kết quả đã để lại trên lãnh thổ Thanh Hóa các bậc địa hình có độ cao khác nhau: 1.500 - 1.800m, 1.000 - 1.400m, 600 - 900m, 200 - 600m, 25 - 100m và các bậc thềm sông - biển 15 - 20m, 10 - 12m, 6 - 8m và 4 - 5m. Tại Quan Sơn ngày nay vẫn còn bảo lưu các bề mặt san bằng cổ với các độ cao 1.000 - 1.400m, 600 - 800m và 300 - 500m. Vận động Tân kiến tạo ngày nay vẫn còn tiếp diễn, động đất vẫn thường xảy ra và chúng ta cũng khó lòng mà hình dung được những đặc điểm của địa hình và mạng lưới thủy văn ở Quan Sơn trong nhiều triệu năm nữa.

1.3.3. Các thành tạo macma

Phức hệ sông Mã (yaT2 sm1): phân bố dọc đứt gãy chạy từ bản Bin (xã Sơn Lư) tới bản Lầu (xã Sơn Hà). Chúng được cấu tạo bởi granit biotit dạng porphyr, granođiorit horblend - biotit porphyr và lộ diện ở 4 điểm nằm xen kẽ trong khu vực phân bố của hệ tầng Huổi Nhị (S2-D1 hn).

Phức hệ sông Mã pha 1 (yt T2 sm1): granit biotit dạng porphyr, granođiorit horblend - biotit porphyr. Phức hệ này phân bố gần như ở giữa hệ tầng Đồng Trầu (từ Na Mèo, Mường Mìn), đến khu vực các xã Sơn Điện và Tam Thanh thì phía nam là hệ tầng Đồng Trầu và phía đông bắc là hệ tầng Huổi Nhị.

Phức hệ Phia bioc pha 1 (T3n pb1): gồm granit biotit và granit hai mica. Trên lãnh thổ Quan Sơn chúng phân bố chủ yếu ở phía bắc đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa và có mặt ở hầu hết các xã trong khu vực này. Ngoài ra phía nam đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa cũng có một diện lộ chạy từ bản Bàng (Trung Thượng) về hướng đông nam tới tận lãnh thổ Lang Chánh.

1.3.4. Tài nguyên khoáng sản

Điểm sắt bản Muống, xã Sơn Thủy. Tọa độ trung tâm (VN 2.000): X= 04 74 591, Y= 22 50 094. Quặng phân bố ở sư­ờn núi thuộc làng Muống, xã Sơn Thủy. Thân quặng có dạng thấu kính dài khoảng 30m, dày từ 2 - 3m kéo dài theo phư­ơng 400 - 2.200, thế nằm 3.100Ð850. Quặng manhêtít có màu đen đặc xít, nằm trong đới tiếp xúc giữa đá granit và các trầm tích lục nguyên. Quặng chư­a bị phá hủy nên phần quặng lăn rất ít. Hàm l­ượng Fe: Cao nhất: 68,10%, Thấp nhất: 16,56%, Trung bình: 52,44%. Trữ lượng 2.000 tấn có thể sử dụng cho luyện kim.

 Điểm sắt bản Sủa, xã Sơn Điện. Tọa độ trung tâm (VN 2.000): X= 04 84 441,Y = 22 47 041. Quặng dư­ới dạng lăn trên s­ườn đồi thuộc đội 1, bản Sủa, xã Sơn Điện và d­ưới chân của đá vôi, diện tích lăn khoảng 1.000m2, dài 100m, rộng 10m. Kích thư­ớc quặng lăn đường kính từ 1,2 - 50cm; hầu hết đã bị phong hóa. Quặng có màu nâu vàng, từ tính yếu. Hàm suất quặng: 10%. Hàm l­ượng quặng Fe: Cao nhất: 50,42%, Thấp nhất: 14,70%, Trung bình: 32,08%. Trữ lượng 3.000 tấn có thể sử dụng làm phụ gia.

Ngoài ra, trên địa bàn huyện Quan Sơn có các loại khoáng sản: Mỏ chì, kẽm ở xã Sơn Thủy, chì, bạc ở xã Sơn Hà, sắt ở xã Tam Lư, Molipden ở xã Mường Mìn, Graphit ở xã Na Mèo, về trữ lượng chưa xác định. Huyện Quan Sơn có nguồn tài nguyên khoáng sản chủ yếu là cát vàng từ các sông suối với chất lượng tốt, đảm bảo xây các công trình nhà cửa kiên cố, cầu, đường; Sỏi khai thác ven các suối và 2 con sông Lò, sông Luồng; Đá có nhiều núi đá dọc tuyến đường 217 và các đường liên xã, đường vành đai biên giới, đường tuần tra biên giới, trong đó nhiều núi đá đen đạt tiêu chuẩn xây dựng công trình kiên cố có thể xay thành đá 1×2, đá mạt, đảm bảo yêu cầu chất lượng công trình cao cấp.

1.4. ĐẤT ĐAI, THỔ NHƯỠNG

1.4.1. Đá gốc (đá mẹ)

Lãnh thổ Quan Sơn có ba nhóm đá mẹ (thường gọi là đá gốc) là cơ sở để hình thành lớp vỏ phong hóa và cùng với các nhân tố tự nhiên khác: khí hậu, sinh vật, thủy văn, địa hình để hình thành các loại đất khác nhau.

Nhóm đá trầm tích: có đá vôi, sa thạch, phiến thạch, sét...

Nhóm đá biến chất có gnai, phiến thạch mica,...

Nhóm đá macma: gồm đá gabro, granit, fooc phia rit...

1.4.2. Đặc điểm các loại đất

Địa hình toàn huyện chủ yếu là núi cao và vừa thuộc các thung lũng sông Lò và sông Luồng, thấp dần theo hướng tây nam - đông bắc. Diện tích đồi núi chiếm khoảng 91%, còn lại xen kẽ là những thung lũng nhỏ, khu vực đất thấp tương đối bằng chủ yếu nằm dọc theo sông Lò và sông Luồng. Diện tích đất của Quan Sơn phân theo độ dốc địa hình bao gồm:

- Đất có độ dốc cấp I (< 30): 5ha chiếm 0,005% diện tích tự nhiên. Đất có độ dốc cấp II (4 - 80): 215ha chiếm 0,23%

- Đất có độ dốc cấp III (9 - 150): 2.285ha chiếm 2,46%

- Đất có độ dốc cấp IV,V,VI (> 150): 84.837ha chiếm 91,36%

Quan Sơn có các nhóm đất chính sau

Nhóm đất xám Ferralit điển hình (Fa, Fq, Fv): Diện tích 34.162,24ha, chiếm 36,73% diện tích tự nhiên, thường có ở độ dốc từ 80 trở lên. Loại đất này có đặc điểm tầng đất dày có thể đến vài mét, tỷ lệ sét cao (trên 50%) nên thành phần cơ giới nặng. Tuy nhiên, do cấu tượng tốt nên vẫn tơi xốp, thoáng khí. Đất giàu các cation Ca++, Mg++, Fe+++, Al+++, đạm và lân tổng số cao, nghèo kali. Nhưng lân dễ tiêu (P205) lại rất thấp, do lân thường kết hợp với Al và Fe ở dạng khó hoà tan: Al(PO4)3 và Fe(PO4)3. Tại nơi có độ dốc 8 - 150 nên trồng cây công nghiệp ngắn ngày, trên 150 nên trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, nông lâm kết hợp, lâm nghiệp. Khi khai thác cần phải có các biện pháp bảo vệ cho đất như chống xói mòn, giữ ẩm cho đất, bón lân, kali và cả đạm nếu cần thiết.

Đất xám Feralit giàu mùn (ACfa - hu): diện tích 18.769,79ha, chiếm 20,18% diện tích tự nhiên, phân bố ở độ dốc 3 - 150, thích hợp cho trồng cây hàng năm, cây lâu năm.

Đất xám Feralit đá lẫn nông (ACfa - L1): Diện tích 6.682,71ha, chiếm 7,18% diện tích tự nhiên. Thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn ngày ở nơi có độ dốc dưới 150 và trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, nông lâm kết hợp và trồng cây lâm nghiệp ở nơi có độ dốc trên 150. Loại đất này phát triển trên đá mẹ giàu sét (đá phiến sét) nên thành phần cơ giới nặng, kém tơi xốp. Đất có độ dày trung bình, phẫu diện đất phân tầng rất rõ. Khi mất lớp phủ rừng, đất rất dễ bị rửa trôi và bào mòn trong mùa mưa, do đó nếu không có biện pháp bảo vệ, đất sẽ bị nghèo đi nhanh chóng.

Đất xám giàu mùn điển hình (AChu - h): diện tích 19.025,97ha, chiếm 20,45% diện tích tự nhiên, thích hợp cho trồng cây hàng năm, cây lâu năm và cây lâm nghiệp.

Đất xám giàu mùn đá lẫn sâu (AChu - L2): diện tích 8.701,72ha, chiếm 9,35% diện tích tự nhiên, thích hợp cho trồng cây hàng năm, cây lâu năm và cây lâm nghiệp.

Nhóm đất mùn Halít trên núi cao (Ha; Hq), chiếm diện tích không lớn và phân bố chủ yếu ở các khu vực núi cao trên 1.000m. Do tác động của độ cao địa hình đã dẫn đến sự giảm nhiệt độ đồng thời lại tăng lượng mưa hạn chế tốc độ phong hóa, nhưng lại thuận lợi cho quá trình tích lũy mùn. Địa hình núi dốc làm cho phẫu diện đất mỏng đi, nhưng lại không có nước đọng, nên không có kết von đá ong và glây, phẫu diện đồng nhất. Lượng mùn có thể lên tới 5 - 8%, đặc biệt xuất hiện tầng thảm mục chưa phân giải triệt để (tầng A0). Đất ẩm, ngả sang màu vàng, phản ứng rất chua do axit mùn, độ pH xấp xỉ 4. Tại các khu vực có đất này, rừng tự nhiên thường phát triển mạnh, đất được che phủ, ít bị rửa trôi, xói mòn, tầng mùn khá dày, màu sắc đỏ sẫm hay đỏ nâu, tầng đất dày, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, đất xốp, giữ ẩm tốt, các chất dinh d­­ưỡng tổng số và chất dễ tiêu đều giàu. Cây trồng chủ yếu là cây lâm nghiệp, rừng gỗ, rừng tre nứa, hỗn giao, luồng... Loại đất này chỉ nên sử dụng vào mục đích nông nghiệp ở mức độ hạn chế. Nếu những khu vực độ dốc thấp có thể khai thác để trồng dược liệu, rau, quả có gốc xứ lạnh.

Nhóm đất Feralit biến đổi do trồng lúa (Fl) phân bố chủ yếu ven đồi do khai hoang xây dựng đồng ruộng sản xuất lương thực theo hệ thống ruộng bậc thang. Đây là loại đất được hình thành từ nguồn gốc ban đầu là các loại đất feralit khác nhau nhưng được sử dụng vào trồng lúa nước, cho nên thành phần đất đã thay đổi so với các loại đất feralit ban đầu. Nhìn chung, chúng đều ẩm, đôi chỗ có tầng đá ong với độ dày, mỏng khác nhau, trên cùng có tầng canh tác (dày 15 - 30 cm) và xuất hiện tầng đế dày.

- Nhóm đất phù sa bồi tụ ven sông, suối (FL): chiếm khoảng 1% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ven sông Luồng, sông Lò và rải rác ven một số suối lớn. Đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, độ phì khá cao, thích hợp trồng lúa, ngô, khoai, rau đậu, hiện chủ yếu đang trồng lúa, hoa màu.

Nhóm đất này gồm đất phù sa và đất dốc tụ. Đất phù sa bồi tụ ven sông, suối (Py) phân bố ven sông Luồng, sông Lò và một số suối lớn. Loại đất này có đặc điểm: tầng đất dày, thường xuyên được bổ sung một lớp phù sa vào mùa nư­­ớc lũ, thành phần tầng đất không đồng nhất, phụ thuộc vào thời gian và l­­ưu tốc của dòng chảy. Đất này rất tốt cả về lý lẫn hóa tính và rất thích hợp cho trồng lúa và rau màu. Tuy nhiên, cần chú ý bố trí cơ cấu cây trồng tránh mùa lũ.

Đất dốc tụ chân đồi (D): Loại đất này thường phân bố tại các vùng thấp ngay chân núi, chân đồi nên thành phần của nó gần gũi với thành phần của các sườn dưới, sườn giữa và xa hơn là sườn trên của các quả đồi, núi ngay trên đó. Tầng đất dày, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, đất chua, nghèo chất dinh dư­­ỡng. Hiện đang đ­­ược sử dụng để trồng lúa, màu và cây công nghiệp hàng năm.

 Nhóm đất glây (GL): diện tích chiếm khoảng 0,2% diện tích tự nhiên, phân bố ở các địa hình trũng, dốc tụ, bị ngập nước thường xuyên hoặc không thường xuyên, một số nơi được nhân dân cải tạo để trồng lúa 1 vụ.

1.4.3. Tình hình sử dụng đất

Trên địa bàn huyện Quan Sơn, diện tích đất tự nhiên giữa các xã không đồng đều. Các xã có diện tích tự nhiên lớn là xã Sơn Thủy; Na Mèo. Diện tích tự nhiên nhỏ là thị trấn Quan Sơn, xã Trung Hạ.

Bảng 1: Diện tích đất phân theo loại đất và phân theo xã, thị trấn

Đơn vị tính: ha

TT

Xã, thị trấn

Tổng số

Trong đó

Đất nông nghiệp

Đất phi nông nghiệp

Đất chưa sử dụng

 

Tổng số

92.662,5

81.337,5

2.574,56

8.750,44

1

Trung Xuân

4.908,39

4.349,04

157,07

402,28

2

Trung Hạ

3.473,02

3.236,87

216,45

19,70

3

Trung Tiến

4.005,46

3.760,87

138,90

105,69

4

Trung Thượng

5.617,85

5.109,52

163,38

344,95

5

Sơn Lư

4.557,24

4.059,87

167,08

330,29

6

Sơn Hà

8.896,37

8.560,59

157,30

178,48

7

Tam Lư

6.175,69

4.333,09

180,01

1.662,59

8

Tam Thanh

9.924,36

9.367,19

200,72

356,45

9

Sơn Điện

9.437,35

8.522,01

297,45

617,89

10

Mường Mìn

8.920,51

7.823,86

181,35

915,30

11

Sơn Thủy

13.157,79

11.008,03

271,63

1.878,13

12

Na Mèo

12.744,16

10.458,40

360,98

1.924,78

13

Thị trấn Quan Sơn

844,31

748,16

82,24

13,91

 

Bảng 2: Diễn biến sử dụng đất giai đoạn (2010 - 2014)

TT

Mục đích sử dụng

DT năm 2010 (ha)

CC

(%)

DT năm 2014 (ha)

CC

(%)

Tăng (+)
giảm (-)

 

Tổng diện tích đất của ĐVHC (1+2+3)

 

93.017,44

100

92.662,73

100

-354,71

1

Đất nông nghiệp

NNP

73.950,7

79,50

81.422,95

87,87

7.472,25

1.1

Đất sản xuất nông nghiệp

SXN

2.521,16

2,71

2.495,78

2,69

-25,38

1.1.1

Đất trồng cây hàng năm

CHN

1.544,37

1,66

1.547,5

1,67

3,13

1.1.1.1

Đất trồng lúa

LUA

1.195,1

1,28

1.209,28

1,31

14,18

1.1.1.2

Đất trồng cây hàng năm khác

HNK

349,27

0,38

338,24

0,37

-11,03

1.1.2

Đất trồng cây lâu năm

CLN

976,79

1,05

948,28

1,02

-28,51

1.2

Đất lâm nghiệp

LNP

71.359,8

76.72

78.854,63

85,10

7.494,83

1.2.1

Đất rừng sản xuất

RSX

35.804,46

38,49

43.171,12

46,59

7.366,66

1.2.2

Đất rừng phòng hộ

RPH

35.555,34

38,22

35.683,53

38,51

128,19

1.2.3

Đất rừng đặc dụng

RDD

 

0,00

 

0,00

 

1.3

Đất nuôi trồng thủy sản

NTS

69,83

0,08

72,49

0,08

2,66

1.4

Đất làm muối

LMU

 

0,00

 

0,00

 

1.5

Đất nông nghiệp khác

NKH

 

0,00

0,02

0,00

0,02

2

Đất phi nông nghiệp

PNN

2.688,84

2,89

2.689,83

2,90

0,99

2.1

Đất ở

OCT

367,07

0,39

393,77

0,42

26,7

2.1.1

Đất ở tại nông thôn

ONT

357,36

0,38

383,01

0,41

25,65

2.1.2

Đất ở tại đô thị

ODT

9,71

0,01

10,76

0,01

1,05

2.2

Đất chuyên dùng

CDG

550,69

0,59

774,59

0,84

223,9

2.2.1

Đất xây dựng trụ sở cơ quan

TSC

14,4

0,02

8,48

0,01

-5,92

2.2.2

Đất quốc phòng

CQP

11,93

0,01

74,52

0,08

62,59

2.2.3

Đất an ninh

CAN

0,25

0,00

1,78

0,00

1,53

2.2.4

Đất xây dựng công trình sự nghiệp

DSN

45,61

0,05

63,32

0,07

17,71

2.2.5

Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp

CSK

3,71

0,00

46,42

0,05

42,71

2.2.6

Đất có mục đích công cộng

CCC

500,65

0,54

580,08

0,63

79,43

2.3

Đất cơ sở tôn giáo

TON

 

0,00

 

0,00

 

2.4

Đất cơ sở tín ngưỡng

TIN

 

0,00

 

0,00

 

2.5

Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, NHT

NTD

230,27

0,25

226,81

0,24

-3,46

2.6

Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối

SON

1540,71

1,66

1.294,66

1,40

-246,05

2.7

Đất có mặt nước chuyên dùng

MNC

 

0,00

 

0,00

 

2.8

Đất phi nông nghiệp khác

PNK

 

0,00

 

0,00

 

3

Đất chưa sử dụng

CSD

16.377,49

17,61

8.549,96

9,23

-7.827,53

3.1

Đất bằng chưa sử dụng

BCS

426,46

0,46

347,25

0,37

-79,21

3.2

Đất đồi núi chưa sử dụng

DCS

14.520,29

15.61

7.946,09

8,58

-6.574,2

3.3

Núi đá không có rừng cây

NCS

1.430,74

1.54

256,62

0,28

-1.174,12

1.5. KHÍ HẬU
1.5.1. Đặc điểm chung

Do sự tác động của các nhân tố: vị trí địa lý, hoàn lưu gió mùa trong á địa ô gió mùa Trung - Ấn, quy mô lãnh thổ, sự tác động của hướng sơn văn và độ cao của địa hình mà Quan Sơn có đặc điểm khí hậu của khu vực miền núi Bắc Trung Bộ. Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, lạnh và mưa ít. Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam mưa nhiều, có gió Tây khô nóng.

Nhiệt độ trung bình năm 23 - 240C, mùa đông nhiệt độ trung bình tháng 1 khoảng 14 - 150C, nơi núi cao dưới 130C, có năm thấp nhất dưới 40C, mùa hè nhiệt độ trung bình tháng 7 khoảng 30 - 310C, cao nhất lên tới 38 - 400C.

Lượng mưa trung bình hàng năm khá cao 1.800 - 1.900mm nhưng phân bố không đều theo mùa. Mùa hè tháng 5 đến tháng 10, mưa nhiều chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm. Mùa đông mưa ít chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, ít mưa nhất vào tháng 12 và tháng 1 năm sau, lượng mưa trung bình tháng 20mm.

Tổng tích ôn trung bình năm 8.3000C - 8.5000C. Độ ẩm không khí trung bình 86%. Số giờ nắng hàng năm trung bình 1.700 - 1.800 giờ, tháng có nhiều ngày nắng là tháng 7, tháng có ít ngày nắng là các tháng 1, 2.

Bão xuất hiện vào tháng 7 đến tháng 10, trung bình hằng năm có 3 - 4 cơn bão kèm theo mưa to, tốc độ gió cao nhất lên đến 30m/s.

Đặc điểm khí hậu, thời tiết ở Quan Sơn nhìn chung tương đối ôn hòa, nhất là ở các đai núi cao, thuận lợi cho dân sinh và phát triển du lịch. Phát triển sản xuất đa dạng với nhiều loại cây trồng như luồng, thông, chè, cao su, mía, cây ăn quả, cây dược liệu. Nền nhiệt, ẩm cao có tác động mạnh đến thúc đẩy tăng năng suất cây trồng nhất là cây mía, tre luồng. Hạn chế lớn nhất về mùa đông ở Quan Sơn lượng mưa ít gây khô hạn ở nhiều nơi, vùng núi cao thường có sương giá, rét đậm rét hại xảy ra nhiều và kéo dài ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi. Mùa hè, có những đợt mưa bão lớn, gây lũ quét, lũ ống, sạt lở đất ảnh hưởng đến sản xuất, đi lại và sinh hoạt.

1.5.2. Các yếu tố của khí hậu

1.5.2.1. Chế độ bức xạ mặt trời, mây, nắng

Hằng năm lãnh thổ Quan Sơn có 2 lần mặt trời đi qua thiên đỉnh. Độ cao mặt trời lớn nhất vào tháng 5: 88011’ và nhỏ nhất vào tháng 12: 46023’.

Độ dài ngày lớn nhất vào tháng 6 (13 giờ 12 phút) và ngắn nhất vào tháng 10 (10 giờ 48 phút). Thời gian chiếu sáng trung bình hằng năm trên 4.400 giờ. Tuy nhiên, tại các thung lũng thời gian chiếu sáng thường thấp hơn 1 - 2 giờ mỗi ngày.

Lượng mây trung bình 7,5/10 - 8,0/10 bầu trời và tập trung nhiều vào những tháng cuối mùa đông và mùa xuân. Do có nhiều núi cao nên Quan Sơn có nhiều mây hơn các địa phương ở đồng bằng và ven biển.

Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1.684 giờ và ít thay đổi theo các khu vực trong huyện (trừ sự khác nhau giữa đỉnh núi và thung lũng), nhưng lại thay đổi theo mùa: cao nhất vào tháng 7 (235 giờ), sau đó là tháng 6 (200 giờ) và thấp nhất vào tháng 2, tháng 3 (chỉ khoảng 47 - 50 giờ).

Tổng lượng bức xạ hàng năm 100 - 120 kcal/cm2, ít biến đổi theo khu vực khác nhau của lãnh thổ (trừ sự khác nhau giữa đỉnh núi và thung lũng), nhưng lại thay đổi theo mùa. Tháng 5 có lượng tổng xạ cao nhất (trên 12,5 kcal/cm2) và thấp nhất là các tháng 1 - 2 (chỉ 6 kcal/cm2).

Cân bằng bức xạ trung bình năm là 65 - 80 kcal/cm2. Sự khác biệt cân bằng bức xạ giữa các tháng rất lớn. Tháng 5 có cân bằng bức xạ lớn nhất (9,52 kcal/cm2) và tháng 1 chỉ có 2,71 kcal/cm2.

1.5.2.2. Chế độ gió

Các hệ thống gió mùa tác động quanh năm tới lãnh thổ Quan Sơn. Vào mùa đông hướng gió có thành phần thiên Bắc và thiên Đông chiếm ưu thế, các thành phần gió có hướng tây và Nam có tần suất rất nhỏ. Các trường hợp lăng gió có tần suất là 31%. Vào mùa hè, gió có thành phần Nam chiếm ưu thế. Tốc độ gió trung bình năm và trung bình các tháng chỉ dao động 1 - 2 m/giây và ít có sự khác biệt giữa các tháng trong năm. Tốc độ gió giảm dần từ Đông Nam lên Tây Bắc. Chẳng hạn vào tháng 10, tháng 11 tốc độ gió trung bình là 1,3 m/giây. Tuy nhiên, tốc độ gió cực đại ở Quan Sơn có thể đạt tới 40m/giây và thuộc thành phần thiên Đông vào những thời kỳ có nhiều bão. Còn hướng gió thay đổi phức tạp nhất là trong các cơn dông, lốc, xoáy.

1.5.2.3. Nhiệt độ không khí

Nhiệt độ không khí trung bình năm là 22,70C và sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng không lớn, trừ vùng núi cao, nhưng lại rất khác nhau theo mùa và các tháng trong năm.

Vào mùa nóng (từ tháng 3 đến tháng 8), nhiệt độ không khí đều cao hơn 200C, ba tháng nóng nhất là 5, 6, 7 đều trên 270C, nhiệt độ trung bình tháng 7 là 27,60C. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối ở các vùng của Quan Sơn đều dao động trong khoảng 39 - 400C và tập trung vào tháng 5, tháng 7.

Biên độ giao động năm của nhiệt độ là 6 - 80C. Biên độ giao động nhiệt ngày đêm cao nhất tới 11,40C vào tháng 2.

Các cực trị nhiệt độ cao nhất đạt gần 410C và xảy ra vào tháng 5, thấp nhất là 2,60C vào tháng 12, tháng 1 năm sau. Tại các đỉnh núi cao trên 1.100m vẫn có khả năng gặp nhiệt độ dưới 00C.

Tổng nhiệt độ hoạt động trong năm ở các thung lũng là 8.2850C và 7.000 - 7.5000C tại các đỉnh núi cao.

1.5.2.4. Chế độ mưa, ẩm và bốc hơi

Do nằm ở vị trí bị núi che khuất (về hướng đông nam) nên lượng mưa của Quan Sơn thấp hơn Lang Chánh. Lượng mưa trung bình năm của Quan Sơn dao động trong khoảng 1.600 - 1.800mm. Khu vực mưa ít nhất là thị trấn Quan Sơn dưới 1.600mm. Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 (tháng có lượng mưa trên 100mm). Tháng có lượng mưa < 100mm là tháng 12; 1; 2; 3 và tháng 4 năm sau. Số ngày mưa 194 ngày/năm, tháng có số ngày mưa nhiều nhất là các tháng 6, 7 và 8.

Độ ẩm tuyệt đối của không khí trung bình năm là 25mb, mùa khô là 16 - 21mb và mùa mư­­a là 28 - 32mb. Độ ẩm t­ương đối trung bình năm là 87%, vào đầu thời kỳ khô hanh có thể xuống tới 45%. L­­ượng bốc hơi trung bình năm là 792mm. Các tháng 5, 6 và 7 có lượng bốc hơi cao nhất và l­­ượng bốc hơi thấp nhất là vào các tháng 1, 2 và 3.

1.5.2.5. Thời tiết đặc biệt và thiên tai

Trung bình hàng năm có 3,11 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp vào Thanh Hóa. Tuy nhiên, do vị trí xa biển và địa hình thung lũng, nên bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng tới Quan Sơn không nhiều như các địa phương đồng bằng. Tác hại chủ yếu là gây mưa lớn, lũ quét, lũ ống.

Do nằm ở vị trí phía tây nên số ngày có gió tây khô nóng trung bình năm là 21,5 ngày/năm và gió tây khô nóng tác động tới Quan Sơn sớm hơn vùng đồng bằng khoảng ½ tháng. Gió tây khô nóng chi phối khá mạnh các đặc điểm tự nhiên và hoạt động sản xuất, sinh hoạt của Quan Sơn.

Gió mùa Đông Bắc mang tính chất lạnh khô vào đầu mùa đông và lạnh ẩm vào cuối mùa đông. Trung bình hằng năm, số đợt gió mùa Đông Bắc ở Quan Sơn là khoảng 18 đợt, chủ yếu vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

Dông: Trung bình hằng năm Quan Sơn có 53 - 55 ngày dông. Các tháng mùa hè có thể có tới 10 - 15 ngày dông/tháng.

Số ngày rét đậm có sương giá trung bình 5,4 ngày/năm; Số ngày có khả năng sương muối 1,2 ngày/năm (vào tháng 12 và tháng 1 năm sau);

Số ngày mưa phùn trung bình 48,2 ngày/năm (vào tháng 1 - 3);

Số ngày hanh heo trung bình 11,4 ngày/năm (vào tháng 11 - 12);

Trung bình cũng có 15 - 18 ngày có s­­ương mù và thường tập trung nhiều vào các tháng 1, 2 và 3.

Những đặc điểm trên đây của khí hậu cho phép Quan Sơn có thể tiến hành các hoạt động sản xuất và sinh hoạt quanh năm mà không bị gián đoạn bởi một mùa băng tuyết như ở các nước xứ lạnh; có thể phát triển được một nền lâm nghiệp, nông nghiệp nhiệt đới, với đặc điểm đa dạng cây trồng, vật nuôi, làm được nhiều vụ trong năm, thực hiện được các biện pháp xen canh, gối vụ, tăng vụ nhằm tăng năng suất và sản lượng trên một diện tích đất canh tác hạn chế ở một huyện miền núi. Với số giờ nắng lớn, cho phép đồng bào có thể phơi nông, lâm sản, lắp đặt các thiết bị làm nước nóng phục vụ sinh hoạt, hay sản xuất nguồn năng lượng sạch (điện Mặt Trời)... nhằm hạn chế sử dụng nguồn nhiên liệu từ rừng vốn đang có nguy cơ cạn kiệt và tài nguyên rừng còn có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau.

Tuy nhiên, nóng ẩm cao cũng làm cho sâu bệnh, dịch bệnh phát triển mạnh, nông sản khó bảo quản sau khi thu hoạch. Cường độ của những trận mưa nhiệt đới rất mạnh, kéo dài và tập trung làm cho quá trình xói mòn, rửa trôi diễn ra rất mãnh liệt, xuất hiện các trận lũ quét, lũ bùn đá, lũ ống gây thiệt hại lớn cho sinh hoạt và sản xuất. Những ngày có nhiều sương mù hạn chế tốc độ giao thông. Giông, tố lớn cũng gây ra nhiều thiệt hại về nhà cửa và hoa màu. Mùa khô có thể gây tình trạng thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt, dễ gây nguy cơ cháy rừng.

Bởi vậy, cần làm tốt công tác dự báo thời tiết, xây dựng lịch sản xuất, bố trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý... để hạn chế bớt tác động tiêu cực của khí hậu.

1.5.3. Sự phân hóa của khí hậu

1.5.3.1. Sự phân hóa theo các tháng trong năm

Tháng 1: là tháng rét nhất, với 3 - 4 đợt gió mùa Đông Bắc và 9 - 10 ngày rét đậm. Nhiệt độ trung bình 15,50 - 16,50C, thấp nhất trên núi cao có khi 20 - 30C và cao nhất 220 - 250C. Lư­ợng mư­a 10 - 40 mm, độ ẩm không khí 84 - 89%.

Tháng 2: Trời rét ẩm, nhiều ngày âm u và mư­­a phùn, có 3 - 4 đợt gió mùa Đông Bắc hoạt động với 6 - 8 ngày rét đậm, nhiệt độ trung bình 17 - 180C, thấp nhất 50 - 70C, cao nhất 230 - 270C. Lượng mư­­a 15 - 45mm, độ ẩm không khí 85 - 91%. Tổng số giờ nắng 30 - 70 giờ.

Tháng 3: Trời lạnh và rất ẩm, nhiều ngày có m­­ưa phùn, có 2 - 3 đợt gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình 190 - 200C, thấp nhất 80 - 100C, cao nhất 270 - 290C. Tổng lượng m­­ưa 30 - 60mm, độ ẩm 85 - 93%.

Tháng 4: có 2 - 3 đợt gió mùa Đông Bắc tràn về gây ra mư­­a rào và dông đầu mùa. Nhiệt độ trung bình 230 - 240C, thấp nhất 110 - 130C, cao nhất 310 - 330C. Tổng l­­ượng m­­ưa 40 - 90mm, độ ẩm không khí 84 - 92%. Tổng số giờ nắng 90 - 120 giờ.

Tháng 5: Tháng đầu mùa nóng và mùa mư­a, có 2 - 3 ngày có gió Tây khô nóng và 1 - 2 đợt gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình 270 - 280C, thấp nhất 140 - 160C, cao nhất 360 - 380C. L­­ượng mư­­a 110 - 230mm. Độ ẩm không khí trung bình 83 - 86%. Tổng số giờ nắng 170 - 220 giờ. Có khả năng xảy ra lũ Tiểu mãn.

Tháng 6: Trời rất nóng, có thể xuất hiện bão đầu mùa. Có 1 - 2 đợt không khí lạnh yếu tràn về. Nhiệt độ trung bình 28,50 - 29,50C, cao nhất 370 - 390C. Tổng l­ượng mưa 140 - 255mm. Độ ẩm không khí trung bình 80 - 85%. Tổng số giờ nắng 160 - 210 giờ. N­ước sông nâng lên nhiều và bắt đầu bước vào mùa lũ.

Tháng 7: là tháng nóng nhất và bắt đầu chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão. Trong tháng có 1 - 2 ngày m­­ưa rất to. Nhiệt độ không khí trung bình 290 - 300C, cao nhất 37,50 - 39,50C. Tổng l­ượng mư­­a 165 - 335mm. Độ ẩm không khí 79 - 86%. Tổng số giờ nắng 170 - 240 giờ.

Tháng 8: Có nhiều ngày mư­a to và rất to do chịu ảnh h­­ưởng của bão và áp thấp nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình 27,50 - 28,50C, cao nhất 360 - 380C. Tổng l­­ượng m­­ưa 450 - 330mm, độ ẩm không khí trung bình 85 - 88%. Khả năng xảy ra lũ quét, lũ ống, lũ bùn đá lớn. Tổng số giờ nắng 180 - 200 giờ. Các sông có lũ lớn.

Tháng 9: Là tháng có sự tác động bão và áp thấp nhiều nhất và tổng lượng mưa lớn nhất. Tổng l­­ượng m­­ưa 400 - 600mm, nhiệt độ trung bình 26,50 - 27,50C, cao nhất 340 - 360C. Tổng số giờ nắng 160 - 200 giờ. Khả năng xảy ra lũ quét, lũ ống, lũ bùn đá lớn. Có năm đã xuất hiện 1 - 2 đợt không khí lạnh đầu mùa tràn về.

Tháng 10: Thời tiết chuyển từ mùa nóng sang mùa lạnh, có 2 - 3 đợt gió mùa Đông Bắc tràn về. Nhiệt độ không khí trung bình 240 - 250C, thấp nhất 15 - 170C và cao nhất 310 - 330C. Tổng l­­ượng m­­ưa 160 - 400mm. Độ ẩm không khí 84 - 87%. Tổng số giờ nắng 120 - 170 giờ.

Tháng 11: Trời lạnh và khô hanh, có 2 - 3 đợt gió mùa Đông Bắc tràn về, gây ra 1 - 2 ngày rét đậm. Nhiệt độ không khí trung bình 21 - 220C, thấp nhất 100 - 120C và cao nhất 290 - 310C. Tổng l­­ượng mư­­a 40 - 110mm. Độ ẩm không khí 83 - 87%. Tổng số giờ nắng 110 - 150 giờ.

Tháng 12: Trời rét xen kẽ nhiều ngày khô hanh, có 3 - 4 đợt gió mùa Đông Bắc tràn về, gây ra 4 - 6 ngày rét đậm. Nhiệt độ không khí trung bình 180 - 190C, thấp nhất 60 - 80C, cao nhất 280 - 300C. Tổng số giờ nắng 120 - 140 giờ, l­­ượng mư­­a 15 - 35mm. Độ ẩm không khí trung bình 83 - 86%.

Sự phân hóa theo mùa, theo tháng của khí hậu Quan Sơn đã tạo nên sự thay đổi theo mùa của cảnh sắc thiên nhiên và các quá trình tự nhiên, làm cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người cũng in đậm nhịp điệu mùa. Đấy cũng là nền móng để tạo nên sự đa dạng về văn hóa của Quan Sơn. Đồng thời đặc điểm này cũng đòi hỏi phải làm tốt công tác dự báo thời tiết, xác lập nông lịch một cách khoa học và chính xác, xây dựng lịch canh tác cụ thể cho từng thời kỳ trong năm.

1.5.3.2. Phân hóa khí hậu theo đai cao (từ thấp lên cao)

Theo quy luật chung càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Đây là nguyên nhân làm cho Quan Sơn có 2 đai và 4 á đai khí hậu:

1. Đai nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ­­ướt chân núi từ 0m đến 750m. Đai này có hai á đai:

1a: Dưới 350m: Á đai nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ­­ướt chân núi có 1 tháng mùa đông rét (nhiệt độ dưới 150C). Á đai khí hậu này chiếm khoảng 15% diện tích của Quan Sơn và chủ yếu phân bố ở khu vực dọc thung lũng sông Luồng, sông Lò.

1b: Từ 350 - 750m: Á đai nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ư­­ớt chân núi có mùa đông rét (3 tháng nhiệt độ dưới 150C). Á đai khí hậu này chiếm khoảng 50% diện tích của Quan Sơn và chủ yếu phân bố ở khu vực trung tâm và phía đông, phía nam Quan Sơn.

2. Đai cận nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ­­ướt trên núi từ 700m đến 2.700m, với tổng nhiệt độ từ 4.500 - 7.5000C, t­­ương quan nhiệt ẩm trên 1,5 và có mùa hạ cận nhiệt đới mát, nhiệt độ trung bình năm d­ưới 220C. Đai có hai á đai:

2a: Từ 750 - 1.100m: Á đai chuyển tiếp từ nhiệt đới sang cận nhiệt đới. Á đai khí hậu này chiếm khoảng 28% diện tích của Quan Sơn và chủ yếu có ở biên giới Việt - Lào và địa giới Quan Sơn - Mường Lát.

2b: Từ 1.100 - 1.750m: Á đai cận nhiệt đới điển hình. Á đai khí hậu này chiếm khoảng 5% diện tích của Quan Sơn và chủ yếu phân bố ở biên giới Việt - Lào.

Sự phân hóa theo đai cao của khí hậu ở đây không chỉ tạo nên sự khác biệt lớn giữa khí hậu Quan Sơn với khí hậu các khu vực đồng bằng và ven biển mà còn tạo nên tính vành đai theo độ cao của các hoạt động sản xuất mà nhất là nông và lâm nghiệp. Trong khu vực nhiệt đới, khí hậu mát mẻ trên núi cao là một lợi thế cần được nghiên cứu khai thác, sử dụng.

1.6. TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ MẠNG LƯỚI SÔNG SUỐI

1.6.1. Tài nguyên nước

Một số thông số về tài nguyên nước của lãnh thổ Quan Sơn:

Tổng lượng nước mưa rơi xuống trung bình năm là 1,581 tỷ m3.

Tổng lượng nước bốc hơi trung bình năm là 0,736 tỷ m3.

Tổng lượng nước sinh ra dòng chảy ngầm: 0,210 tỷ m3

Tổng lượng nước sinh ra dòng chảy mặt: 0,635 tỷ m3.

Tổng trữ lượng ẩm của lãnh thổ là 0,845 tỷ m3

Theo số liệu tính toán trên thì tài nguyên n­ước của Quan Sơn rất phong phú. Trữ lượng nước ngọt tính theo đầu người của Quan Sơn là 17.500m3 nước/người. Trong khi trung bình cả nước chỉ 10.163m3/người.

Hằng năm, hệ thống sông của Quan Sơn vận chuyển trên 0,635 tỷ m3 nước.

Độ sâu lớp dòng chảy là 908mm, modul dòng chảy mặt trung bình là 37,9 lít/giây/km2. Chất l­­ượng n­­ước mặt khá tốt.

Modul dòng chảy ngầm biến thiên từ 2,5 l/s/km2 đến 19,0 l/s/km2. Nhìn chung chất l­­ượng n­­ước ngầm tốt, hầu như­­ ch­­ưa bị ô nhiễm.

1.6.2. Mạng lưới sông suối

1.6.2.1. Đặc điểm chung

Do cấu tạo địa hình và địa chất phức tạp, có nhiều núi cao, độ dốc lớn cùng với l­­ượng m­­ưa khá lớn nên Quan Sơn có mạng l­­ưới sông suối khá dày đặc. Toàn huyện có trên 300 khe, suối lớn nhỏ với tổng chiều dài của các khe, suối gần 1.000km. Mật độ lưới sông biến đổi từ 0,8 tới 1,3km/km2, trung bình là 1,05km/km2.

Phần lớn các sông trên địa phận Quan Sơn đều ngắn, dốc với độ dốc biến thiên từ 10,0 - 33,9%, lòng hẹp n­­ước chảy xiết, lắm ghềnh thác, mang tiềm năng thủy điện lớn, nhưng cũng thường xuyên gây ra lũ ống, lũ quét khi có mưa to. Các địa điểm đã xảy ra lũ quét trong những năm gần đây là bản Xộp Huổi (xã Na Mèo); bản Yên, bản Mìn (xã Mường Mìn); Km 35, bản Bon (xã Sơn Lư); bản Khạn, bản Bôn, bản Máy (xã Trung Thượng); bản Xày, bản Bá (xã Trung Hạ); bản Muống, bản Cạn, bản Phú Nam (xã Trung Xuân); bản Lầu (xã Sơn Hà); bản Muống, bản Hát (xã Tam Lư); bản Bôn (xã Tam Thanh); bản Chanh (xã Sơn Thủy).

Sông, suối Quan Sơn có nhiều n­­ước, nước chảy quanh năm, nh­­ưng lượng nước thay đổi theo mùa. Mùa kiệt từ tháng 12 đến đầu tháng 5 năm sau chỉ chiếm 20 - 30% tổng l­­ượng nư­­ớc, mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm tới 70 - 80% tổng lượng n­ư­ớc và đến chậm so với sông Mã từ nửa tháng đến 1 tháng. Các hệ thống sông ở Quan Sơn hằng năm vận chuyển ra biển 0,186 triệu tấn phù sa (modul xâm thực là 20 tấn/km2) cùng nhiều phù du sinh vật và các chất khoáng hòa tan trong nước.

Đáng chú ý là mạng lưới sông suối của Quan Sơn ít có giá trị giao thông. Trên nhiều vị trí, nhân dân đã đặt các guồng nước hoặc xây các đập dâng nước để lấy nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Hiện trên địa bàn huyện có trên 40 đập ngăn giữ nước phục vụ phát triển sản xuất và cấp nuớc sinh hoạt cho nhân dân.

1.6.2.2. Các hệ thống sông

Sông Lò

Sông Lò bắt nguồn từ Mường Pao, huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Đoạn nguồn ở đất Lào gọi là Nặm Pao. Đoạn chảy vào Việt Nam thuộc địa giới bản Kham, xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn, tiếng Thái gọi là Nặm Mò (sông chảy vào Mường Mò, xã Tam Thanh). Tiếng phổ thông gọi là sông Lò.

Sông Lò chảy qua huyện Quan Sơn dài trên 62km chạy qua các xã: Tam Thanh, Tam Lư, Sơn Lư, Sơn Hà, thị trấn Quan Sơn, xã Trung Thượng, Trung Tiến, Trung Hạ, Trung Xuân rồi đổ ra sông Mã ngoài Pha Lý, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.

Trên địa bàn huyện Quan Sơn, sông Lò được bổ sung nguồn nước từ hàng trăm con suối lớn nhỏ ở các địa bàn mà nó chảy qua. Trong đó có các suối lớn: suối Cáng, suối Pa, suối Khà, suối Tình, suối Tuốp (nguồn suối Tuốp là suối Sỏi), suối Hạ, suối Máy Bàng, suối Ngàm, suối Cum, suối Đe, suối Xày, suối Din, suối Bá, suối Phụn, suối Cắn, suối Túng, suối Pa O, suối Cạn, suối Dú, suối La.

Sông Lò chảy từ hướng tây - nam về hướng đông - bắc là con sông có nguồn nước tương đối lớn cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt, thủy lợi, nguồn lợi thủy sản phong phú đa dạng. Mỗi năm đồng bào các dân tộc dọc tuyến sông Lò đánh bắt được hàng chục tấn cá, ốc... Con sông Lò là mạch giao thông đường thủy chính vận chuyển hàng hóa lâm sản của đồng bào các xã dọc tuyến về Hồi Xuân, huyện bán cho nhà nước rồi mua hàng hóa vật tư về phục vụ đời sống sinh hoạt sản xuất canh tác của người dân.

Từ thập niên 70 của thế kỷ XX trở về trước, sông Lò có lưu lượng nước lớn, nhiều vụng nước sâu đến 10 sải tay người lớn (khoảng 16 - 17m độ sâu). Sông Lò có nhiều loài cá, trong đó nổi tiếng có loài cá Dốc, con to đến 15kg, cá Lăng, cá Ké, cá Chày vây đỏ to như cá Dốc, các loại cá nhỏ khác thì nhiều vô kể. Đây là nguồn lợi thủy sản lớn nuôi sống đồng bào dọc hai bên bờ sông. Cá sông Lò ngon, nhiều mỡ hơn cá sông Luồng do nhiều vụng nước sâu và trong veo, nước chảy chậm hơn sông Luồng.

Sông Lò gắn với nhiều dấu ấn lịch sử, danh thắng và những câu chuyện dân gian ly kỳ: Cầu Pha Lò tại Km 33 (từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên) nơi dân quân xã Trung Thượng bắn cháy máy bay F105 vào năm 1966, Km 35 nơi đặt thị trấn huyện lỵ Quan Sơn, nay có cây cầu bắc qua sông Lò; Động Nang Non (pha Su Lú) Km 39 núi đá giao với sông Lò tạo thành cảnh quan đẹp với hang động Nang Non kỳ vĩ; Noong Dạ là ao nước tự nhiên, quanh năm trong veo, ở đỉnh Pù Dạ, xã Trung Tiến; Vằng Hậu (Vụng Hậu) sông Lò ở bản Hậu, xã Tam Lư; Pù Kùn - Đỉnh Pù Kùn, bản Xum, xã Sơn Hà, nơi đó có “Bo Lồm” (Mỏ gió), một hang đất suốt ngày có gió thổi tuôn từ trong hang ra, người xưa truyền lại nếu ta thả một bó lá dong rừng xuống đó thì sau 7 ngày nó sẽ xuất hiện ở Vụng Hậu, bản Hậu, xã Tam Lư.

Trong những năm gần đây, do nhiều yếu tố tác động, sông Lò bị cạn hơn, chỗ sâu nhất chỉ vào khoảng 4 - 5m nước, cá đã giảm nhiều, cá Dốc, cá Chày, cá Ké to, nặng đến 10kg hầu như không còn. Nhưng cho đến nay, sông Lò vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống của nhân dân huyện Quan Sơn. Sông Lò là một biểu tượng đẹp, luôn sống mãi trong tâm thức, tình cảm của người dân các bản huyện Quan Sơn.

Sông Luồng

Sông Luồng do hai con suối lớn của Lào là Nặm Xôi và Nặm Pùn hợp nhau tại Cửa khẩu Quốc Tế Na Mèo tạo thành Nặm Tuông, tiếng phổ thông gọi là sông Luồng.

Sông Luồng có tổng chiều dài trên 106km, đoạn chảy qua huyện Quan Sơn dài 46km, chảy qua các xã Na Mèo, Sơn Thủy, Mường Mìn, Sơn Điện rồi về các xã Nam Động, Nam Tiến, Nam Xuân của huyện Quan Hóa, dài gần 60km. Sông Luồng đổ ra sông Mã tại hòn Đá Ngang (Cón hín khoáng) sộp Tuồng ngoài hang Ma, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.

Lưu lượng nước sông Luồng cũng ngang với sông Lò, nhưng dòng chảy ở địa phận Quan Sơn xiết hơn vì độ dốc cao hơn. Sông Luồng có hàng trăm con suối lớn nhỏ dẫn nước về sông, trong đó đáng kể nhất là các con suối lớn như: suối Sàng, suối Cài, suối Cha Khót, suối Son, suối Xia, suối Lế, suối Bóng, suối Yên, suối Nhài, suối Bun, suối Sủa (bản Na Phường, bản Sủa).

Trong các suối lớn đổ ra sông Luồng thì lớn nhất và dài nhất là suối Xia (dài khoảng 30km), bắt nguồn từ Lào, chạy qua Xia Nọi, đổ ra sông Luồng tại bản Thủy Sơn, xã Sơn Thủy.

Suối Yên bắt nguồn từ bản Yên, giáp với biên giới Việt - Lào đổ ra sông Luồng tại bản Chiềng (Mường Mìn) dài khoảng 25km. Trước đây các con suối này rất nhiều cá, có cả cá Dốc là loại cá chuyên ở nước sâu, nay nước suối Yên, suối Xia đã cạn, chỗ sâu nhất chỉ có 2 - 3m.

Sông Luồng từ Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo chảy theo hướng tây - đông, càng xuống hạ lưu thì lượng nước càng nhiều, sông càng rộng do nhiều con suối có nước đổ vào.

Cũng như sông Lò, trước thập niên 70, thế kỷ XX sông Luồng là mạch giao thông đường thủy quan trọng giúp đồng bào xuôi bè đưa lâm sản và hàng hóa về Hồi Xuân, Quan Hóa trao đổi, mua bán. Hai con sông Lò, sông Luồng mỗi năm đưa hàng triệu cây vầu, nứa, luồng, hàng ngàn mét khối gỗ từ thượng nguồn về Hồi Xuân bán cho nhà nước, do ngành lâm nghiệp tổ chức thu mua.

Sông Luồng có nguồn lợi thủy sản lớn, là nguồn nước giúp đồng bào làm thủy lợi tưới tiêu cho ruộng đồng dọc theo hai bờ sông. Sông Luồng có nhiều cảnh đẹp, nhiều thác nước gắn với những câu chuyện dân gian ly kỳ như “Vằng chạng nặm” (vụng Voi Nước), “vằng Xuốm” (vụng Xuốm), thác Nhài.

“Vằng chạng nặm” (vụng Voi Nước) ở bản Xuân Thành, xã Sơn Thủy gần bản Bo, xã Na Mèo, đây là vụng nước rộng, sâu, ngày xưa có hai con voi thường tắm mát ở đó, tương truyền rằng mỗi khi có người, nó lặn xuống chỗ sâu nhất ở ngay chỗ dòng nước lao vào núi đá cuộn thành vụng nước sâu khoảng 9 - 10 sải tay (15 - 17m).

“Vằng Xuốm” (vụng Xuốm) ở đoạn xã Mường Mìn sâu khoảng 10 - 12m nước, có hẻm đá là nơi ở của rồng, tiếng Thái gọi là “Nghém ngước”, dưới đáy hang sâu chảy dài khoảng 10m vào hang đá, chỗ này rất nhiều cá nhưng người không có tài không thể lặn xuống bắt cá được vì hai lý do. Một là nước sâu, hang dài, phải có hơi dài mới lặn xuống mà vào hang bắt cá được. Hai là sợ xuống đó gặp thuồng luồng. Nay vụng nước này đã bị nhiều cát, đá, gốc cây vùi lấp, nước đã cạn, chỉ còn sâu khoảng 4 - 5m, cá đã ít đi nhiều, thuồng luồng cũng không còn nữa.

Thác Nhài, đoạn sông Luồng chảy qua bản Nhài, xã Sơn Điện có một hòn đá rộng ở cuối thác đầu vũng nước, dưới hòn đá có một hang sâu vào núi. Tương truyền, trước đây người xuôi bè xuống đó thường bị con “Kô Kê” (bạch tuộc) đón sẵn ở tràn đá bắt ăn thịt. Người xuôi bè xuống đến gần đó phải dỡ bè ra, vác qua khúc sông ấy rồi đóng bè lại mới xuôi tiếp. Nếu ai làm liều xuôi bè xuống thác sẽ bị con Kô Kê ăn thịt. Vào khoảng thế kỷ XVII, con Kô Kê này đã chết do ăn thịt một bà lão người Xá (Khơ mú) chết trôi từ suối Yên ra, trong người bà có gói thuốc độc dùng để tẩm tên nỏ để bắn thú, con Kô Kê ăn phải đã chết, người dân cắt lấy đầu nó về trình tạo Mường Mìn, lúc đó là ông Mường Đồng ở bản Luốc Làu. Từ đó trở đi thác nước này không làm cho người xuôi bè sợ hãi nữa. Do Tạo Mường Mìn giữ đầu con Kô Kê nên năm đó thuồng luồng làm nước sông Luồng dâng lên ngập bản và nhà Tạo Mường bị cuốn ra sông Luồng, may mà tạo mường Mìn và một số dân thoát chết. Từ đó nhân dân đặt tên là bản “Ngước Làu” (thuồng luồng ăn), sau này gọi chệch đi là bản Luốc Làu, để khỏi bị ám ảnh, sợ hãi. Bản Luốc Làu nay thuộc xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn.

Còn nhiều cảnh đẹp và những câu chuyện ly kỳ liên quan đến dòng sông Luồng, như “Cánh mé nài” (Thác bà ngoại) ở bản Bau, xã Nam Động, “Cánh Luông”, “Cánh Tạng” ở bản Lở, xã Nam Động, hang Phí (hang ma), xã Hồi Xuân (huyện Quan Hóa)... Thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hầu hết thanh niên trai tráng lên đường tòng quân vào miền Nam đánh giặc cứu nước, ở lại quê nhà phần lớn là phụ nữ, người già và trẻ em. Nhiều chị em phụ nữ lứa tuổi trung niên, thanh niên đã xuôi bè đưa luồng, nứa, gỗ theo sông Luồng về sông Mã nhập cho nhà nước để góp phần xây dựng hậu phương phục vụ tiền tuyến.

Ngoài việc phục vụ dân sinh kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân địa phương, phục vụ quốc phòng, an ninh, du lịch sinh thái, hai con sông Luồng và sông Lò còn là cầu nối tình hữu nghị Việt - Lào, vì ngọn nguồn của hai con sông này đều ở đất Lào chảy về Việt Nam. Từ xa xưa, đồng bào hai bên biên giới đã có câu tục ngữ:

Cáy khắn hâu hó phăng

Ngua khoai lí hó căng kín nhá

Dịch:

Gà gáy ta cùng nghe

Trâu, bò đẹp cùng chung đồng cỏ

Hoặc:

Kín cuối hó bí

Kín pí hó cáp

Áp nặm hau hó vằng điếu

Dịch:

Ăn chuối cùng nải

Ăn hoa chuối cùng bẹ

Tắm suối cùng vụng nước trong

 

1.6.2.3. Hệ thống suối chính

Ngoài sông Luồng, sông Lò, địa bàn huyện Quan Sơn còn có hàng trăm con suối lớn nhỏ dồn về hai con sông. Chính hệ thống suối này đã tạo ra nguồn tài nguyên nước tự nhiên ở Quan Sơn trở nên phong phú, đồng thời tạo ra môi trường sinh thái cảnh quan cho vùng đất Quan Sơn thêm đa dạng, hấp dẫn. Sau đây là hệ thống suối tiêu biểu ở các xã:

Xã Na Mèo

Suối Tà Ngơn

Suối Tà Ngơn chạy theo hướng bắc - nam, bắt nguồn từ Pù Xam Lán (Pù Lông Lênh) giáp bản Son, xã Na Mèo chảy ra suối Pùn. Suối Tà Ngơn dài khoảng 9km, cũng là đường ranh giới Việt Nam - Lào. Từ giữa suối Tà Ngơn về phía đông là đất Việt Nam, từ giữa suối Tà Ngơn về phía tây là đất Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Quá trình dòng chảy của suối Tà Ngơn do nhiều con suối nhỏ hợp thành, trong đó đáng kể nhất là suối Sài Lương ở phía đông ngọn nguồn Tà Ngơn. Dọc theo hai bờ suối Tà Ngơn có nhiều bãi bằng được bù đắp bởi phù sa. Hiện nay đồng bào Việt - Lào hai bên bờ suối làm ruộng nước, trồng cây, cá ở suối Tà Ngơn, dân hai bên cùng hưởng, nước suối Tà Ngơn hai bên cùng sử dụng.

Suối Pùn

Suối Pùn thuộc huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, chảy theo hướng tây - đông đến Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo gặp suối Xôi tạo thành sông Luồng, đoạn từ cửa suối Pùn vào gặp suối Tà Ngơn là đường biên giới Việt - Lào đi giữa suối. Trên đoạn suối này, thủy sản, nguồn nước, đồng bào hai bên cùng dùng chung, từ lâu đời đã lưu truyền câu ca:

“Xong Mường hàu kín pá huốm hát

Áp nặm hàu hó bằng điếu

Pành yêu cắn tay dàm páng cón”

Dịch:

 “Hai Mường (hai nước) ta ăn cá chung thác

Tắm mát chung vụng nước

Yêu quý nhau từ trước đến nay”

Suối Xôi

Suối Xôi cũng thuộc huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, chảy theo hướng tây nam về đông bắc, gặp suối Pùn tạo thành sông Luồng tại Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo.

Từ ngã ba suối Xôi, suối Pùn, sông Luồng theo suối Xôi vào có một đoạn khá dài là đường biên giới Việt - Lào đi giữa suối, phía đông nam là đất Việt Nam, phía tây bắc là đất Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Dọc hai bên suối từ xưa đến nay nhân dân hai nước cùng hòa thuận làm ăn, không xâm canh, xâm cư, cùng giúp nhau phát triển kinh tế, xây dựng vun đắp tình hữu nghị Việt - Lào.

Suối Sàng

Suối Sàng, bắt nguồn từ Pù Xam Lán giáp bản Son, chảy theo hướng đông bắc về tây nam đổ ra sông Luồng tại bản Na Mèo. Suối Sàng dài khoảng 8km được hợp thành bởi nhiều con suối nhỏ, trong đó có một số suối lưu lượng nước tương đối lớn chảy quanh năm vào suối Sàng là: suối Coọng Vắng, suối Pha Tán, suối Tín Cánh... suối Sàng có thác 20 sải (cao khoảng 35 - 36m) đổ nước trắng xóa quanh năm rất đẹp, cách sông Luồng vào khoảng 3km theo đường biên phòng mở đi bản Ché Làu, bản Mùa Xuân. Lưu vực suối Sàng có nhiều gỗ quý với trữ lượng lớn như: dổi, chò chỉ, lát hoa, de thơm, vàng tâm, bi, sú...

Suối Pu

Suối Pu thuộc địa phận xóm 87, xã Na Mèo, bắt nguồn từ Pha Lanh giáp bản Xa Ná, xã Na Mèo chảy theo hướng bắc - nam đổ ra sông Luồng tại Km 86, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối dài khoảng 5km, nước chảy quanh năm, có nhiều gỗ, vầu, nứa là nguồn lâm sản quý. Lưu vực suối Pu trước đây do Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo quản lý, đến năm 2008 chuyển về cho xã Na Mèo quản lý.

Suối Cài

Suối Cài thuộc tiểu khu 208 do Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo quản lý trên địa bàn xã Na Mèo, suối bắt nguồn từ giáp bản Cha Khót, xã Na Mèo theo hướng nam - bắc chảy ra sông Luồng tại Km 84, đường 217 (từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Bên dưới cửa suối là bản 83, thuộc xã Na Mèo, lên trên cửa suối là Trạm Bảo vệ rừng suối Cài, thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo.

Suối Cài dài khoảng 6km, nước chảy quanh năm, lưu lượng nước tương đối lớn. Suối Cài nổi tiếng có “Pung Quáng” (Vũng Nai), cách đường 217 vào khoảng 5km, ở đó có một bãi có mó nước mặn tạo thành ao, hồ, trước đây nai khắp nơi tập trung về đây uống nước, tắm mát thành từng đàn. Lưu vực suối Cài có nhiều gỗ nứa, vầu, bương với trữ lượng, sản lượng lớn, đây là nguồn lợi về kinh tế, môi trường rất tiềm năng.

Vào khoảng năm 1955 - 1957, Hoàng thân Xu Pha Nu Vông, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng Lào và một số cán bộ Trung ương Lào đã đến ở suối Cài trước khi dời lên ở Căn cứ kháng chiến Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn - Lào.

Suối Cha Khót

Suối Cha Khót bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào (bản Chía - Lào) chảy qua bản Cha Khót, Na Pọng, Sộp Huối của Quan Sơn, đổ ra sông Luồng tại cầu Km 79, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối Cha Khót dài trên 20km, lưu lượng nước tương đối lớn, là nguồn lợi về thủy sản, thủy lợi tưới tiêu cho hàng chục héc-ta ruộng dọc 2 bên bờ suối.

Lưu vực suối Cha Khót có nhiều gỗ, vầu, nứa, bương, giang, lá dong, song, mây, dược liệu, lâm đặc sản khác... và thú rừng như: bò tót, nai, hoẵng, lợn lòi, khỉ, vượn, chim, các loại này trước đây rất nhiều, các thợ săn năm xưa khi đã vào suối Cha Khót đi săn thường bắn được nhiều chim, thú. Hiện nay thú đã hiếm, nước cạn hơn trước, gỗ, vầu, nứa cũng bị khai thác nên giảm nhiều.

Suối Cha Khót có nhiều suối nhỏ hợp thành như suối “Hin Lặp” (suối đá mài), suối “Pá” (suối cá), suối “Bum”, suối “Pọng”...

Suối Son

Suối Son bắt nguồn từ hướng Đông Pù Xam Lán (Lông Lênh) giáp biên giới Việt - Lào cùng chụm đầu về với các suối Tà Ngơn, suối Sàng. Suối Son chảy theo hướng tây - đông qua bản Son, Sa Ná, xã Na Mèo đổ ra sông Luồng tại bản Hiềng, xã Na Mèo. Suối Son dài khoảng 18km, lượng nước tương đối lớn, chảy quanh năm.

Trước đây suối Son nổi tiếng lắm cá, nhiều tôm, có cánh đồng bản Son rộng lớn, có tiếng ở mường Xia. Tạo mường Xia, Chánh tổng mường Xia trước năm 1945 là người bản Son, cai quản đất mường Xia rộng lớn qua nhiều thế hệ.

Lưu vực suối Son thuộc địa phận bản Son, Sa Ná, giáp Ché Làu, trước đây rất nhiều gỗ quý mà nơi khác không có như Xa Mu dầu, Xa Mu trắng, thông ba lá, gỗ lát, dổi, chò, de thơm, de hương, vàng tâm... và các loại thú rừng như bò tót, bò rừng, trâu rừng, nai, hoẵng, lợn lòi, khỉ, vượn, gấu, chim thú.

Xã Sơn Thủy

Suối Muống

Suối Muống thuộc địa phận bản Muống, xã Sơn Thủy, bắt nguồn do 2 con suối “Mưn Bằng” và suối “Keo Nưa” hợp nhau tạo thành suối Muống, dài trên 4km, có lưu lượng nước tương đối lớn, chảy theo hướng tây - đông, đổ ra suối Xia tại “Vằng Muống” bản Muống.

Nếu đi theo hướng suối “Mưn Bằng” thì lên gặp bản Ché Làu - Na Mèo, đi theo hướng suối Keo Nưa sẽ lên bản Khà, bản Mùa Xuân của xã Sơn Thủy.

Suối Khà

Suối Khà là suối nhỏ hơn suối Muống đổ ra suối Xia ở địa phận bản Khà trong bản Chanh.

Suối Xia

Suối Xia là suối lớn nhất xã Sơn Thủy. Suối Xia bắt nguồn từ Na Ham - Lào, đầu nguồn ở phía Lào gọi là suối Hin Đăm (suối Đá Đen) chảy vào Việt Nam qua địa phận bản Xia Nọi gọi là Nặm Xia (suối Xia) rồi qua bản Khà, qua hang Bo Cúng, bản Chanh về bản Hiết, bản Muống, Na Cò, Thủy Chung đổ ra sông Luồng tại cầu Sơn Thủy, đường vành đai biên giới thuộc địa phận bản Thủy Chung. Suối Xia kéo dài trên 30km, nước trong veo, có nhiều tôm, cá, ốc, ếch, cua là nguồn thủy sản lớn.

 Nặm Xia trước đây có nhiều vũng nước sâu, có cá Dốc, loài cá lớn ở sông Mã, sông Luồng di cư lên sinh sống. Cá suối Xia ngon có tiếng, ốc suối Xia trước đây nhiều vô kể, chỉ cần xuống suối 30 - 40 phút, một người có thể bắt được 10kg ốc suối rất ngon. Ngày nay, do nước cạn, tôm cá thưa dần, việc đánh bắt chúng khó khăn hơn trước rất nhiều.

Suối Cóc

Suối Cóc bắt nguồn từ phía trong bản Cóc, ra suối Xia tại bản Muống theo hướng đông - tây. Suối Cóc dài khoảng 5km, nước trong, có nhiều tôm, cá, cua, ếch. Lưu lượng nước suối Cóc khá lớn, phục vụ tưới tiêu và sinh hoạt cho các cánh đồng bản Cóc, bản Muống và làm nước dùng sinh hoạt cho người dân. Bản Cóc ở đầu nguồn suối Cóc trước đây nổi tiếng có nhiều cây quế to, vỏ dày, độ dầu cao, khách thập phương rất ưa thích loại quế này.

* Xã Mường Mìn

Suối Lế

Suối Lế thuộc địa phận bản Bơn, xã Mường Mìn, suối Lế giáp suối Cóc, xã Sơn Thủy và suối Sủa, xã Sơn Điện ở phía bắc. Suối Lế chạy theo hướng bắc về hướng tây nam, dài khoảng 5km đổ ra sông Luồng tại Vằng Lế, bản Bơn, xã Mường Mìn.

Suối Bóng

Suối Bóng bắt nguồn từ Pù Cút, chảy qua đường 217 tại Km 73, thuộc tiểu khu 212 B (bản Chiềng), chảy qua tiểu khu 203 của bản Luốc Làu, xã Mường Mìn qua cầu suối Bóng, đường vành đai biên giới Km 66, đường 217 vào Sơn Thủy, đổ ra sông Luồng tại Hát Bóng (thác Bóng) thuộc địa phận bản Luốc Làu, xã Mường Mìn.

Suối Bóng dài khoảng 15km, lưu vực suối Bóng có nhiều khe suối nhỏ dồn nước vào như: Suối Cánh Giáng, suối Cha Khụ, suối Pán, suối Tá Nọi, suối Bó, suối Co Mác, suối Khuông, suối Co Phày, suối Sộp Mu, suối Dồm...

Dọc theo suối Bóng là rừng vầu, nứa bạt ngàn của các tiểu khu 212B, 203. Suối Bóng có Cánh Giáng (thác Cánh Giáng) cao khoảng 20m, dưới chân thác Cánh Giáng có vụng nước sâu gọi là “Văng Pa O” (vũng cá dồn) vì cá từ sông Luồng theo suối Bóng ngược lên chừng 10km thì gặp thác nước dựng đứng bởi phiến đá lớn ngăn cách, cá không thể nhảy lên được đành dồn lại vụng nước chân thác, tạo cơ hội tốt cho người vào quăng chài, thả lưới bắt cá rất thuận lợi.

Từ sông Luồng theo suối Bóng vào khoảng 3 - 5km dọc 2 bên bờ có nhiều bãi bằng, từ xưa đồng bào Thái ở bản Chiềng, bản Luốc Làu đã vào khai hoang làm ruộng, lập bản gọi là bản Huối Bóng (thuộc bản Chiềng ngày nay).

Suối Yên

Suối Yên bắt nguồn từ biên giới Việt Lào, đầu nguồn suối Yên là suối Khé, suối Pha Phứng, suối On hợp lại tạo thành suối Yên chảy qua bản Yên theo hướng tây nam về đông bắc qua bản Yên, bản Cha, bản Na Pạng, bản Mìn về bản Luốc Làu, bản Chiềng đổ ra sông Luồng tại bản Chiềng.

 Suối Yên dài khoảng 25km, có nhiều con suối nhỏ dồn nước vào suối Yên. Ngoài các con suối đã nêu ở trên, còn có suối Cộng, suối Hặc, suối Phứng, suối Cha, suối Ngóm, suối Én, suối Xá, suối Nà Mòn cũng dồn nước vào suối Yên.

Dọc suối Yên có nhiều cánh đồng rộng. Thượng nguồn suối Yên có nhiều chim, thú quý. Theo ông cha kể lại, từ thế kỷ thứ XIX trở về trước, vùng rừng núi thượng nguồn suối Yên có voi, tê giác, trâu rừng, bò rừng, bò tót, gấu, khỉ, vượn rất nhiều. Đặc biệt, đầu suối Yên có nhiều cây cọ nên chim phượng hoàng, chim mỏ sừng trắng, mỏ sừng nâu bay từng đàn lớn hàng trăm con đến ăn quả cọ. Nay các loài thú, chim, gà rừng, công, trĩ đã thưa dần, có loài vắng bóng. Hiện nay, bên trong bản Yên có Đồn Biên phòng Mường Mìn. Nước suối Yên phục vụ tốt cho việc tưới tiêu đồng ruộng bậc thang 2 vụ của bản Yên, bản Mìn, bản Luốc Làu, bản Chiềng, xã Mường Mìn, bản Tân Sơn xã Sơn Điện.

Khu vực suối Yên cũng có nhiều phong cảnh đẹp, là tiềm năng tốt cho du lịch sinh thái như Pù Xà Lày cao 1.416m, Pù Phạ Mứt cao 1.380m so với mặt nước biển.

Suối Én

Suối Én bắt nguồn từ Pù Cút, giáp biên giới Việt - Lào chảy ra suối Yên tại bản Luốc Cháo (bản Mìn) tại Km 67, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối Én dài trên 10km, có lưu lượng nước khá lớn. Lâm phần suối Én chảy qua là tiểu khu 213 của bản Mìn, xã Mường Mìn, qua xóm Nà Kéo, Luốc Cháo rồi đổ ra suối Yên, dồn nước về sông Luồng. Suối Én cung cấp nước tưới tiêu cho nhiều cánh đồng của bản Mìn, cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cây trồng, vật nuôi cho hàng trăm hộ dân từ ngàn đời nay.

* Xã Sơn Điện

Suối Nhài

Suối Nhài chảy theo hướng nam - bắc đổ ra sông Luồng tại bản Nhài, đập tràn bản Nhài (suối Nhài) tại Km 63, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên), đây cũng là điểm nóng thời chiến tranh, máy bay Mỹ thường bắn phá ác liệt.

Suối Nhài có thác Cánh Nhài, cách đường 217, theo suối vào khoảng 5km, thác có 3 tầng, tầng cao nhất là 20 sải tay (khoảng 32 - 35m), tổng chiều ba bậc 50 - 60m, nước tung bọt trắng xóa, không khí trong lành, mát rượi, đây cũng là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, có tiềm năng trong tương lai. Suối Nhài tưới cho hàng chục héc-ta ruộng bậc thang của bản Nhài và Na Nghịu, xã Sơn Điện, cung cấp nước sinh hoạt cho bản Nhài có đường nước sạch lấy từ độ cao ở nguồn suối về bản. Dân gian gọi thác này là thác nàng Han (thác nàng Gan Dạ). Tương truyền, thời quân giặc cờ đỏ, mũ đỏ (quân Thanh) sang quấy nhiễu nước ta, có 3 tên giặc đuổi theo một cô gái người dân tộc Thái vào suối Nhài. Tại thác này, cô gái đã mưu trí, dũng cảm dùng sào nứa xô 3 tên giặc xuống thác làm chúng chết khi đang đuổi bắt cô.

Suối Xa Mang

Suối Xa Mang bắt nguồn từ bản Xa Mang do suối Côi và suối Lào hợp lại. Suối Xa Mang chạy theo hướng tây - đông hướng ra đường 217, khi cách đường 217 khoảng 2km gặp suối Cải chảy theo hướng nam - bắc dồn lại thành suối Bun. Đoạn suối Xa Mang dài khoảng 3km, suối Bun do suối Xa Mang và suối Cải hợp thành chảy qua bản Ban, bản Bun, xã Sơn Điện qua đường 217 tại đập tràn Km 54 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối dài gần 10km, đổ ra sông Luồng tại bản Na Hồ, xã Sơn Điện.

Suối Bun tưới tiêu cho hàng chục ha ruộng 2 vụ của các bản Ban, Bun, Na Hồ và cung cấp nước sinh hoạt cho con người, nơi dòng suối đi qua. Trước đây suối Bun có lưu lượng nước khá lớn, tôm, cá suối rất nhiều, nay suối đã cạn hơn trước nên tôm, cá ít dần.

Tại piềng Púng Quáng cạnh suối Xa Mang về phía nam, năm 2008 Ban quản lý rừng phòng hộ Na Mèo đào hồ chứa nước đã phát hiện 3 cổ vật bằng đá hình lưỡi mai. Các hiện vật này đã được giao cho Phòng Văn hóa huyện Quan Sơn lưu giữ.

Suối Súa (Sủa)

Suối Sủa người Thái gọi là suối Súa, dài khoảng 8km, thuộc địa phận bản Na Phường, bản Súa, xã Sơn Điện. Suối Súa bắt nguồn giáp với suối Lế ở xã Mường Mìn, suối Cóc, xã Sơn Thủy. Suối Súa chạy theo hướng tây bắc về hướng đông nam đổ ra sông Luồng tại bản Sủa nên nhân dân đặt tên là suối Sủa. Suối Sủa có lưu lượng nước khá lớn, đủ tưới tiêu cho ruộng nước 2 vụ của các bản Na Phường, bản Sủa và nước sinh hoạt cho nhân dân 2 bản. Thời kháng chiến chống Pháp (1947 - 1953); lưu vực suối Sủa từng là căn cứ kháng chiến của xã Sơn Điện, có nhiều đơn vị du kích, bộ đội vào tập kết trước khi đi đánh giặc.

* Xã Sơn Lư

Suối Sỏi

Suối Sỏi bắt nguồn từ dãy núi Keo Pán giáp ranh giữa bản Sỏi, xã Sơn Lư và bản Tình, xã Tam Lư, chảy theo hướng tây nam - đông bắc ra gặp suối Bìn tại Km 46 + 700 đường 217 thuộc địa phận bản Sỏi nên người dân địa phương gọi là suối Sỏi.

Từ đập tràn suối Sỏi nơi giao nhau giữa suối Sỏi và suối Bìn, suối được đổi tên thành suối Tuốp (suối Tuốp chảy theo hướng tây - đông qua bản Sỏi, bản Hẹ, bản Hao, bản Bon, xã Sơn Lư đổ ra sông Lò tại bản Bon). Chiều dài suối Sỏi khoảng 6km, chiều dài suối Tuốp gần 8km.

Suối Sỏi, suối Tuốp là nguồn nước thủy lợi cung cấp cho ruộng nước hai vụ của bản Sỏi, bản Hẹ, Hao, Bon với diện tích hàng chục ha mà suối đi qua.

* Xã Tam Thanh

Suối Cáng

Suối Cáng hợp lưu giữa suối Hừa và nhiều suối nhỏ khác nằm ở phía đông sông Lò thuộc địa phận bản Ngàm, xã Tam Thanh. Suối chảy theo hướng đông nam về tây nam đổ ra sông Lò, cách biên giới Việt - Lào về phía Việt Nam trên 1km. Chiều dài và lưu lượng nước suối Cáng tương đương với suối Khà (bản Ngàm - Tam Thanh).

Suối Pa

Suối Pa bắt nguồn từ hang Trình gần biên giới Việt - Lào bên trong bản Pa, xã Tam Thanh, chảy qua bản Pa, Cha Lung, Phe, Bôn đổ ra sông Lò tại bản Bôn, nay là địa điểm chợ Tam Thanh (thuộc bản Piềng Pa), trụ sở xã Tam Thanh và cầu treo bắc qua sông Lò đi bản Ngàm.

Suối Pa dài trên 25km, có nhiều con suối nhỏ hợp vào nên lưu lượng nước khá lớn, suối Pa cung cấp nước cho ruộng 2 vụ của các bản có suối chảy qua. Suối Pa theo tiếng Thái là “suối Cá”, ngày xưa suối rất nhiều cá, ở bản Pa có thác nước dựng đứng, cao khoảng 10m, cá vào đến đó không vượt lên được, đồng bào gọi thác đó là “Cánh Pa Tốt”, tiếng Thái “tốt” có nghĩa là “dừng” (thác cá dừng). Hàng năm vào mùa cá lên, nhân dân bản Pa ra bắt được rất nhiều, cũng từ đó đồng bào đặt tên cho bản mình là bản Pa (bản Cá).

Suối Khà

Suối Khà thuộc địa phận bản Ngàm, xã Tam Thanh. Suối bắt nguồn từ “sắn co Mòn” (dông cây Dâu) giáp ranh với xã Sơn Hà và xã Tam Lư chảy theo hướng đông nam về tây bắc qua xóm Co Lương, Nà Pa Vai (bản Ngàm) đổ ra sông Lò. Đoạn suối đi qua có nhiều ruộng nước 2 vụ của người dân địa phương. Suối Khà dài khoảng 7km.

* Xã Tam Lư

Suối Tình

Ngọn suối Tình là suối La, đoạn chảy qua địa phận bản Tình gọi là suối Tình. Suối Tình chảy theo hướng tây nam qua bản Tình, bản Hát, đổ nước ra sông Lò tại phía trên bản Hát, suối dài khoảng 15km.

Suối Cha Loóc

Suối Cha Loóc có chiều dài khoảng 9km, thuộc bản Sại, xã Tam Lư, bắt nguồn từ Pom Pha Sần (Núi Pha Sần) giáp ranh với xã Sơn Hà và xã Tam Thanh chạy theo hướng đông nam về tây bắc qua Na Sắng (bản Nà Sắng trước đây) chạy ra bản Sại rồi đổ ra sông Lò. Đoạn suối đi qua có nhiều ruộng nước (trên 25ha) của bản Sại và bản Piềng Khóe.

* Xã Sơn Hà

Suối Hạ

Bắt nguồn từ dãy Pù Món, Pha Mè giáp biên giới Việt - Lào và xã Yên Khương, huyện Lang Chánh. Suối Hạ chảy theo hướng nam - bắc qua bản Xum, bản Làu, bản Hạ, bản Làng ra sông Lò tại Km 36, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối Hạ dài trên 20km, thượng lưu suối Hạ có mỏ bạc sâu dưới lòng đất, thời quân Thanh chiếm đóng nước ta, chúng đã cho khai thác, đến nay chưa có ai vào khai thác lại.

Suối Hạ có nhiều suối nhỏ dồn nước về như suối Sài Khao từ Pù Mằn ra, suối Xum từ Pù Kùn xuống, suối Nà Ơi từ hướng tây dồn về và nhiều con suối có nước chảy quanh năm đổ dồn vào nữa nên suối Hạ có lưu lượng nước khá lớn. Trước đây đồng bào các bản ven suối thường xuôi bè nứa, vầu, luồng ra sông Lò bán cho trạm lâm nghiệp tại Km 35. Đầu nguồn suối Hạ là rừng nguyên sinh, có nhiều gỗ, vầu, nứa. Hiện nay Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Lò cùng các hộ dân bản Xum, bản Làu, xã Sơn Hà quản lý. Suối Hạ có nguồn nước phục vụ tưới tiêu cho các bản nơi nó chảy qua, đồng thời cá, tôm, ốc suối rất sẵn, là nguồn thực phẩm cung cấp cho dân bản hàng ngày.

* Xã Trung Thượng

Suối Ngàm

Bắt nguồn từ hướng tây - bắc của Pù Mằn chảy ra sông Lò tại Km 28 - bản Ngàm, xã Trung Thượng. Suối Ngàm là nguồn nước tưới tiêu cho đồng ruộng bản Ngàm, nước sinh hoạt cho dân bản, suối Ngàm cũng có nhiều cá, tôm, là nguồn thủy sản cho đồng bào đánh bắt.

Suối Máy Bàng

 Bắt nguồn từ dãy Pha Phanh giáp với xã Nam Động, huyện Quan Hóa. Suối Máy Bàng dài khoảng 13km, chảy qua bản Bàng ra bản Mảy đổ ra sông Lò tại Km 30, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên).

Suối Máy Bàng có tiếng là nước trong, con gái tắm nước suối Máy Bàng da đẹp hồng hào.

Suối Khạn

Bắt nguồn từ phía trong bản Khạn, đầu nguồn có 3 mỏ nước nóng là: Bo Khằm, Bo Ngoang, Bo Khạn. Bo Khạn là bến của bản, suối Khạn lượng nước khá lớn. Cả 3 mỏ nước đều ấm về mùa Thu - Đông, mát về Xuân - Hè. Đây là tiềm năng du lịch chưa được khai thác.

* Xã Trung Tiến

Suối Cum

Bắt nguồn từ hướng đông của dãy Pù Mằn, chảy qua bản Cum, Pa Chè ra sông Lò tại Km 25 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối Cum dài khoảng 12km, là nguồn nước tưới tiêu đồng ruộng, cây trồng và nước sinh hoạt cho các khu dân cư mà nó đi qua.

Suối Đe

Suối Đe bắt nguồn từ bản Bất, xã Nam, Động huyện Quan Hóa. Suối chảy theo hướng bắc - nam ra sông Lò tại Km 22, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). Suối Đe dài khoảng 18km, chảy qua bản Đe, bản Poọng, bản Lầm, xã Trung Tiến. Suối Đe cũng có nhiều suối nhỏ dồn nước vào nên lưu lượng nước khá lớn, đủ sức tưới tiêu cho đồng ruộng, cây trồng và nước sinh hoạt cho các bản mà nó đi qua. Nguồn thủy sản suối Đe cũng dồi dào, tạo nguồn thực phẩm sạch tại chỗ cho đồng bào dọc lưu vực suối Đe.

* Xã Trung Hạ

Suối Din (suối Cánh)

Suối Din ở phía bắc sông Lò, thuộc địa phận bản Din tại Km 21, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên). “Din” tiếng Thái có nghĩa là “mát”, suối chảy theo hướng bắc nam bắt nguồn từ dãy Pha Phanh, giáp xã Nam Tiến đổ về. Suối Din có độ dài khoảng 4km, cách sông Lò khoảng 500m có một đoạn suối nhiều thác liên tục, thác cao nhất khoảng 15m dựng đứng, tỏa hơi nước mát rượi quanh vùng. Đối diện với suối Din về phía nam sông Lò có bãi rộng dân địa phương gọi đó là “Piềng Din” (Bãi mát). Hiện nay Piềng Din có bản Din ở phía nam, đường 217, phía bắc đường 217 là trung tâm các cơ quan xã Trung Hạ.

Suối Xày

Suối Xày chính là phần hạ lưu của suối Tiên, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh. Suối Tiên bắt nguồn từ bản Đôn, xã Lâm Phú, chảy qua bản Đôn, bản Cháo, bản Tiên ra bản Xày thuộc xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn. Từ bản Tiên, xã Lâm Phú ra sông Lò thuộc địa phận bản Xày, nhân dân địa phương gọi đoạn suối này là suối Xày, suối dài khoảng 4km, chạy qua đường 217, thuộc bản Xày tại cầu Xày Km 19, xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn ra sông Lò.

Suối Bá

Suối Bá bắt nguồn từ bản Xanh, đoạn qua bản Xanh gọi là suối Xanh, đoạn qua bản Bá gọi là suối Bá. Đoạn qua bản Xanh dài trên 2km, có nhiều đá mài nổi tiếng khắp vùng, đoạn qua suối Bá ra sông Lò tại Km 18, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên) dài trên 3km, đổ xuống sông Lò trên tầm cao 100m, tạo thành thác nước trắng xóa rất hùng vĩ, nên thơ.

Suối Xanh, suối Bá là nguồn nước tưới tiêu cho bản Xanh, bản Bá, xã Trung Hạ, suối chảy theo hướng nam - bắc đổ ra sông Lò.

* Xã Trung Xuân

Suối Phụn

Bắt nguồn từ Pù Đền, giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước, chảy theo hướng nam - bắc ra sông Lò qua bản Phú Nam, bản Phụn, xã Trung Xuân. Suối dài trên 4km, có lưu lượng nước khá lớn, nước không bị ô nhiễm, đủ tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt của người dân ở các bản mà suối đi qua. Suối đổ ra sông Lò tại bản Phụn nên dân địa phương đặt tên suối là suối Phụn. Trên địa bàn xã Trung Xuân còn có nhiều suối nhỏ nữa như:

Suối Cắn

Suối Cắn ở phía bắc sông Lò, dài hơn 3km, bắt nguồn từ triền núi Pu Ngua có độ dốc cao, lượng nước mùa mưa đổ về sông Lò rất lớn.

Suối Túng: Ở phía nam sông Lò, dài khoảng 2km, bắt nguồn từ dông giáp ranh bản Lang, xã Trung Hạ, đổ ra sông Lò.

Suối Pa O: Ở phía bắc sông Lò, bắt nguồn từ triền núi Pu Ngua, có độ dốc cao, mùa mưa có lượng nước rất lớn chảy ra sông Lò.

Suối Cạn: Ở phía bắc sông Lò, dài hơn 4km, bắt nguồn từ triền núi Pu Cọ và Pu Ngua chảy được khoảng 500m thì vào hang Nặm Kháu Hu, đi ngầm trong hang khoảng 2km ra 2 cửa: một ra cửa Pác Bo, một ra cửa Cộc Bó Cạn chảy 2km đến sông Lò. Suối Cạn có lượng nước tưới và nước sinh hoạt quanh năm, rất thuận lợi cho nhân dân trong bản.

Suối Dú: Nằm ở phía bắc sông Lò, dài hơn 4km, bắt nguồn từ địa phận bản Hui và bản Đun Pù, xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa, suối có độ dốc cao, quanh năm có lượng nước lớn đủ nước tưới, nước sinh hoạt cho nhân dân bản Mòn.

Suối La: Ở phía nam sông Lò, dài khoảng 3km, bắt nguồn từ dông Pu Sâm, phía bên kia là bản Buốc, xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước, chảy qua Pu Cú đổ về sông Lò. Suối La cung cấp lượng nước tưới và sinh hoạt cho cánh đồng bản La và nhân dân trong bản.

Nhìn chung sông, suối ở Quan Sơn có giá trị cung cấp nước khá sạch cho các ngành sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, tạo khả năng sản xuất nguồn năng lượng thủy điện (điển hình như sông Lò tại xã Tam Lư có thể cho phép xây dựng nhà máy thủy điện có công suất 6MW). Đồng bào các dân tộc sử dụng năng lượng nước để giã gạo. Sông Luồng, sông Lò còn là con đường vận chuyển lâm sản, là môi trường để nuôi cá bè, cá lồng và cung cấp một nguồn thủy sinh cho con người (cá, tôm, cua...). Một số bãi đất vùng ven sông là nơi sinh hoạt cộng đồng của dân cư. Một số thác nước đẹp trên sông Luồng, sông Lò tạo khả năng để phát triển du lịch.

Quan Sơn còn có nguồn nước ngầm khá phong phú. Tổng lượng dòng chảy ngầm khoảng 0,210 tỷ m3. Nước ngầm chủ yếu nằm trong lớp vỏ phong hóa và trầm tích lục địa rời bở tại các thung lũng hay bồn địa; phân bố chủ yếu ở một số khu vực dọc theo sông Luồng, sông Lò, khu vực núi cao nước dưới đất khan hiếm, thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Hiện nay nước ngầm chủ yếu được nhân dân khai thác để phục vụ nhu cầu sinh hoạt.

Tài nguyên nước khoáng ở Quan Sơn có điểm nước khoáng nóng Cha Khót, bản Sủa (Súa), xã Sơn Điện, 3 mó ở bản Khạn, xã Trung Thượng có thể khai thác phát triển du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh.

1.7 NGUYÊN RỪNG, THỰC VẬT, ĐỘNG VẬT

1.7.1. Đặc điểm chung

Theo tài liệu của Trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội, Viện Điều tra Qui hoạch rừng Bắc miền Trung và Đoàn Điều tra Qui hoạch Lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa: huyện Quan Sơn nằm ở vị trí trung gian giữa các hệ thực vật Himalaya, Hoa Nam, Ấn Độ - Mianma, Malaixia - Inđônêxia và sự tác động của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa trên nền thổ như­ỡng và địa hình khác nhau nên có hệ thực vật rất phong phú. Ước l­­ượng có thể tới 1.000 loài thực vật bậc cao. Thảm thực vật rừng Quan Sơn thuộc hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều. Rừng nguyên sinh cơ bản là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới với các họ thực vật đặc trưng như chò chỉ, lim, lát, nghiến, sa mu, pơ mu, sến, vàng tâm, các loại cây dược liệu, thuộc họ tre có luồng, nứa, vầu, giang, bương, ngoài ra còn có mây, song. Đến nay chỉ còn rừng thứ sinh, rừng trồng, đa số là rừng nghèo và trung bình. Các loài thú rừng còn ít, một số loài hiếm gặp như khỉ, sơn dương, gà rừng, mèo rừng, các loài bò sát.

Toàn huyện hiện có 87.854,6ha rừng các loại, chiếm 14,6% tổng diện tích rừng toàn tỉnh, độ che phủ rừng năm 2015 là 88%. Trữ lượng ước tính có khoảng 2,3 triệu m3 gỗ; 60 triệu cây luồng; 170 triệu cây tre, nứa. Rừng giàu và rừng trung bình phân bố ở các dãy núi cao dọc theo đường biên giới giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, chủ yếu là rừng phòng hộ đầu nguồn. Rừng Quan Sơn có các loại cây điển hình là lát hoa, chò chỉ, táu, sến, đinh, dổi, nứa, vầu, luồng,.. ngoài ra còn có sâm đất, thảo quả,..

Rừng sản xuất chiếm trên 54,7% diện tích rừng toàn huyện. Rừng sản xuất chủ yếu trồng luồng, vầu, tre, nứa, do khai thác nhiều nên rừng luồng đang bị thoái hóa, cần được cải tạo phục tráng.

Rừng phòng hộ chiếm 45,3%, phân bố tập trung ở các xã Trung Xuân, Trung Thượng, Sơn Hà, Sơn Thủy, Tam Thanh, Na Mèo, Tam Lư, Sơn Điện và Mường Mìn.

Thực vật ngoài tầng chủ yếu là dây cóc, sống rắn, dây chạc chìu,... Thảm tươi gồm cỏ ba cạnh, lá dong, thiên niên kiện, sa nhân... phân bố rải rác. Trong số đó có sáu loài hạt trần quý hiếm gồm: Thông Pà Cò, Đinh tùng, Dẻ tùng sọc hẹp, Dẻ tùng sọc rộng, Thông đỏ đá vôi, Thông tre lá dài... ở dãy Pha Phanh, bản Na Hồ, bản Sủa, xã Sơn Điện, bản Bàng, xã Trung Thượng

Ngoài hệ thực vật tự nhiên, Quan Sơn cũng có hệ thực vật hình thành do tác động của con người. Đó là hệ thống các rừng trồng (luồng) và cây trồng trong nông nghiệp, trong vư­ờn, các lâm trại, các khuôn viên cơ quan, công sở và ven đường giao thông....

 

Bảng 3: Phân loại diện tích đất rừng

TT

Loại rừng

Diện tích

Rừng phòng hộ

Rừng

sản xuất

I

Rừng tự nhiên

61.965,49

27.292,21

34.673,28

1

Rừng gỗ

21.414,03

10.134,34

11.279,29

1.1

Rừng giàu

3.821,04

2.559,14

1.261,09

1.2

Rừng trung bình

5.872,22

4.298,82

1.573,40

1.3

Rừng nghèo

4.912,58

1.690,54

3.222,04

1.4

Rừng phục hồi

3.516,26

552,57

2.963,69

1.5

Rừng gỗ núi đá

3.291,93

1.033,67

2.258,26

2

Rừng hỗn giao gỗ, nứa

15.689,17

8.286,28

7.402,89

3

Rừng tre, nứa, vầu

24.862,29

8.871,19

15.991,10

3.1

Rừng nứa

20.331,32

7.304,49

13.026,83

3.2

Rừng vầu

3.734,73

1.248,06

2.486,67

3.3

Rừng giang

796,24

318,64

477,60

II

Rừng trồng

11.931,36

1.725,49

10.205,87

1

Rừng trồng gỗ

2.945,55

870,23

2.075,32

2

Rừng hỗn giao gỗ, luồng

622,08

387,68

234,40

3

Rừng luồng

8.363,73

467,58

7.896,15

 

1.7.2. Các thảm thực vật tự nhiên

Rừng nhiệt đới ở đai thấp. Các loại rừng này phân bố ở độ cao thường dưới 500m và chiếm diện tích chủ yếu của huyện. Chúng đ­­ược phát triển trong điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất: chỉ có 4 tháng nhiệt độ trung bình dưới 200C, trong đó tháng lạnh nhất không d­­ưới 16,50C, có 4 tháng khô, 2 tháng hạn và không có tháng kiệt, mùa khô trùng với mùa lạnh, tầng thổ nhưỡng dày và khá ẩm. Thành phần loài trong thảm rất phong phú. Các loại cây gỗ chiếm ­­ưu thế là các cây thuộc họ Đậu, họ Dầu, họ Xoan, họ Bồ hòn... hầu như­­ không có cây hạt trần. Loại rừng này ở Quan Sơn có ba kiểu sau:

+ Rừng rậm nhiệt đới m­­ưa mùa cây lá rộng với mùa đông hơi khô và hơi lạnh trên các loại đất khác nhau (trừ đất trên núi đá vôi). Th­­ường gọi là rừng trên đồi núi đất. Đây là loại rừng vốn chiếm diện tích lớn nhất, đ­­ược phát triển trong các điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất, có thành phần loài phong phú nhất, cấu trúc đa dạng nhất, có nguồn lâm sản giàu nhất. Rừng có 5 tầng cây, trong đó có 3 tầng cây gỗ, 1 tầng cây bụi, tầng cỏ và nhiều dây leo, thực bì ký sinh, gốc có nhiều bạnh vè, có hoa mọc trên thân, nhiều loài cây bóp cổ,... Sinh khối của chúng khoảng 150 - 300m3/ha. Kiểu rừng này đã và đang bị khai thác mạnh nhất, chỉ còn sót lại một ít ở biên giới Việt - Lào

+ Rừng rậm th­­ường xanh nhiệt đới m­ưa mùa cây lá rộng với mùa đông hơi khô và hơi lạnh trên núi đá vôi. Nó phân bố trên diện tích khoảng 500ha của vùng đá vôi trên địa bàn huyện. Trong đó nhiều nhất thuộc vùng biên giới Việt - Lào. Kiểu rừng này có các quần xã Chò đãi, Lòng mang, Sấu, Chò xanh, Dẻ gai, Chò nhai, Đinh vàng, Re, Nghiến...

+ Rừng rậm th­­ường xanh nhiệt đới m­ưa mùa cây lá rộng trên bãi bồi cát sỏi ven suối.

Rừng cận nhiệt đới trên núi phân bố ở độ cao từ 500m tới 1.600m (còn gọi là rừng nhiệt đới trên núi thấp). Chúng phân bố trên các khu vực núi có độ cao 500m đến 1.600m ở phía nam, tây và tây bắc của huyện. Khu phân bố của chúng chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc, nền nhiệt độ thấp, mư­a nhiều (th­ường khoảng 2.000mm), mùa khô ngắn và không khắc nghiệt lắm. Địa hình có độ dốc lớn nên dễ thoát n­­ước, tầng đất mỏng. Mặc dù phần lớn là loại cây th­­ường xanh, nhưng tất cả đều có vẩy, chồi bao bọc và có thời kỳ nghỉ sinh tr­­ưởng rõ rệt vào mùa đông. Các loại cây gỗ chiếm ­­ưu thế th­ường là họ Dẻ, họ Long não, họ Ngọc lan. Số loài cây lá kim càng lên cao càng xuất hiện nhiều hơn, các loại cây bóp cổ, dây leo và cây họ Cau càng giảm bớt. Ngược lại D­­ương xỉ thân gỗ, D­ương xỉ bì sinh, Trúc chịu bóng và Lan bì sinh ngày càng tăng. Rừng cận nhiệt đới trên núi ở Quan Sơn còn có mặt của những cây hạt trần quý hiếm là thông pà cò, đỉnh tùng, dẻ tùng sọc hẹp, dẻ tùng sọc rộng, thông đỏ đá vôi, thông tre lá dài. Đây là những loài cần được bảo vệ.

Cấu trúc của các kiểu rừng này th­ường có 4 tầng. Cây gỗ trong tầng ­­ưu thế sinh thái th­­ường không cao quá 20 - 25m với đư­ờng kính thân cây thường 40 - 50cm, ít bạnh vè. Trữ l­­ượng gỗ ít khi v­­ượt quá 200m3/ha. Rừng ở núi thấp có các kiểu rừng sau:

+Rừng rậm th­­ường xanh cận nhiệt đới m­ưa mùa cây lá rộng trên sản phẩm phong hóa của các loại đá mẹ khác nhau (trừ đá vôi). Kiểu rừng này có các quần xã Sồi đá trên s­ườn núi, xen lẫn dẻ gai, thông tre... Quần xã Pơ mu trên đỉnh và đường đỉnh như­ ở biên giới Việt - Lào.

+ Rừng rậm cận nhiệt đới th­­ường xanh mư­a mùa cây lá rộng với mùa đông hơi khô và lạnh trên núi đá vôi. Phân bố trên diện tích rất nhỏ ở s­­ườn núi đá vôi. Cây chiếm ­­ưu thế là kiêng, ba đậu lá vòng, thông tre, thông Pà cò.

Rừng trồng: Những cây đầu tiên trồng là luồng. Hiện nay, rừng trồng có diện tích lớn nhất là rừng luồng. Cây luồng ở đây được thuần hóa từ luồng tự nhiên. Luồng Quan Sơn dài, dóng luồng dài, ngọn luồng thon đều và gần bằng nhau (khoảng 12 cm), thân luồng dày, cây to cân nặng trên 80kg. Luồng được trồng ở tất cả các xã trong huyện. Ngoài rừng luồng, Quan Sơn còn phát triển trồng cây keo, cây tràm, xoan, lát, dổi, lim, muồng,...

1.7.3. Các loại thực vật

Rừng Quan Sơn thuộc vùng đa dạng thực vật Bắc miền Trung của Việt Nam, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Thực vật rừng chủ yếu là cây lá rộng, rừng tự nhiên nhiều tầng. Dưới tán cây gỗ có thảm thực vật như dây leo, cây bụi, chuối rừng, dương xỉ, cây thảo dược, rêu, thảm mục, cây thân gỗ đa tầng với nhiều đường kính thân cây to nhỏ khác nhau. Gỗ nhiều loài sống hỗn giao, nhiều diện tích hỗn giao gỗ, nứa, vầu, giang, mây...

Rừng Quan Sơn còn có nhiều cây dược liệu quý, đồng bào địa phương thường thu hái làm các bài thuốc cổ truyền chữa được nhiều bệnh cho người và gia súc, gia cầm. Trong đó thường gặp nhất là thuốc cầm máu khi bị thương, thuốc chữa rắn cắn, thuốc chữa gãy chân, thuốc dùng cho người hiếm muộn con cái, thuốc chữa ung nhọt, ròi leo vết thương của người và trâu, bò; nhiều cây dược liệu được thu hái bán cho công ty dược phẩm chế thuốc như thiên niên kiện, sa nhân, máu chó, hoằng đằng, củ ba mươi, dây ba kích, củ mài (hoài sơn)....

1.7.3.1. Các loại cây thân gỗ

Cây thân gỗ ở Quan Sơn rất đa dạng về nhóm, loài. Tổng hợp có một số nhóm gỗ sau đây:

Gỗ nhóm 1: thường mọc ở vùng sâu, núi cao, độ ẩm lớn, sương mù nhiều, riêng sa mu dầu thường ở độ cao trên 800m so với mực nước biển. Tỷ trọng gỗ nhóm 1 chiếm khoảng 1% so với trữ lượng gỗ rừng Quan Sơn.

Gỗ nhóm 1 cây thường to, cao, thân thẳng ít tẻ cành gốc. Do vậy tỷ lệ lợi dụng gỗ lớn, cây lát mọc ở núi đá, đỉnh núi đá cao gỗ càng chắc, vân hoa, vân chun càng đẹp. Nhiều cây gỗ sa mu dầu ở bản Yên xã Mường Mìn, bản Son xã Na Mèo cao vút ngọn hàng 100m, đường kính 2-3m, khối lượng gỗ tròn mỗi cây có thể lên đến 30-40m3. Tuy nhiên, gỗ sa mu thường hổng ruột, cây càng lớn, càng già độ hổng càng cao. Có cây lỗ hổng người lớn có thể chui vào dễ dàng trong thân cây. Do vậy cây dễ bị lốc gốc, đổ. Nhất là vào mùa mưa tháng 7, 8, 9. Gỗ sa mu thường gặp ở Pù Mằn, tiểu khu 209 thuộc địa phận xã Trung Thượng, tiểu khu 223, 224 thuộc bản Yên, xã Mường Mìn, tiểu khu 155, 178 thuộc bản Son, Ché Làu, xã Na Mèo, tiểu khu 151, 149 thuộc bản Xia Nọi, bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy. Cây lát mọc rải rác trong rừng tự nhiên ở các xã trong huyện.

 Hiện nay, được sự chỉ đạo của chính quyền và ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, nhân dân, các chủ rừng Nhà nước đã trồng nhiều cây lát ở vườn hộ gia đình, ở rừng trồng là rừng sản xuất, rừng phòng hộ. Từ năm 2007 đến 2010 các Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo, sông Lò, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, Đồn Biên phòng 501 Tam Thanh, mỗi năm trồng hàng trăm héc-ta cây lát tập trung, trồng xen luồng hoặc trồng thuần loài. Riêng cây sa mu dầu chưa có nơi nào trồng được.

Cây lát trong rừng tự nhiên có đường kính trên 40cm đến nay đã hiếm do nạn khai thác rừng trái phép, những năm thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước, gỗ sa mu dầu cũng bị khai thác phát rừng làm rẫy nhiều, thời kỳ 1990 - 1994. Hiện còn là cây nhỏ ở tiểu khu 155, 178 bản Son, xã Na Mèo, một số ít ở tiểu khu 223, 224 bản Yên, xã Mường Mìn, tiểu khu 209 bản Ngàm, xã Trung Thượng. Cây sa mu dầu thường mọc tập trung từng đám, cây lát và cây khác mọc phân tán trong rừng.

Công dụng gỗ nhóm I ở Quan Sơn rất quý: Gỗ lát thường dùng làm đồ mộc, cánh cửa, ván thưng, ván lát sàn nhà rất đẹp. Gỗ ít bị mối mọt xâm hại, chịu được ẩm mốc. Cây sa mu dầu dùng để lợp nhà, ốp tường nhà, ốp trần nhà hạn chế được muỗi, gỗ chịu được nóng, ẩm, ít bị nứt, tách, mối mọt (trừ phần dác) và có mùi thơm hắc nhẹ.

Gỗ nhóm II: thường mọc ở núi cao, rừng sâu, núi đá. Phần nhiều mọc rải rác trong rừng khắp các xã trong huyện. Một số nơi cây táu mật mọc tập trung thuần loài từng đám trên dông cao núi đất có tầng dày. Gỗ nhóm II thường chắc, nặng, đồng bào địa phương thường dùng gỗ nhóm II làm cột, xà, kèo nhà rất chắc, bền, có nhiều ngôi nhà tuổi thọ đến hàng trăm năm. Trong công nghiệp, gỗ nhóm II thường dùng cho việc đóng tàu, thuyền, đường ray xe lửa và một số công việc cần chôn gỗ xuống đất, để gỗ ngoài trời lâu ngày gỗ vẫn chịu được.

Gỗ Nhóm II, ở rừng tự nhiên chiếm khoảng 3% trữ lượng gỗ. Sản lượng khai thác gỗ hiện nay chiếm khoảng 5% so với khối lượng hàng năm.

Gỗ nhóm III: thường gặp ở rừng Quan Sơn gồm có chò chỉ, săng lẻ, chua khét, chự, trường mật.

Gỗ nhóm III phân bố hầu hết ở các xã có rừng tự nhiên. Đặc điểm cây thường cao, to, thẳng. Cây chò có thể cao vút ngọn đến 100m, đường kính 2 -3m. Gỗ nhóm III ít bị mối mọt, sử dụng được nhiều việc. Nhất là gỗ dổi đóng đồ gia dụng rất tốt, làm nhà, làm ván hòm được rất nhiều người sử dụng.

Tỷ lệ gỗ nhóm III chiếm khoảng 10% trữ lượng gỗ rừng tự nhiên. Ở Quan Sơn những năm trước đây gỗ nhóm III bị khai thác rất nhiều nên hiện nay còn lại trong rừng là cây nhỏ. Những gỗ tốt đã bị khai thác để làm nhà, khai thác thương mại. Nhất là những năm 70, 80, 90 của thế kỷ XX. Có năm trên địa bàn khai thác hàng chục ngàn mét khối gỗ, trong đó gỗ nhóm III chiếm tỷ lệ khá lớn. Từ năm 2000, huyện Quan Sơn đã hoàn thành việc giao đất lâm nghiệp đến tổ chức và hộ gia đình, do đó việc khai thác rừng giảm đi. Song gỗ quý như dổi vẫn bị lâm tặc khai thác trộm bằng nhiều hình thức. Đến nay, cây dổi, cây chò có đường kính đến 1m trong rừng Quan Sơn rất hiếm.

Gỗ nhóm IV: trên địa bàn huyện Quan Sơn thường là vàng tâm, de hương, gội nếp, vù hương, mít rừng, vàng rè, vàng en, sến đỏ....

Chúng phân bố hầu khắp địa bàn rừng tự nhiên Quan Sơn, nhưng mọc nhiều hơn ở rừng vùng sâu, vùng xa, độ ẩm cao ở các xã biên giới. Thổ nhưỡng ưa thích là đất ferarit tầng dày ở đỉnh dông, sườn dông hoặc thung bằng đất macma axit cây đều phát triển tốt. Nhưng gỗ ở đỉnh dông, sườn dông thì chắc hơn, ít nứt tách. Các loài cây nhóm IV thường cao, to, thẳng, ít khi phân cành gốc. Gỗ nhóm IV ít bị mối mọt, chịu nắng, ẩm, ít cong vênh. Là loại gỗ được nhân dân ưa chuộng làm xà nhà, ván thưng, đóng cửa, lát sàn. Đặc biệt, lõi gỗ vàng tâm dùng làm gỗ hòm (quan tài) chôn dưới đất lâu ngày không hỏng. Gỗ nhóm IV chiếm khoảng 3% trữ lượng gỗ toàn huyện.

Gỗ nhóm V: trong rừng tự nhiên Quan Sơn có rất nhiều loài cây. Chúng mọc rải rác ở các đỉnh dông, sườn dông hoặc thung bằng. Có khi mọc thành từng đám thuần loài như dẻ gai, dẻ sừng, mang, ràng ràng, mít, trường kén... Gỗ nhóm V thường gặp là: dẻ đỏ, dẻ cau, dẻ gai, kháo dầu, thành ngạnh, trâm sừng, trâm tía.

Nhóm V chiếm tỷ lệ khoảng 15% trữ lượng gỗ trong rừng tự nhiên Quan Sơn. Chúng có mặt hầu hết ở diện tích đất lâm nghiệp các xã trong huyện, cả rừng tự nhiên và tái sinh trong rừng trồng. Là các loài cây sống khỏe, ít sâu bệnh, ít mọt trừ ràng ràng, mít. Tuy nhiên, mối thường ăn nên gỗ nhóm V không làm cột chôn xuống đất vì không được lâu. Nếu lấy làm cột nhà phải kê tảng hoặc chỉ dùng làm đà, xà, kèo, ván thưng nơi che được mưa, nắng thì gỗ mới bền. Gỗ dẻ đỏ, dẻ sừng cứng ít mọt nên thường sử dụng làm khung hộc, xà, kèo nhà. Nhưng nếu bảo quản không tốt bị nắng nhiều thì gỗ sẽ bị nứt tách. Riêng trâm đất, trâm sừng có thể chôn xuống đất được lâu hơn các loài cây cùng nhóm. Nhưng đóng đồ mộc không đẹp vì màu gỗ thâm nên nhân dân ít dùng.

Gỗ nhóm VI: thường gặp trên địa bàn Quan Sơn là phay, sâng, ràng ràng đá, vẩy ốc, quế, xoan đào, thị rừng.

Gỗ nhóm VI: phân bố hầu khắp diện tích rừng Quan Sơn, chiếm tỷ lệ khoảng 30% trữ lượng gỗ rừng tự nhiên. Là các loại cây sống khỏe, chịu được thời tiết khí hậu khắc nghiệt, chúng thường mọc ở ven sông, suối, sườn dông, trên đỉnh dông. Mọc xen cả rừng vầu, nứa, giang, tái sinh trong rừng trồng. Gỗ nhóm VI có nhiều loại cây, ít mọt, chịu ẩm và bùn nước như phay vi, bi, sú... gỗ nhóm VI được sử dụng làm nhà như sú, sâng, kháo trắng, xoan đào, dùng làm gỗ quan tài rất tốt như bi, phay vi, sú tía...

Do các loại gỗ nhóm I, II, III, IV ít bị khai thác nhiều nên thời gian gần đây nhân dân thường dùng gỗ nhóm V, VI làm đồ nhà là chủ yếu. Khi dùng người ta ngâm xuống nước để từ 6 tháng trở lên thì gỗ sẽ hết mọt.

Tục ngữ Thái có câu: “Mạy ché nặm xam pi pến ken” (Gỗ ngâm nước 3 năm thành lõi), có nghĩa là dù gỗ xấu, gỗ mọt nhưng đã ngâm nước đến 3 năm thì trở thành lõi gỗ. Lõi gỗ thường là phần tốt nhất của gỗ, ít bị mối mọt, chịu được nóng, ẩm.

Gỗ nhóm VII: có rất nhiều loài và phân bố khắp diện tích rừng Quan Sơn. Gỗ nhóm VII thường là gỗ tạp mềm, dễ bị đổ gãy khi có mưa to gió lớn.

Các loại cây nhóm VII thường gặp ở Quan Sơn: trám trắng, vạng trứng, ngát...

Gỗ nhóm VII thuộc loại cây tiên phong ưa sáng, chóng lớn. Gỗ hay bị mối mọt, thớ thô nên nhân dân ít sử dụng làm nhà và đồ gia dụng trong gia đình. Chỉ dùng làm nhà tạm, chòi rẫy với thời gian không quá 2 năm mà phải ở trong bóng che không tiếp đất. Gỗ nhóm VII mềm, dễ bóc ép. Vì vậy trong công nghiệp bóc ép, ván dăm thường lấy gỗ nhóm VII làm nguyên liệu với giá thành rẻ, nguyên liệu dồi dào. Tỷ lệ gỗ nhóm VII chiếm khoảng 25% trữ lượng gỗ rừng Quan Sơn. Gỗ nhóm VII thường nhiều cành, phân cành sớm, thuộc loại cây lá rộng, chóng lớn nên tác dụng che phủ rừng lớn, tán che rừng rộng và hiệu quả.

Gỗ nhóm VIII: mọc được trong các loại địa hình, phân bố khắp diện tích đất lâm nghiệp của Quan Sơn. Nhất là các diện tích sau nương rẫy, diện tích nứa, vầu, le, giang bị chết thì xuất hiện cây thân gỗ nhóm VIII phát triển. Gỗ nhóm VIII ở Quan Sơn có nhiều loài nhưng thường gặp nhất là: cây bộp, sung, chay, ba soi, ba bét, trẩu.

Gỗ nhóm VIII thường mềm, không có lõi, dễ dập gãy nên nhân dân ít dùng trong làm nhà và đồ gia dụng.

Các loại cây thuộc nhóm VIII mọc nhanh, chóng lớn nên có tác dụng tốt trong việc tăng nhanh độ tàn che, độ che phủ rừng góp phần chống xói mòn, tạo nguồn sinh thủy.

Do nhân dân ít sử dụng, lâm tặc không khai thác nên gỗ nhóm VIII thường tồn tại lâu dài, từ đó có cơ hội sinh trưởng phát triển tốt. Tuy nhiên, do giá trị kinh tế không cao nên diện tích mọc nhiều cây gỗ nhóm VIII (rừng tạp) thường được cải tạo thành rừng trồng. Nhân dân phát bỏ gỗ tạp để trồng rừng mới có giá trị kinh tế cao hơn như: trồng lát, keo, xoan, luồng trên các diện tích rừng gỗ tạp. Hiện nay gỗ nhóm VIII chiếm khoảng 13% tổng sản lượng gỗ rừng tự nhiên toàn huyện.

1.7.3.2. Các loại cây họ tre, trúc

Các loại cây họ tre, trúc ở Quan Sơn thường có là vầu, nứa, bương, giang, trúc, le, sặt, măng đắng, hẹ, tre gai, luồng, mai, song sào, là ngà, tre vàng, luồng vàng, mạy cần... Trong đó tre gai, mai, song sào, là ngà, tre vàng, luồng vàng, mạy cần là rừng trồng phân bố tương đối rộng khắp toàn huyện. Rừng vầu, nứa chiếm tỷ lệ lớn nhất, phân bố nhiều ở các xã Trung Tiến, Trung Thượng, Sơn Lư, Sơn Hà, Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thủy, Na Mèo.

Vầu, nứa mọc thuần loài thành từng diện tích lớn hàng 100ha, ngoài ra còn mọc hỗn giao trong rừng gỗ, rừng bương. Đây là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc huyện Quan Sơn. Nhiều hộ đã thoát nghèo nhờ bảo vệ khoanh nuôi, chăm sóc được rừng nứa, vầu, luồng; nhiều hộ mở xưởng chế biến tăm mành nứa, vầu, đũa luồng.

Cây vầu: tiếng Thái gọi là “mạy quăn”. Cây vầu mọc thành từng bụi, tái sinh bằng măng hoặc bằng hạt. Tái sinh hạt sau chu kỳ khoảng 60 năm, cây vầu ra hoa và quả một lần. Lúc đó toàn bụi vầu chết hết, kết thúc việc tái sinh măng chuyển thành tái sinh hạt do hạt vầu già rụng xuống xung quanh gốc, một số do chim, chuột công đi nơi khác ăn để rơi rớt xuống đất, hạt đã nảy mầm. Từ khi tái sinh mầm cho đến lúc bụi vầu trưởng thành có thể khai thác được nhanh nhất là 5 năm, nơi đất xấu 7 - 10 năm cây vầu mới thành hàng hóa. Việc tái sinh măng xảy ra liên tục hằng năm vào mùa mưa. Từ tháng 6, 7 măng vầu bắt đầu mọc đến tháng 10 thì măng không mọc nữa, tháng 10 cây măng bắt đầu có lá ở ngọn đến tháng 12 thì cây măng đã trở thành cây vầu non có đủ cành lá có thể chẻ lạt được.

Cây vầu non có nhiều phấn trắng. Quá trình trưởng thành từ măng thành cây vầu nó thay bẹ lần lượt từ gốc cho đến ngọn, cứ 1 ống vầu có một bẹ bao bọc khi cây măng già thì bẹ khô và tự rơi ra khỏi cây măng, khi bẹ bóc hết thì cây măng đã trở thành cây vầu có đủ nhánh lá từ 1/3 thân cây về phía ngọn.

Cây vầu thành thục từ năm thứ 3 trở đi, trở thành cây vầu già sau năm thứ 5. Thân vầu thành thục thường nhẵn, phấn trắng đã rụng hết. Những cây vầu có tuổi từ 1 - 3 tuổi là giai đoạn phát triển măng (đẻ măng) nhiều nhất. Do vậy trong quy trình kỹ thuật khai thác vầu, nứa, ngành lâm nghiệp đã quy định không được chặt cây vầu dưới 3 năm tuổi để chúng sinh măng phát triển rừng. Cây vầu càng già thì tốc độ sinh măng càng yếu, xấu. Thường cây vầu thích nghi ở đất ferarit có tầng dày ít đá sỏi. Nếu mọc ở đất macma axit bãi bằng bồi tụ bên sông suối thì cây vầu rất to, dài nhưng thường bị ốp, dễ bị mọt ăn, làm hàng không nhẵn, không đẹp, xơ nhiều.

Nơi đất tốt cây vầu có thể to gần như cây luồng loại 2, 3 với đường kính gốc 10 - 12cm, dài 10 - 15m, nặng đến 30 - 40kg/1cây. Nơi đất xấu, nhiều sỏi đá, cây vầu nhỏ thường gọi là vầu tép, đường kính gốc chỉ khoảng 2 - 3cm, dài 5 - 7m, cân nặng 3 - 5kg/cây.

Người ta thường phân cây vầu thành nhiều loại: loại 1, 2, 3, 4 và tép. Thời gian gần đây cây vầu rất được giá, nếu so cây luồng cùng cỡ đường kính có khi giá vầu bán gấp 2 lần, lại là cây rừng tự nhiên không phải chăm bón, chỉ cần bảo vệ tốt, khai thác đúng cường độ, hàng năm mỗi bụi vầu sinh măng 10 - 20 cây là nguồn lợi lớn cho người sản xuất nghề rừng. Bụi vầu thành thục có thể cho ta hàng trăm cây, bình quân 45 - 50 cây/bụi, vừa có lợi kinh tế vừa có lợi cho môi trường, góp phần tích cực trong việc tạo độ che phủ, độ tàn che, chống xói mòn, làm mát không khí. Ở Quan Sơn, cây vầu bị khuy (tái sinh hạt), năm 1976 đến nay đã 37 năm. Nếu đúng chu kỳ thì khoảng 23 năm nữa cây vầu sẽ ra hoa, quả và cây chết hàng loạt. Đây là mối lo không chỉ thiệt hại về kinh tế (mất nguồn thu nhập) mà còn là mối lo cháy rừng xảy ra vì cây vầu chết khô hàng loạt tạo ra nhiều vật liệu dễ cháy làm nguy cơ cháy rừng càng cao. Để ứng phó với những vấn đề này, đồng bào và các chủ rừng Nhà nước phải chủ động tạo việc làm mới, lập đường băng cản lửa, chia nhỏ diện tích vầu chết khô để phòng xảy ra cháy lớn. Khi rừng bị cháy sẽ cháy cả hạt và mầm vầu đang lên, do đó việc phục hồi rừng vầu sau 5 - 10 năm sẽ rất khó. Để kéo dài tuổi thọ rừng vầu cần khai thác đúng chu kỳ, cường độ. Không chặt cây non dưới 3 năm tuổi để rừng tái sinh tốt, bụi vầu sẽ khỏe hơn. Khi có hiện tượng vầu ra hoa, lá vàng, cây mọng nước, mùa măng không có măng thì nên nâng cường độ chặt có khi chặt trắng để tận thu lâm sản đồng thời giải phóng bớt vật liệu cháy trong rừng.

Cây vầu có trữ lượng chiếm khoảng 30% tổng trữ lượng vầu, nứa, bường, giang và cây họ tre trúc trong rừng tự nhiên ở Quan Sơn. Trọng lượng bình quân cây vầu khoảng 10kg, dài vút ngọn 9m, đường kính gốc 7cm. Cây to nặng nhất đến 40kg, cây nhỏ chỉ 2-3 kg.

Cây nứa: Nứa thường mọc ở đồi (dông) đất hoặc bãi bằng bên sông suối. Chu kỳ sinh trưởng và tái sinh của cây nứa cũng như cây vầu, có khi nứa mọc thuần loài với diện tích hàng 100ha, có khi hỗn giao vầu, luồng, gỗ, bương. Cây nứa ở trên đỉnh dông, sườn dông (đỉnh đồi, sườn đồi) có chất lượng tốt hơn cây mọc ở thung bằng hoặc ven sông suối. Cây nứa mọc ở thung bằng, ven sông suối thường to, dài, nhưng hay bị ốp, bị mọt. Trọng lượng cây nứa có thể đến 30kg, dài 10 - 12m. Có cây đường kính gốc 9 - 10cm, bình quân khoảng 7cm. Nứa cũng được phân nhiều loại như vầu: loại 1, 2, 3, 4 và tép. Nứa tép là những cây nhỏ có đường kính dưới 4 cm. Nứa cũng mọc thành bụi, có bụi đến 150 cây, bình quân 50 - 60 cây/bụi. Đến nay đồng bào khai thác nhiều nên bụi nứa giảm nhiều về số cây, chiều cao và đường kính.

Để bảo vệ rừng nứa phát triển, sinh trưởng tốt, cường độ khai thác hàng năm không quá 25%, chặt cao gốc không quá 30cm, kéo ngọn nứa đã chặt ra khỏi bụi nứa để khi măng mọc lên khỏi vướng làm cong cây măng. Chu kỳ khai nứa 3 năm quay lại một lần, không chặt những cây dưới 3 tuổi. Vì cây nứa dưới 3 tuổi là cây sinh măng (đẻ măng) mạnh nhất, măng khỏe và to. Đồng thời cây nứa dưới 3 tuổi chưa già (bánh tẻ) nên làm hàng không đẹp, không bóng, ốp, hay bị mốc, mọt, trọng lượng khi sấy khô thường hao hụt nhiều.

Chu kỳ sinh trưởng của cây nứa khoảng 60 năm thì ra hoa, kết quả một lần. Lúc đó nứa sẽ chết hàng loạt để tái sinh mầm từ hạt già gieo xuống đất. Từ lúc nảy mầm cho đến khi cho sản phẩm và hình thành bụi nứa khoảng 5 - 7 năm tùy chỗ đất tốt hay xấu. Hiện tượng nứa sắp ra hoa cũng giống như vầu: Lá vàng từ ngọn dần xuống gốc, trong cây nứa có nhiều nước, cây nứa mềm dễ gãy, năm sắp ra hoa nứa không mọc măng. Quả nứa, quả vầu gà rừng và chuột rất ưa thích. Do đó, năm nào vầu, nứa ra hoa kết quả (khuy) thì trong rừng rất nhiều chuột và gà rừng. Ở Quan Sơn, nứa ra hoa gần đây nhất là năm 2004 - 2005. Kỹ thuật xử lý nứa khuy cũng như đối với cây vầu. Cây nứa ở Quan Sơn chiếm khoảng 45% trữ lượng họ tre, trúc.

Cây bương: tiếng Thái gọi là “mạy hộc”. Cây bương mọc thành bụi trong rừng tự nhiên, thân cây to gần như cây luồng nhưng đẻ nhiều nhánh và nhánh dài hơn nhánh luồng. Bụi bương thành thục có 50 đến 60 cây, bình quân mỗi bụi bương khoảng 30 - 35 cây/bụi.

Cây bương thường mọc măng từ tháng 6 đến hết tháng 9 hằng năm. Quá trình mọc măng và thành cây bương cũng như cây vầu, cây nứa. Măng bương to, ống bương dày, bương thường mọc ở đầu nguồn nước, bên khe suối, có khi phân bố thành đám rộng vài héc-ta, có khi mọc hỗn giao với vầu, nứa, gỗ, trong rừng sâu. Do vậy hái măng bương thường phải đi xa.

Măng bương ăn ngon (cả măng tươi, hay măng phơi khô) đều dùng tốt. Do vậy măng bương thường bị thu hái nhiều, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của rừng bương. Đến nay, cây bương ít được sử dụng vì khai thác khó, giá thành không cao, vận chuyển xa, thu nhập không đáng kể nên đồng bào ít quan tâm. Trữ lượng bương ở Quan Sơn chiếm khoảng 2% trữ lượng họ tre, trúc trong rừng tự nhiên.

Cây bương ở Quan Sơn bị chết khuy (ra hoa kết quả) năm 1986, chu kỳ ra hoa kết quả của cây bương cũng tương tự như cây nứa, cây vầu.

Cây bương thành thục có thể dài đến 15m, đường kính gốc đến 12cm, nặng đến 50kg. Bình quân cây có đường kính 9cm, dài 12m, nặng khoảng 25kg. Cây bương dễ bị uốn cong do nhiều nhánh, nhiều lá. Lá màu xanh xẫm to hơn lá tre, luồng và lá vầu, nứa.

Cây giang: tên tiếng Thái “mạy háng”. Cây giang thường phân bố ở đỉnh núi cao, nơi rừng sâu, rừng xa, có độ cao so với mặt nước biển trên 700m, độ ẩm lớn. Bụi giang khoảng 15 - 20 cây/bụi, nhưng thường mọc liền nhau, cây giang dài 20 - 30m leo trèo trên cây thân gỗ, nếu không có cây thân gỗ hoặc cây vầu, nứa, bương làm chỗ dựa thì cây giang lan bò dưới đất đan cài với nhau dày đặc. Đây là môi trường tốt cho trăn, rắn, rết, rùa.... ẩn nấp, có khi cả hổ, gấu, nai cũng vào trong rừng giang để ở. Người đi rừng gặp rừng giang rất vất vả mới qua được. Giang thường mọc từng đám, có đám rộng vài chục héc-ta, lá giang xanh đậm, dài hơn lá nứa. Trong rừng giang, tầng thảm mục thường dày, rất dễ cháy. Ống giang dài đến 60cm, có lỗ hổng bé có khi đặc, lạt giang rất dẻo, bền. Do đó giang thường được dùng trong đan lát thủ công mỹ nghệ, đan đồ dùng gia đình, làm lạt buộc rất tốt. Tuy nhiên, rừng giang thường ở xa, khai thác giang khó khăn, năng suất thấp, giá bán không cao nên sản phẩm giang ít được khai thác sử dụng trên địa bàn Quan Sơn.

Cây giang cũng tái sinh chồi (măng) và hạt như vầu, nứa, bương. Chu kỳ ra hoa kết quả (khuy) cũng tương tự như vầu, nứa. Trên địa bàn Quan Sơn, cây giang bị khuy chết hàng loạt năm 2010, nay đang lên cây non. Trữ lượng giang chiếm khoảng 3% so với tổng trữ lượng họ tre, trúc ở Quan Sơn.

Cây le: tiếng Thái gọi là “mạy láy”. Cây le mọc thành bụi, có bụi đến hàng trăm cây dày đặc, thân le chắc nhưng do nhiều cành, nhánh, lá dày nên cây thường bị uốn cong. Le mọc thành đám trong rừng tự nhiên, trên đồi hoặc ở sườn dông, nơi đất pha sỏi, đá, le càng sống khỏe. Ống le thường đặc, lỗ hổng rất nhỏ, ống dài khoảng 25 - 35cm, cây le dài khoảng 8 - 10m đan cài vào nhau trong cùng bụi hoặc trong đám le, mọc thuần loài, mọc ở núi thấp, rừng le rất dễ cháy.

Măng le ngon với nhiều cách chế biến khác nhau, nhưng hái măng le khó do bụi le rậm rạp, thường có ong, rắn, đến cư trú nên đồng bào ít hái măng le. Cây le ít sử dụng trong đời sống con người. Chỉ vài nơi lấy le làm cán dao, cán liềm, cán cuốc... trong sinh hoạt gia đình. Ngoài ra hiếm thấy sản phẩm từ cây le trong sản xuất hàng hóa ở Quan Sơn. Cây le chiếm khoảng 1% trữ lượng họ tre, trúc Quan Sơn.

Cây măng đắng: thuộc loài trúc, tiếng Thái ở địa phương gọi là “mạy mu”, “mạy khôm”. Cây măng đắng mọc phân tán trong rừng (không thành bụi), có khi mọc thành đám rộng thuần loài vài héc-ta, phần nhiều mọc xen dưới tán rừng gỗ, nơi độ ẩm cao. Hái măng đắng phải dùng thuổng đi đào khi măng mới nhú lên mặt đất, thậm chí mới nứt đất đã đào xuống lấy thì măng đỡ đắng, ăn sống có vị ngọt. Nếu măng lên khỏi mặt đất thì đắng, càng lên cao càng đắng, măng đắng được nhiều người sử dụng. Măng mọc vào tháng 1 đến tháng 3, rộ nhất vào tháng 2 dương lịch hằng năm.

Cây măng đắng ống ngắn khoảng 20 - 30cm, cây dài đến 7 - 8m, thân thẳng. Nhân dân thường lấy làm đòn tay, rui nhà tạm, chòi rẫy nơi có rừng măng đắng ở gần. Cây măng đắng ở Quan Sơn ít, chỉ phân bố ở một số xã như Trung Hạ, Sơn Điện, Mường Mìn, Sơn Thủy, Na Mèo. Trữ lượng cây măng đắng chiếm khoảng 0,1% trữ lượng cây họ tre, trúc. Cây măng đắng chưa thành hàng hóa ở Quan Sơn.

Cây sặt: tiếng Thái gọi là “mạy chá”. Cây sặt mọc trong rừng sâu, nơi độ ẩm cao, chân núi đá. Măng sặt mọc vào mùa xuân khoảng tháng 2 - 4 hằng năm. Măng sặt có 2 loại: một loại đắng (no chá khốm) loại không đắng (No chá ban). Măng sặt ăn ngon, là loại thức ăn mà hoẵng, nai, gấu, trâu, bò, rùa núi yêu thích. Trước đây còn nhiều thú rừng, những người thợ săn thường vào rừng cây sặt mùa sinh măng để săn bắt gấu, nai, hoẵng, rùa...

Cây sặt có đường kính dưới 2cm, thân dài khoảng 4 - 5m, mọc rải rác (không thành bụi) trong rừng. Cây sặt ít được khai thác sử dụng, chủ yếu đồng bào chỉ để hái măng dùng trong gia đình, đôi khi cũng đem bán hoặc trao đổi hàng hóa. Ở Quan Sơn trữ lượng cây sặt không nhiều, chỉ chiếm khoảng 0,5% trữ lượng họ tre, trúc.

Cây nứa đá: Tiếng Thái gọi là “mạy pao”. Cây nứa đá thường mọc trên núi đá, về hình dáng giống cây nứa nhưng có thân nhỏ, mỏng, đường kính dưới 1cm, chiều cao khoảng 2 - 3m (mạy pao) thường được dùng làm khèn bè, sáo ôi... ngoài ra ít dùng vào việc khác. Về chu kỳ sinh trưởng và phát triển của “mạy pao” (nứa đá) cũng như cây nứa, cây vầu. Măng nứa đá ăn được nhưng vì ít, thu hái khó khăn nên đồng bào ít sử dụng.

Cây sậy đồi: Tiếng Thái gọi là “mạy vua”. Mạy vua hình dáng giống cây sậy hay mọc ven suối, ven bờ ruộng, ao, đầm. Nhưng nó có thân cứng hơn, dẻo hơn. Cây có đường kính dưới 0,5cm, thân dài 1 - 2m. Đồng bào miền núi thường lấy cây này làm cần hút rượu cần, tiếng Thái gọi là “Vua làu láu”. Do cây nhỏ, trữ lượng ít nên đồng bào ít hái măng hay chặt cây làm vào việc khác ngoài cần rượu.

Cây sậy đồi thường mọc ở đồi thấp nơi đất pha đá sỏi, phân bố ở một số nơi như Sơn Thủy, Tam Thanh, Sơn Điện, Trung Thượng. Nhìn chung loại cây này hiếm và ít tác dụng trong đời sống con người, tỷ lệ không đáng kể trong trữ lượng họ tre, trúc ở Quan Sơn.

Cây luồng: tiếng Thái gọi là “mạy luông”. Cây luồng do con người trồng bằng hom. Có thể dâm hom ở vườn sau khi cây đẻ nhánh thế hệ 2 mới đem trồng hoặc chặt từng đoạn có 1 mắt ở giữa cắm đầu gốc xuống đất sâu khoảng 15 - 20cm, cây luồng vẫn phát triển tốt. Lâu nay trên địa bàn huyện Quan Sơn nhân dân thường trồng luồng theo cách thứ 2 là chủ yếu. Trồng theo cách này vừa dễ trồng, năng suất mà tỷ lệ sống khá cao (chiếm đến 80 - 90%). Chặt cây luồng có tuổi từ 1 - 3 tuổi vát đầu gốc, để mắt ở giữa. Mỗi cây luồng có thể được 10 - 15 đoạn đem ra nơi đã xử lý thực bì cắm xuống đất như đã nói ở trên vào mùa tháng 5, 6 trước mùa sinh măng thì cây luồng dễ sống. Nếu trồng trong mùa sinh măng tháng 7, 8, 9 thì tỷ lệ sống thấp hơn. Cây luồng trên 3 tuổi thì lấy phần ngọn trồng vẫn sống.

Rừng luồng Quan Sơn đã có từ lâu đời. Có những bụi luồng đã sống hàng trăm năm. Chưa thấy cây luồng ra hoa kết quả (khuy) hàng loạt như nứa, vầu, bương, mà chỉ phát sinh khuy cục bộ. Cây luồng trước khi khuy (ra hoa) thường tạo thành từng chùm lá hình tròn như tổ ong ở nhánh luồng. Khi xuất hiện các “tổ ong” bằng lá luồng còn xanh ở ngọn luồng thì nên chặt bỏ cây đó đi để tránh lan sang cây khác. Đây chính là hiện tượng sâu hại luồng và làm cho cây luồng yếu đi dẫn đến việc ra hoa sớm.

Lâu nay rừng luồng trên Quan Sơn mới ra hoa cục bộ, do đó nhân dân vẫn phát triển trồng luồng. Có hộ trồng đến 30ha. Mỗi bụi luồng hằng năm cho măng đạt tiêu chuẩn từ 3 - 10 cây tùy đất tốt, xấu và thời tiết khí hậu phù hợp. Trên địa bàn Quan Sơn đến năm 2010 có 8.400ha rừng luồng thuần loài đã thành thục, mỗi héc-ta có từ 250 - 300 gốc, mỗi gốc thu từ 3 - 5 cây/năm, mỗi cây bán giá bình quân 15.000 đồng/cây, là nguồn thu khá lớn của đồng bào. Mỗi năm Quan Sơn khai thác và bán ra thị trường từ 6 - 8 triệu cây luồng, cây luồng Quan Sơn to, thẳng. Nhiều khu rừng luồng, luồng phao (luồng to) chiếm đến 30%, giá mỗi cây luồng phao bán tại chỗ khoảng 25.000 - 27.000 đồng/cây. Để tận dụng nguyên liệu tại chỗ, những năm gần đây đã xuất hiện nhiều xưởng chế biến đũa. Mỗi năm các xưởng tiêu thụ hàng triệu cây luồng tại chỗ cho nhân dân, tạo thêm việc làm và thu nhập cho đồng bào vùng cao.

Cây luồng dễ trồng, phát triển nhanh, sớm đưa lại hiệu quả kinh tế và môi trường do tàn che rộng, rễ dày, chống xói mòn đất. Là cây “xóa đói giảm nghèo” của đồng bào Quan Sơn. Hiện nay trữ lượng cây luồng chiếm ưu thế về rừng trồng và chiếm khoảng 15% trữ lượng cây họ tre, trúc trên địa bàn. Là nguồn nguyên liệu dồi dào cho xây dựng cơ bản và chế biến đũa luồng.

Cây tre gai: tiếng Thái gọi là “Co phéo nám” được trồng từ trước tới nay ở xung quanh làng, bản, ven sông suối, ven ruộng, vườn, làm tác dụng hàng rào che chắn. Kỹ thuật trồng tre như trồng luồng.

Đồng bào Quan Sơn ít sử dụng cây tre trong cuộc sống hàng ngày, chủ yếu trồng tre gai để chắn gió, chắn bụi, thay tường rào bảo vệ ruộng vườn, cây cối, làng bản. Trữ lượng tre gai trên Quan Sơn ít, chiếm dưới 0,1% trữ lượng họ tre, trúc trên địa bàn. Đường kính cây tre to đến 12cm, dài 10m.

Cây song sào: tiếng Thái gọi là “Co phéo khóng” cây song sào (tre nhỏ) thuộc loại tre gai mọc thành bụi nhưng có đường kính thân cây nhỏ, chỉ khoảng ½ đường kính cây tre gai. Cây song sào thường mọc thẳng, dài 10 - 12m, vút ngọn. Trồng song sào cũng như trồng luồng. Do song sào thẳng, đều, ít bị mối mọt nên đồng bào thường lấy làm đòn tay nhà rất đều, đẹp. Đũa cây song sào cũng là một sản phẩm đẹp, bền, được nhiều người ưa chuộng. Cây song sào có thể trồng ở mọi địa hình, thích hợp nhất là tầng đất dày, có nhiều mùn. Do ít công dụng và khai thác khó (có nhiều gai ở gốc) nên đồng bào ít trồng, mỗi làng chỉ có vài bụi cây song sào. Trữ lượng song sào so với tổng trữ lượng cây họ tre, trúc trên địa bàn Quan Sơn không đáng kể.

Cây mạy cần: tiếng Thái gọi là “mạy cần” là loại cây nhân dân trồng để làm rui nhà, làm đà lát sàn luồng, làm cánh nỏ, cây có hình dạng như cây trúc nhưng đặc ruột, mọc thành bụi. Cây thường đều, thẳng, đường kính gốc cây to khoảng 4 - 5cm, dài 9 - 10m.

Kỹ thuật trồng “mạy cần” cũng tương tự như trồng tre, luồng. Nhưng phần nhiều đào lấy gốc đi trồng. Gốc “mạy cần” không có gai nên khi khai thác dễ chặt. Trữ lượng mạy cần chưa đến 0,1% trữ lượng họ tre, trúc.

Cây mai: tiếng Thái gọi là “mạy mai, mạy mười”, cây to như cây luồng, mọc thành bụi, những cây bánh tẻ thường có phấn trắng, nhiều cây có màu mốc, gốc không có gai, lá mai to và dài hơn lá luồng, nhìn gần giống như lá bương. Cây mai ít sử dụng trong xây dựng, chỉ sử dụng làm bè mảng nơi gần sông nước. Cây mai được đồng bào trồng để lấy măng ăn là chủ yếu. Măng mai ngon, búp măng to. Trên địa bàn Quan Sơn cây mai chỉ trồng ở vườn hộ gia đình, xung quanh nhà, thường xuất hiện nhiều ở các xã: Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Tiến, Trung Thượng. Các xã vùng trên hầu như không có cây mai vì đồng bào có nhiều luồng và bương nên ít dùng đến cây mai, măng mai.

Kỹ thuật trồng cây mai cũng như trồng cây luồng, cây mai thành thục đường kính gốc có thể từ 12 - 15cm, chiều cao từ 10 - 12m. Hình dáng cây mai không đẹp và chắc như cây luồng. Cây mai thường mắt to, cật thô, ráp, thớ mai mềm xốp trong khi cây luồng có cật bóng, thớ, trắng, dai khỏe. Trữ lượng cây mai trên địa bàn Quan Sơn chiếm dưới 0,1% trữ lượng cây họ tre, trúc.

Tre ngà (Tre vàng): tiếng Thái là “mạy phéo khằm”, cây tre vàng về hình dáng giống cây tre nhưng có đường kính nhỏ hơn. Toàn thân cành nhánh có màu vàng nên gọi là tre vàng (phéo khằm). Trước đây tre vàng xuất hiện ở Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Điện, Mường Mìn, nay ít thấy đồng bào trồng.

Đặc điểm cây tre này cứng dẻo hơn cây tre thường nên đồng bào thường làm cánh nỏ cùng với cây mạy cần.

Tre La Nga: tiếng Thái là “Có La Nga” Loại tre này to, dài, từ gốc đến ngọn dài 30m, có gai nhưng mềm hơn tre gai (Có phéo hóa), gai mềm như gai tre song (Có phéo khóng).

Cây luồng vàng: tiếng Thái gọi là “luồng khằm”. Cây luồng vàng có hình dáng bên ngoài như cây luồng nhưng cành, nhánh có màu vàng. Cây luồng vàng ít sử dụng trong xây dựng cơ bản, chủ yếu trồng làm cảnh nơi cổng làng, nơi nghĩa địa để tôn thờ thần linh, hồn vía con người. Từ cây luồng vàng có nhiều câu ca tục ngữ, bài khặp tả cảnh vật rất đẹp và duyên dáng như một nàng tiên.

1.7.3.3. Các loại cây dược liệu và lâm sản khác

Trên địa bàn huyện Quan Sơn có rất nhiều cây dược liệu quý, mọc trong rừng, ngoài đồng, bên cạnh đường đi, có loại cây thân gỗ, có loại thân thảo (cỏ), có loại dây leo, củ, quả.

Loại cây thân gỗ làm thuốc có nhiều loại, chữa được nhiều bệnh, trong đó cây thành ngạnh vàng phối hợp cùng ngô đá, cây khế chữa bệnh thận.

Cây thảo dược cũng có nhiều loại chữa được nhiều thứ bệnh, công ty dược thường mua như: thiên niên kiện, củ ba mươi, sa nhân, củ mài, củ nâu chó, hà thủ ô, vỏ quế, lá quế, quả cây mát.

Trong rừng Quan Sơn còn nhiều lâm sản phụ như: song, mây, lá dong, chuối rừng, củ nâu, dây móc, lá cọ, lá kè... đều có tác dụng thiết thực với đời sống đồng bào và trở thành hàng hóa đem lại lợi ích kinh tế không nhỏ. Đó là nguồn lợi do sản phẩm rừng đem lại cho đồng bào.

Cây đót, cây bông lau cũng là sản phẩm rừng có giá trị. Bông đót làm chổi, bông lau làm đệm ngồi, đệm nằm là những sản phẩm hàng hóa, vật dụng gia đình không thể thiếu trong đời sống đồng bào Quan Sơn cũng như phục vụ nhu cầu chung của xã hội.

Cây guột ở Quan Sơn cũng nhiều, guột là nguyên liệu làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu rất có giá trị, được nhiều khách hàng trong và ngoài nước đặt mua.

Các loại quả như quả trám hồng, trám đen, hạt trẩu, hạt quế là những sản phẩm ở Quan Sơn mà thị trường luôn cần đến. Đặc biệt, ở bản Tân Sơn, xã Sơn Điện có rừng giống lim duy nhất của tỉnh Thanh Hóa được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa cấp chứng chỉ rừng giống của tỉnh. Mấy năm gần đây, nhiều cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp trong tỉnh ta đã đến mua với số lượng khá lớn, chất lượng hạt rất tốt. Hạt quế ở trên địa bàn xã Na Mèo, huyện Quan Sơn những năm qua cũng là nguồn giống tốt mỗi năm bán ra thị trường trong và ngoài tỉnh hàng tấn hạt. Ngoài ra, trong rừng Quan Sơn còn có nhiều loại rau rừng ăn rất ngon, số lượng nhiều, có những loại rau rừng là vị thuốc rất hiệu nghiệm, chữa được nhiều bệnh cho người và gia súc.

1.7.4. Động vật

1.7.4.1. Đặc điểm chung

Hệ động vật của Quan Sơn rất phong phú, đa dạng, bao gồm cả động vật trên cạn lẫn động vật d­­ưới n­ư­ớc, cả động vật bản địa lẫn động vật di cư­­ đến, cả động vật tự nhiên lẫn động vật do con ng­­ười nuôi,... các động vật này có giá trị nhiều mặt: cung cấp thịt, dùng làm thuốc, làm đồ trang sức, làm cảnh và dùng để nghiên cứu khoa học. Lãnh thổ Quan Sơn có 4 quần cư­­ động vật trên cạn chính:

Quần cư­­ động vật ở rừng gỗ và trảng cây. Quần cư này phân bố tại các khu rừng giàu, rừng trung bình, rừng hỗn giao gỗ, tre, nứa. Quần cư­­ này có các loài ăn sâu bọ, lá, quả cây, ăn thịt, sống trên cây, trên đất. Một số loài đặc trưng là: nhái bén, thằn lằn, nhông xanh, trĩ, trĩ sao, cu xanh đuôi nhọn, vẹt đậu xám, cày lon, thỏ, sóc bụng xám, sóc chân vàng, gà rừng, gõ kiến, bìm bịp, cày h­­ương, lợn rừng,... Một số loài quý hiếm là lợn rừng, khỉ, nai, gấu, hổ, gà lôi.

Quần cư­­ động vật ở rừng cây bụi, trảng cỏ. Chúng phân bố tại các khu vực rừng nghèo, đồi cỏ tranh. Quần cư­­ này th­­ường có các loài ăn sâu bọ, chim nhỏ ăn hạt, ăn sâu, thú ăn hạt, rễ, lá, cỏ ở đất. Một số loài đặc trưng là: ếch cây, rắn giun, rắn roi, cun cút, chèo bẻo, chuột chù, chuột nhắt, chuột dũi, cáo lửa, thỏ rừng, cày lon, gà rừng, gà gô, sóc bụng đỏ,...

Quần cư­­ động vật ở rừng tre, nứa, luồng, vầu, giang. Quần cư­­ này có các loài sống ở hốc tre hay d­­ưới đất, ít khi sống trên cây, hay trên đất, th­­ường ăn rễ, sâu bọ. Một số loài đặc trư­­ng: ếch cây, rắn giun, gà rừng, gõ kiến, chuột khuy, tắc kè, trăn đất, thằn lằn bóng đuôi dài, chuột nứa, tê tê, rùa...

 Quần c­ư động vật đồng ruộng và đồi thấp. Quần cư­­ này có các loài đặc trưng ếch, nhái, bò sát ăn sâu bọ thư­­ờng ở n­­ước, chim thú ăn hạt. Các loài đặc trư­­ng là ếch đồng, rắn n­­ước, sơn ca, cu gáy, sáo mỏ ngà, chuột nhắt, chuột đồng,... ngoài ra có thêm thằn lằn bóng đuôi dài, nhái, cóc nhà, thạch sùng đuôi sần, tê tê, cò trắng, chèo bẻo, chào mào, chích choè, chẫu chuộc, cóc.

Phân bố lồng ghép trong các sinh quần cư­­ trên là rất nhiều sâu bọ có hại: rầy nâu, sâu b­ướm hai chấm, sâu cuốn lá nhỏ, sâu cắn gié, bọ xít dài, bọ trĩ, sâu đục thân ngô, sâu xám, sâu xanh, sâu đục quả đậu tương, ruồi đục thân đậu, vòi voi đục thân,vòi voi đục gốc, bọ giáp, sâu khoang.

Quần c­­ư động vật n­­ước ngọt. Quan Sơn có 69,74ha thủy vực nư­­ớc ngọt, chủ yếu là ao, hồ, ruộng... đã được sử dụng để nuôi thủy sản. Ngoài ra, còn hàng trăm héc-ta diện tích mặt nước của sông Luồng, sông Lò. Các thủy vực ở đây có độ sâu trung bình 0,3 - 1,0m; độ pH: 6,7 - 7,5; động vật phù du: 4 -10.104 con/m3; thực vật phù du: 1 - 50.105 tế bào/m3; sinh vật đáy: 2 - 10g/m2. Các giống thủy sinh chính ở Quan Sơn gồm cá chép, cá lăng, cá trê, tôm càng sông, cua đồng, l­ươn, ếch, ốc.

Hiện nay, nguồn loại động vật bị giảm sút nhanh cả về trữ l­­ượng lẫn chủng loại. Nhiều động vật tr­­ước đây rất nhiều hiện không còn nữa hoặc rất hiếm gặp như: voi, sư­­ tử, hổ, tê giác một sừng, công, voọc, bò tót, trâu rừng, khỉ mặt đỏ, khỉ mốc, kỳ đà,... Do đó, cần có chiến l­uợc bảo tồn và phát triển quỹ gen động vật.

1.7.4.2. Một số loài động vật

Động vật rừng phân bố hầu khắp các địa bàn trong huyện, nhất là chuột, bò sát, dơi, sóc, chồn, cáo, hoẵng, lợn lòi xã nào cũng có. Những thú lớn như: báo, hổ, nai, bò rừng, trâu rừng, tê giác, voi thì chỉ một số địa bàn mới có. Riêng tê giác và voi hiện nay không còn, chỉ còn dấu tích của chúng với những câu chuyện truyền miệng của dân gian để lại như: nà luốc chạng (ruộng thung voi), vung hét (ao tê giác). Đó là những nơi mà trước đây voi, tê giác thường đến ăn cỏ, uống nước, tắm mát. Nay chúng không còn, chỉ để lại dấu tích là vết ruộng, ao hồ mà người dân ở địa phương đã đặt tên cho chúng.

Nai, bò tót, bò rừng cũng có thói quen uống nước tập trung ở một số nơi nhất định. Dù đi đâu về đâu cứ đến ngày đến tháng chúng tập trung về nơi chúng ưa thích để uống nước tắm mát. Do đó nhân dân địa phương đã đặt tên các địa danh chúng hay đến như: Pung ngùa (đầm bò), pung quáng (đầm nai). Trước đây những nơi này các thợ săn thường nhớ quy luật chúng sinh hoạt mà đến phục sẵn để săn rất hiệu quả.

Trước thập niên 70 của thế kỷ XX, các loại bò tót, bò rừng còn sống tập trung thành đàn ở Pù Khạn, xã Trung Thượng, bản Đe Nọi, xã Trung Tiến, bản Pa, xã Tam Thanh, bản Xa Mang, xã Sơn Điện, bản Yên, xã Mường Mìn, suối Cài, bản Cha khót, xã Na Mèo, suối Lế, xã Mường Mìn, bản Xia Nọi, Mùa Xuân, xã Sơn Thủy, Nong Uân, Pha Đón, xã Sơn Điện. Hiện nay, ở các địa bàn này đã vắng bóng các thú lớn. Vào khoảng tháng 10 năm 2002 có con trâu rừng khoảng 700kg từ Pha Đón theo đàn trâu nhà của bản Ngàm, xã Sơn Điện về bản. Do thấy nhiều người nên trâu chạy thục mạng lao vào dây chăng điện bị chết. Từ đó đến nay không còn bò tót, bò rừng, trâu rừng xuất hiện.

Động vật không xương

Trùng chân giả (Sên), tiếng Thái gọi là Tô lịn má: Di chuyển bằng chân giả (dùng chất nhờn của thân để di chuyển). Nơi chúng đi qua kéo thành vết nhựa màu bạc kết dính. Thân chúng dẹt như lưỡi chó nên đồng bào Thái gọi là “tố lịn má” (con lưỡi chó).

Trùng chân giả (Sên) sống cả trong rừng, vườn cây, vườn rau, nơi ẩm ướt, dưới thảm mục... không có nọc độc, thức ăn của chúng là thảm mục, thực vật, do vậy chúng thuộc loại động vật có hại cho cây trồng.

Cuốn chiếu, tiếng Thái gọi là tố cớ: Cuốn chiếu là loại động vật chân kép (nhiều chân): mỗi đốt thân có 2 cặp chân. Dao động mỗi con có 40 - 400 chân. Trên thế giới có 10 nghìn loài cuốn chiếu, ở Việt Nam có khoảng 8.000 loài. Loài cuốn chiếu lớn nhất của Thế giới ở Châu Phi có 750 chân. Ở Quan Sơn có các loài cuốn chiếu tròn, nhiều chân như: “tố cớ” cuốn chiếu tròn, “tố cớ pén” cuốn chiếu dẹp hình ngắn hơn và nhiều loài cuốn chiếu khác. Loài cuốn chiếu là động vật ăn vụn hữu cơ. Cũng có khi chúng ăn cả mầm non mới mọc như mầm lúa, mầm ngô, khoai, rau... Do đó, chúng góp phần gây hại cho cây trồng.

Ốc rừng: Ốc ở Quan Sơn có cả trên rừng tự nhiên (nhất là núi đá) rừng trồng, vườn cây, bãi cỏ, dưới ao hồ, sông suối. Ốc ở Quan Sơn có nhiều loài với hình dáng, kích thước khác nhau, nhiều loài ăn ngon, bổ. Nhất là ốc ở các sông và suối lớn.

Ốc núi, tiếng Thái gọi là “tô hoi pù, hoi pha”, đồng bào ít ăn, chỉ mang về chăn nuôi lợn, ếch, cá trê lai hoặc bắt để diệt tránh chúng phá hoa màu. Ốc sống dưới ao, hồ, ruộng có hình hơi tròn, vỏ mỏng, thân to hơn ốc sông suối. Tiếng Thái gọi là “hoi na” (ốc ruộng). Loài này đồng bào thường bắt về ăn. Nhưng trước khi ăn phải ngâm nước gạo 1 buổi để thải bùn và tạp chất ra ngoài. Ốc sông suối: mình nhỏ và dài, loại có gai, có loại trơn, vỏ cứng. Loài này đồng bào thường bắt về chế biến thành nhiều món ăn rất ngon, bổ. Hiện nay, do sông suối bị ô nhiễm nguồn nước, chỗ chúng ở bị đất bùn phủ lấp nên ốc sông suối không còn nhiều, chỉ nơi nào nước không bị ô nhiễm, sông suối nước trong thì ốc mới còn.

Rết, tiếng Thái là (tố khệp phan). Rết là động vật không xương, chân kép, mỗi đốt thân chúng mọc chân ra 2 bên (mỗi đốt một cặp chân) khác với cuốn chiếu mỗi đốt thân 2 cặp chân. Cuốn chiếu di chuyển chậm chạp thì rết di chuyển rất nhanh nhẹn, linh hoạt (có thể tiến lùi) rất nhanh. Đồng bào Thái đặt tên rết là “khệp phan” vì đầu chúng giống con bét (tô khệp) đầu bét có 2 răng vòng như rết. Rết có thân nâu xậm như con hoẵng chân vàng. Rết có nọc độc, khi bị rết cắn người dân địa phương thường lấy nước bọt gà (được gà mái đang ấp trứng càng tốt) bôi vào vết thương sẽ mau khỏi.

Rết có các cặp chân nhưng thường là số lẻ: 13, 15, 17... cặp. Phần lớn các loài rết có từ 30 - 50 chân, còn bộ rết Geophilomorpha có nhiều chân hơn, có thể đến 350 cái (175 cặp chân). Rết có chiều dài thân hình khi thành thục khoảng 30cm. Hiện trên thế giới có khoảng 8.000 loài rết, trong đó có 3.000 loài đã được mô tả. Ở Việt Nam cũng có nhiều loài rết bao gồm rết nhà, rết rừng, rết có thân màu vàng sậm, chân vàng, có loại thân màu xanh, chân vàng hay còn gọi là rết xanh. Rết xanh nọc độc mạnh hơn rết vàng.

Rết thường sống trên cạn: dưới thảm mục, hốc cây, hốc đất đá, chui vào ống nứa, vầu, đống quần áo, chăn màn, dưới chiếu... sau những cơn mưa rào rết từ các kẽ đá, kẽ đất, dưới lớp lá khô do không chịu được nước thường ra đi tìm nơi trú ẩn, vào cả nhà để trú. Do vậy, khi có mưa phải chú ý đề phòng rết vào nhà, nhất là mùa hè (tháng 4 - 6). Do vậy, đồng bào Thái thường ở nhà sàn để tránh rắn, rết vào nhà.

Ong: Rừng Quan Sơn có nhiều loài ong. Trong đó, ta có thể phân chia thành 2 ngành: ong có mật (ong mật) và ong không có mật. Ong mật thường có 4 loài:

Ong mật - tiếng Thái là “tố châng” loài này thường làm tổ trong hốc cây, hốc đất, kẽ đá... con người hay đem về nuôi. Chúng có thân hình ngắn, bẹp màu vàng, có khoang đen, mỗi đàn có vài ngàn con. Đây là loài ong có lợi bởi hoạt động của chúng giúp thụ phấn cho cây, làm mật cung cấp cho con người một sản phẩm quý. Ong mật khi đốt vào vật chủ thường bị đứt rốn, kim châm cắm lại vật chủ.

Ong khoái - tiếng Thái là “Tố phấng” (phứng). Loài ong này thường làm tổ trên cành cây, vòm núi đá. Thân chúng tròn và dài, lớn hơn ong mật nuôi. Loài này cũng làm mật nhưng không nuôi được. Tổ chúng thường lớn và cho nhiều mật hơn ong mật nuôi. Mỗi đàn có đến hàng vạn con, nhiều nhất có đến 50 ngàn con. Chúng có màu nâu đen, một con có thể đốt vật chủ nhiều lần mà không bị đứt rốn và hung dữ, đốt đau hơn ong mật nuôi.

Ong muỗi - tiếng Thái là “tô mịn”. Loài này có màu đen, thân nhỏ, mỗi đàn có vài trăm con. Tổ của chúng thường làm ở cành cây, lá cây tầm thấp, mật ít, mỗi tổ chỉ được khoảng 650ml mật. Mật loài ong này rất quý vào loại tốt nhất trong các loại mật ong ở Quan Sơn.

Ong muỗi nhỏ - tiếng Thái là “tố khỉ sút”. Loài ong này rất hiếm, chúng có thân hình bé, màu đen, rất hiền. Chúng thường làm tổ ở kẽ đá, hốc cây, trong ống nứa, vầu khô, mỗi đàn vài chục con. Mật của loại ong này đặc quánh, thơm, có màu vàng nâu, vị chua ngọt. Sáp tổ của chúng rất dẻo, có màu đen, thơm dịu. Phụ nữ Thái thường lấy sáp của chúng dùng trong dệt vải (lăn sợi) để sợi bền khó đứt.

Trong một đàn ong loài nào cũng vậy, gồm có: ong cái, ong đực, ong thợ kiêm bảo vệ tổ. Việc xây dựng tổ và nuôi đàn do ong thợ đảm nhiệm, ong thợ là ong cái nhưng không có khả năng sinh sản, thân hình chúng vào loài nhỏ nhất trong đàn.

Ong chúa, con to nhất trong tổ là ong chúa (ong cái) có thân hình lớn, dài, cánh ngắn, chuyên làm nhiệm vụ đẻ trứng cho đàn. Mỗi đàn ong chỉ có một ong chúa. Nếu trong tổ ong mà phát sinh 2 ong chúa trở lên thì chúng sẽ chia đàn, việc chia đàn thường vào mùa xuân, ong chúa sống được khoảng 3 - 5 năm thì chết.

Ong đực, nhỏ hơn ong chúa, to hơn ong thợ, số lượng ít hơn ong thợ. Mỗi tổ ong chỉ vài chục đến vài trăm con ong đực. Ong đực làm nhiệm vụ giao phối với ong chúa, ong đực thường xuất hiện vào mùa hè và chỉ sống được 1, 2 tháng. Sang mùa thu, khi hoàn thành việc giao phối thì chúng bị đuổi ra khỏi tổ và chết do bị bỏ đói.

Ong thợ là ong cái vô sinh, có thân hình nhỏ hơn ong chúa và ong đực. Là lực lượng đông nhất trong đàn, chúng rất siêng năng, cần mẫn làm việc, vừa xây tổ kiếm ăn, tạo mật cho đàn vừa bảo vệ đàn, ong thợ sống được 2 - 6 tháng tuổi.

Ong không mật: thường to hơn ong mật và có nọc độc mạnh, có nhiều loài ong khác nhau. Ở Quan Sơn thường gặp các loại ong không mật là:

- Ong vò vẽ: tiếng Thái là “tố to vao”, thân và bụng thon có khoang đen xen kẽ màu vàng, to, dài hơn ong mật. Đầu của chúng rộng bằng ngực, không nhẵn, có nhiều nốt rỗ lấm chấm nhỏ, lông tơ cứng, ngắn và thưa. Là loài ong hung dữ và đốt rất đau. Ong vò vẽ thường làm tổ nơi lộ thiên, cành cây cao không có lá (nếu cành còn lá chúng sẽ cắn trụi trước khi làm tổ). Tổ ong vò vẽ gồm nhiều lớp, vật liệu làm tổ của chúng chủ yếu là phân trâu, bò khô, lá khô, tổ tròn như quả bóng, quả bưởi, bắp cải, có nhiều lỗ xuôi xuống, nhìn bề mặt nhăn nhúm như mặt qủy nên một số người còn gọi chúng là ong mặt qủy. Ong vò vẽ là loài ăn côn trùng, ấu trùng nhện, ấu trùng loại ong khác. Chỉ có ong thợ mới đốt người và động vật để tự vệ và tranh con mồi. Do vậy thấy tổ ong vò vẽ phải tránh xa hoặc khi chúng đang bắt mồi, ăn mồi không được tấn công chúng. Nếu không chúng sẽ kéo cả đàn đến tấn công đối phương rất dai dẳng quyết liệt. Đến mức lặn xuống nước, chui vào màn cũng không tránh đựơc chúng đốt. Ong vò vẽ thường bị thu hút sự chú ý và tấn công người khi mặc quần áo có màu sặc sỡ bị chúng phát hiện, hoặc gây tiếng động ồn ào gần tổ của chúng, đụng đến tổ và thân của chúng. Khi bị ong đuổi, người ta lấy cành cây, lá chuối tủ vào người, nằm yên chúng sẽ bay qua.

Người dân địa phương thường lấy tổ ong vò vẽ về ban đêm. Bằng cách mặc nhiều đồ bảo hộ che kín người, đem lửa đốt tổ của chúng, đồng thời đốt một đống lửa ở gần tổ để chúng lao vào lửa mà chết. Sở dĩ làm như vậy vì về ban đêm ong vò vẽ thường vào trong tổ ẩn náu, chỉ có vài con ở ngoài canh tổ. Do đó, khi đốt vào tổ chúng không kịp ra sẽ bị chết, những con ở ngoài thấy đống lửa lao vào bị thiêu chết. Tổ của chúng là vật liệu dễ cháy nên thuận lợi cho việc đốt tổ ong vò vẽ. Nhộng ong vò vẽ ăn ngon, ong già ngâm rượu làm thuốc chữa viêm khớp rất tốt.

Ong đất: Còn gọi là ong bắp cày. Ong đất - tiếng Thái gọi là “tô to đín” (tô to khúm), “to mú xi”. Ong đất to hơn ong vò vẽ, thân khoang đen không vàng, có loài thân vàng chấm đen (màu vàng nhiều hơn màu đen) tiếng Thái gọi là “to lương nàng”. Đầu của chúng có 2 râu màu nâu nhạt, râu không có lông. Thân chúng có lông, đầu và ngực có nhiều lông tơ màu vàng. Ong đất cũng có nhiều loài: Có loài làm tổ dưới đất (to khúm), có loài làm tổ ở cành cây sát đất (to mú xi). Loài làm tổ dưới đất có thân to hơn, màu vàng nhiều hơn, hung dữ và đốt đau hơn, tổ lớn đàn đông. Có tổ đến 10 tầng, riêng con nhông (ong non) có thể đến 10kg 1 tổ, ong trưởng thành vài ngàn con một tổ. Loài ong đất làm tổ treo cây hiền hơn, tiếng Thái gọi “to mú xi”, thân hình chúng nhỏ hơn ong ở dưới đất, có màu đỏ đen. Tổ chúng tròn như quả bóng, đàn thường chỉ vài trăm con đến ngàn con, nếu người, súc vật không đụng đến chúng thì chúng không tấn công. Người dân địa phương thường đi bắt ong đất cả 2 loài lấy nhộng để ăn, ong già về ngâm rượu làm thuốc chữa các bệnh sưng cơ, viêm khớp, đau lưng.

Ong bầu: tiếng Thái là “tô to lánh” (ong đỏ). Tổ ong bầu cũng giống tổ ong đất treo cây nhưng nhỏ hơn, mỗi đàn ong bầu chỉ vài chục đến vài trăm con. Ong bầu đốt không đau bằng ong đất, ong vò vẽ. Tổ ong bầu thường làm trên cành cây, trong vườn, trong rừng, trên mái nhà...

 Ong vàng: tiếng Thái là “tô ten lướng” (ten bỏng). Loài ong này có thân nhỏ hơn ong đất, ong vò vẽ, ong bầu, toàn thân chúng có màu vàng. Thường làm tổ ở gốc cây, cành cây, bụi rậm, mái nhà, trong ống nứa, vầu luồng khô. Loài ong này đốt đau không bằng ong đất, ong vò vẽ, ong bầu. Mỗi đàn ong vàng thường có vài chục con đến khoảng một trăm con.

Ong ký sinh: là loài ong nhỏ có lợi cho cây trồng vì chúng bắt côn trùng, đẻ trứng vào ấu trùng sâu, rầy hại lúa, diệt bớt sâu bệnh hại cho cây trồng. Chúng có một số loài sau:

Ong xanh: sống trên ruộng nước và ruộng cạn. Mỗi con ong cái có thể đẻ 10 - 15 con vào ấu trùng của sâu đục thân, sau đó ong non phát triển ăn hết ấu trùng của sâu đục thân.

Ong ký sinh trứng bọ xít nước: Là loài ong ký sinh trên trứng của bướm và bọ xít. Ong ký sinh rất khôn ngoan khi tấn công trứng bướm và bọ xít. Mặc dù bọ xít bảo vệ trứng của chúng rất nghiêm ngặt, khi bị ong tấn công dần dần trứng bọ xít, trứng bướm sẽ bị ong ký sinh hủy hoại.

Ong ký sinh trứng rầy lúa: Có 5 loài ong ký sinh trứng rầy lúa. Trứng rầy lúa khi bị ong ký sinh tấn công sẽ không phát triển thành rẫy được nữa.

Ong ký sinh trứng và nhộng: Loài ong này sống bằng trứng của sâu đục thân, bướm 2 chấm và nhộng của sâu cuốn lá lớn, chúng đẻ một trứng vào trứng ký chủ và từ 20 - 50 trứng vào nhộng ký chủ làm cho trứng và nhộng của ký chủ bị hủy hoại.

Ong đa phối ký sinh sâu cuốn lá nhỏ: Loài ong này thường tìm trứng sâu cuốn lá nhỏ ở cả ruộng nước, ruộng khô (rẫy lúa). Ong ký sinh đẻ trứng lên trứng và sâu non của sâu cuốn lá nhỏ, dần dần ăn hết ký chủ. Trứng ong cắt nhiều lần có 200 - 300 ong non có thể sinh ra từ vài trứng ong.

Ong cự khoang ký sinh sâu đục thân: Là loài ong thường xuất hiện ở ruộng nước chuyên ký sinh sâu đục thân 2 chấm và sâu đục thân mình trắng. Chúng đẻ trứng vào trứng ký chủ. Khi ong non nở trong ký chủ sẽ làm chết ký chủ.

Ong ký sinh sâu đục thân 2 chấm: Ong có màu đen, nhỏ, tấn công trứng và sâu đục thân 2 chấm.

- Động vật lưỡng cư

Loài ếch nhái: Thường sống trong những hốc đá, kẽ đất, dưới thảm mục, thảm tươi ven suối, ven các ao đầm trong rừng. Khi có sự đe dọa đến tính mạng thường nhảy xuống nước chui vào đám rác, hốc đá, bùn đất... để ẩn náu. Ếch nhái thường kiếm ăn về ban đêm, ban ngày trú ngủ nơi ẩn náu. Do vậy nhân dân địa phương thường đốt đuốc hoặc mang đèn đi soi ếch ở các khe suối, bờ ruộng, bờ ao, bên hồ nước, bãi bằng, sau cơn mưa rào chúng ra kiếm ăn nhiều về đêm. Một số như ếch xanh, chão tràng, nhái bầu, ếch có thể sống trên cây.

Ếch vạch (cộp ho), ếch nhẽo (cộp mứn), ếch xanh (tô xa lông) thường ở trong khe suối, nơi rừng già; nhái bén, chão tràng, nhái bầu thường ở gần đầm nước. Vào mùa sinh sản chúng tập trung thành đàn rất đông. Nhân dân đi bắt cả ban ngày, ban đêm có khi được hàng chục kilôgam nhái bầu (tô chóe).

Ếch nhái thường sinh sản bằng trứng chùm dưới nước hoặc trên cành cây ven ao, hồ, sông suối vào tháng 5, 6 đầu mùa mưa hằng năm. Trứng nở nòng nọc, nòng nọc lớn lên có chân, rụng đuôi lên bờ thành ếch, nhái. Ở nước ta hiện đã ghi nhận được 82 loài thuộc 9 họ, 3 bộ ếch nhái thì rừng Quan Sơn cũng gần như xuất hiện đủ các loại ếch nhái của Việt Nam. Tuy nhiên, do bị săn bắt nhiều (cả trứng và cá thể), phun thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ nên ếch nhái trong rừng cũng như ngoài ruộng, ao hồ đã sụt giảm nhiều. Trong đó, nhiều loài gần như tuyệt chủng.

Loài bò sát: Bò sát thường sống trên cạn, một số sống được cả dưới nước, trên cây. Riêng rùa núi chỉ sống trên cạn, kỳ nhông, kỳ đà, rắn có thể ở cả trên cạn, dưới nước, trên cây. Nhất là loài kỳ nhông, tắc kè, môi trường sống chủ yếu là trên cây. Ba ba chủ yếu sống dưới nước. Chu kỳ sinh hoạt của bò sát cả ngày lẫn đêm, nhiệt độ thích hợp nhất là 18 - 400C, vào mùa rét nhiệt độ xuống dưới 180C bò sát ít hoạt động, vào hang ẩn nấp. Các loại rắn hổ, rắn xanh ít xuống nước. Trăn, rắn ăn no có thể ngủ một chỗ từ 4 - 7 ngày mới ra khỏi nơi ẩn nấp để đi kiếm ăn trở lại. Trăn nếu ăn được con mồi lớn thì ngủ dài ngày hơn.

Ở Quan Sơn có loài thằn lằn xanh rất dễ nhiễm điện. Người dân thấy thằn lằn xanh khi trời dông, bão, sấm chớp sắp mưa thường tránh xa chúng để khỏi bị sét đánh ảnh hưởng đến mình.

Bò sát thường đẻ trứng vào ổ, sau khi đẻ chúng ấp trứng (canh trứng) nhất là hổ mang, hổ chúa. Nên mùa tháng 5, 6, 7 người đi rừng phải hết sức cẩn thận đề phòng gặp rắn hổ mang, hổ chúa canh trứng tấn công thì rất nguy hiểm. Trong thời kỳ canh trứng các loại bò sát rất hung dữ (nhất là rắn), khi thấy rắn phải tránh xa.

Trong các loại bò sát, thì rắn dùng hình thức lột xác để tăng trưởng cơ thể. Cứ sau một lần lột xác là một lần chúng tăng trọng lượng, chu kỳ lột xác mỗi năm một lần vào mùa hè là chủ yếu. Chúng có thể lột xác trên cây, dưới đất, trong hang hốc, bụi rậm...

Rắn hổ mang cổ vàng, hổ chúa thường sống ở rừng sâu trong hang hốc kể cả hốc đất, hốc cây, hốc đá tự nhiên hoặc do chuột, nhím đào để lại, trong bụi nứa, vầu, bụi rậm....

Trăn có 2 loại: Loại trăn đất có trọng lượng lớn nhưng hiền hơn trăn gió. Chúng thường sống kiếm ăn dưới đất. Loại trăn gió có trọng lượng nhỏ hơn nhưng hung dữ hơn thường sống bám trên cây khi có người hoặc con mồi đi qua chúng lao xuống cuộn bắt mồi. Cả 2 loại trăn đều ăn thịt, mồm chúng rất rộng, bụng dãn mạnh. Một con trăn có trọng lượng khoảng 20kg có thể nuốt được con hoẵng 30 - 40kg vào bụng. Trăn, rắn ăn không nhai mà nuốt luôn mồi vào bụng sau đó nằm chờ miếng mồi tiêu hóa.

Rùa núi sống trong rừng, cả rừng sâu, rừng già, rừng thứ sinh. Chúng ăn măng, lá cây, tổ mối, cây mục, côn trùng, thực vật rừng. Rùa núi thường ẩn nấp dưới gốc cây, thảm mục, hang đá, hốc đất. Thường đi kiếm ăn vào ban ngày. Trước đây rừng Quan Sơn có 3 loài chủ yếu là: Loài rùa mốc trọng lượng lớn hơn rùa vàng, dân địa phương gọi là rùa đá (tau phá), loài rùa vàng (tau khằm) nhỏ hơn rùa mốc nhưng có giá trị kinh tế cao hơn. Loài thứ 3 là rùa có đuôi (tô cặp coong) nhỏ hơn rùa vàng, có mùi khét nên nhân dân ít dùng đến chúng. Từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, các loại rùa núi ở Quan Sơn bị săn bắt nhiều nên cá thể và loài còn lại rất ít.

 Kỳ đà: Ở rừng Quan Sơn có 2 loài chủ yếu là kỳ đà hoa và kỳ đà mốc. Kỳ đà mốc to hơn, có con trọng lượng đến 20 - 25kg. Kỳ đà thường kiếm ăn ở khe suối, ao đầm trong rừng. Kỳ đà thường sống ở rừng thứ sinh, ít gặp kỳ đà ở rừng nguyên sinh, rừng già.

Loài chim: Ở Quan Sơn trước đây có rất nhiều loài chim, họ và cá thể. Hiện nay tuy đã suy giảm nhưng do diện tích rừng lớn, cây rừng nhiều tạo thức ăn cho chim nên cả loài, họ và cá thể chim vẫn còn khá nhiều. Tuy nhiên, cũng có loài bị tuyệt chủng như: Loài công hiện nay rừng Quan Sơn không còn. Các loài chim khác cũng giảm nhiều về lượng cá thể. Một số họ như gà lôi, trĩ, hồng hoàng, quạ thi thoảng mới thấy xuất hiện. Phần lớn chim thích sống ở rừng thứ sinh, chỉ một số ít như công, trĩ, hồng hoàng mới sống ở rừng già.

Họ chim lặn: Ở Quan Sơn thường thấy loài két. Loài két có lông màu xám hồng, mỏ bẹp như vịt, thường đi ăn ở sông suối ao hồ, lặn dưới nước kiếm mồi. Tiếng Thái địa phương gọi là (tố pệt poong), chim có trọng lượng cá thể khoảng 0,5 - 0,6 kg/con. Họ cò: cò trắng, cò nâu, cò mốc trong đó cò trắng có số cá thể nhiều hơn. Bộ gà: trĩ, gà rừng. Bộ ngỗng: vịt trời (vịt rừng) tuy không nhiều nhưng một số cá thể vẫn thường xuất hiện. Bộ cắt: họ ó, họ ưng, tù tì, đại bàng. Bộ sếu: cun cút, sến, thi thoảng vẫn xuất hiện ở Quan Sơn. Bộ rẽ: gà lôi, choi choi. Bộ bồ câu: bồ câu xám, trắng, xanh (bồ câu nhà và bồ câu rừng). Bộ cúc cu: cúc cu gáy, cúc cu xanh (cúc cu đất), cúc cu xám cổ hoa (nộc pung). Bộ cú: cú mèo, cú lợn. Bộ sả: bói cá xanh, bói cá xám, họ đầu rùi. Họ hồng hoàng có 3 loại: hồng hoàng cổ vàng (nộc cộc khằm), hồng hoàng cổ trắng (nộc ngách), hồng hoàng đen (nộc mè). Họ gõ kiến thường gặp có 2 loài: loài màu nâu có mào, loài lông xám cổ hoa có mào, cả 2 loài có mỏ dài, khỏe. Họ xẻ: có nhiều loài sống thành từng đàn. Họ sáo có: sáo đen (nộc yếng keo), sáo khoang (nộc yếng lang), yểng (nộc yếng khằm viền vàng ở cổ, mỏ vàng).

Trong rừng Quan Sơn có nhiều loài chim, một số loài chim hiện còn tồn tại với số lượng đông, một số loài còn lại ít, một số loài đã thưa thớt. Những năm 60 của thế kỷ XX trở về trước, chim rừng ở Quan Sơn rất nhiều về họ và cá thể. Vào mùa sinh trưởng từng đàn sáo, yểng đông đến hàng ngàn con bay trên bầu trời, chúng đậu đen ở những cây đa, cây si mà chúng thường ăn quả. Từng đàn hồng hoàng (nộc cộc, nộc ngách, cộc mè) đông vài trăm con bay đến rừng cọ, rừng kè, cây trám đen, cây si ăn quả. Khướu cũng bay hàng đàn vài trăm con quanh bản, gà rừng ra ăn chung với gà nhà là chuyện thường thấy.

Đến nay, do rừng nguyên sinh giảm đi, một số cây rừng mà chúng thường ăn quả không còn, thức ăn bị thiếu, hơn nữa nhiều phương tiện săn bắt do đó một số loài chim cũng thưa dần và biến mất. Hồng hoàng, quạ đen rất hiếm, thi thoảng mới thấy vài con bay đến, công không còn. Khướu, sáo cũng bị bắt bán cho người chơi chim cảnh nên số lượng đàn và cá thể bị giảm nhiều so với trước.

Nhận thấy điều này, những năm gần đây huyện Quan Sơn đã có nhiều biện pháp hạn chế việc săn bắt chim thú như thu hồi súng săn, cấm không được dùng lưới bắt chim, cấm làm bẫy chim, bẫy thú. Đây cũng là việc làm bảo vệ môi trường sinh thái mà Đảng bộ và nhân dân Quan Sơn đang rất quan tâm, để vừa nâng cao độ che phủ rừng, làm giàu rừng không chỉ riêng thực vật mà cả động vật cũng cần được hồi sinh, phát triển.

1.8. MÔI TRƯỜNG

1.8.1. Môi trường nước

Nước rất cần thiết cho sự sống của con người. Đủ nước thì con người khỏe mạnh, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu. Do đó, trong nhiều nghìn năm lịch sử, dân gian đã trân trọng, linh thiêng hóa nước, thấy rõ sự tối cần thiết của nước, tác dụng tích cực của nước và cũng thấy cả tác hại của nước và tìm các biện pháp hạn chế tác hại ấy; dân gian cũng có những quy định để bảo vệ nguồn nước sinh hoạt và nguồn nước sản xuất.

Với hai con sông chính là sông Lò, sông Luồng và hàng trăm con suối tự nhiên cùng nhiều ao, hồ, hón. Quan Sơn là huyện có diện tích mặt nước phong phú. Nguồn tài nguyên này đủ cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.

Về cơ bản nguồn nước của Quan Sơn vẫn còn sạch và đạt các tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Tuy nhiên, tại một số khu vực và ở một số thời điểm nhất định, nguồn nước cũng đã bị ô nhiễm. Vào mùa mưa, nguồn nước có hàm lượng phù sa quá cao cũng ảnh hưởng đến nguồn nước sử dụng. Ô nhiễm nhiều nhất là tại các bồn chứa nước thải tù trong các khu phố. Tại thị trấn Quan Sơn tuy chưa có những phân tích hàm lượng độc tố trong nước sông Lò và nước ngầm, song nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ khá lớn cho thấy nguồn nước ở đây cũng bắt đầu bị ô nhiễm trong mùa khô.

Trên diện rộng, từ vài thập kỷ gần đây, do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt và việc sử dụng các loại phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ đã làm cho nguồn nước mặt bị ô nhiễm ở một số khu vực với mức độ khác nhau. Việc các tổ chức và cá nhân mở nhiều con đường vào rừng lấy lâm sản và phục vụ dân sinh kinh tế đã làm mất nhiều rừng, phá vỡ sinh thái rừng, một số khu rừng bị xâm hại, đất đá vùi lấp sông suối làm ảnh hưởng ô nhiễm môi trường. Nước sông Lò, sông Luồng và nhiều dòng suối khác bị đục. Do đó, nguồn cá tự nhiên ở sông suối bị giảm đi rất nhiều. Trước đây, các loài cá dốc sông Lò, sông Luồng từng đàn bơi lội ở các vũng nước sâu, có con to đến 10 - 12kg thì nay hầu như không còn; cá ké, cá lăng, cá chày còn rất thưa thớt không đáng kể. Các sông suối trước đây xanh trong, nay nước đục quanh năm, cá tôm không còn nhiều.

1.8.2. Môi trường không khí

Môi trường không khí ở Quan Sơn nói chung còn trong lành, trừ một số khu vực có hoạt động công nghiệp. Tình trạng ô nhiễm không khí ở Quan Sơn đến nay vẫn chưa đến mức báo động như ở các đô thị, các khu vực tập trung công nghiệp hay đầu mối giao thông.

Tuy nhiên, tại Quan Sơn cũng tiềm ẩn nhiều nhân tố gây ô nhiễm không khí như đốt rẫy (nếu có), cháy rừng, giao thông, sử dụng các loại hóa chất trong nông nghiệp và lâm nghiệp, khói của các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các cơ sở chế biến lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng tại các khu vực đông dân như thị trấn Quan Sơn, Cửa khẩu Na Mèo và các tụ điểm kinh tế - xã hội của các xã. Nhất là một số xưởng chế biến luồng, nứa, vầu, hun sấy đũa luồng, tăm mành, nan cật nứa vầu nếu không chú ý đến bảo vệ môi trường sẽ làm ô nhiễm không khí và ô nhiễm cả nguồn nước. Vì thế các hoạt động sản xuất cần có các giải pháp để hạn chế các nguồn gây ra ô nhiễm không khí.

Huyện Quan Sơn đã có quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, đây là cơ sở tốt để phát triển rừng trên địa bàn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Từng chủ rừng, hộ dân được giao đất lâm nghiệp cần chú ý canh tác thâm canh nâng cao chất lượng rừng, phục hồi rừng, làm giàu đất. Kể cả bón phân cho luồng, nứa, vầu để chống suy thoái nghèo kiệt tài nguyên. Bố trí cây trồng hợp lý, đa dạng, vừa trồng rừng thuần loài vừa trồng rừng hỗn giao cây thân gỗ để tăng độ sinh thủy, làm giàu đất. Giảm trồng luồng thuần loài vì hiện nay diện tích luồng đã nhiều (trên 8.465ha) để trồng vầu, nứa, cây thân gỗ như xoan, lát, keo, dổi, sưa. Rừng luồng làm khô đất, nghèo đất, lá luồng độc cho đất và cây trồng khác. Do vậy cần xem xét cân đối diện tích trồng luồng. Tập trung nhiều biện pháp hữu hiệu để bảo vệ rừng phòng hộ, nhất là phòng hộ đầu nguồn.

*

Từ những nội dung đề cập trên đây cho thấy, Quan Sơn có sự tổng hòa các yếu tố tự nhiên và có vị trí chiến lược quan trọng, là của ngõ phía tây tỉnh Thanh Hóa, của Quân khu 4 và cả nước, là đầu mối giao thương chính giữa hai tỉnh Thanh Hóa (Việt Nam) và Hủa Phăn (Lào).

Điều kiện tự nhiên không những chỉ tạo thế mạnh cho sự phát triển đô thị, công nghiệp, du lịch, mà điều kiện đất đai thổ nhưỡng ở Quan Sơn còn tạo điều kiện cho nơi đây phát triển một nền lâm nghiệp đa dạng cùng với một nền nông nghiệp truyền thống. Bên cạnh các loại đất khá phổ biến ở vùng núi Quan Sơn, nếu được nghiên cứu đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển các loại cây trồng có giá trị của vùng nhiệt đới.

Quan Sơn xứng đáng được chọn là địa bàn quan trọng thu hút đầu tư phát triển kinh tế với các khu chế xuất, khu trung tâm thương mại, cửa khẩu Quốc tế, du lịch. Song song với phát triển, Quan Sơn cần chú ý tới giải pháp bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường đất và nước để những tiềm năng về điều kiện tự nhiên ngày càng phát huy được giá trị, mang tới cho vùng đất này sự phồn vinh bền vững.

 

Chương 2. ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH, DÂN CƯ
2.1. ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH HUYỆN QUAN SƠN QUA CÁC THỜI KỲ

2.1.1. Huyện Quan Sơn trước ngày thành lập
Huyện Quan Sơn trước năm 1996 là tuyến 217 của huyện Quan Hóa. Đây là vùng núi cao, giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, xa xưa ít được khai phá, việc quản lý hành chính từ thời Lê - Trịnh về trước còn lỏng lẻo, hầu như chưa vươn tới(1).
Thời thuộc Hán là miền đất cực tây huyện Đô Lung; thời Tề, đổi tên Đô Lung thành Cát Lung.
Thời Đường: thuộc huyện Trường Lâm.
Thời Đinh, Lê, Lý: không thay đổi.
Thời Trần, Hồ: có thể thuộc huyện Nga Lạc, châu Thanh Hóa.
Thời Lê - Nguyễn: huyện Quan Hóa thực tế hình thành từ thời Lê - Nguyễn. Quá trình hình thành như sau:
Thời Lê, có tên châu Quan Da (do hợp nhất mường Chu Sàn và mường Chu Da), thuộc phủ Thanh Đô (bên cạnh các châu khác là châu Lang Chánh, châu Tàm, châu Sầm).
Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) cho hợp châu Tàm với châu Quan Da để lập ra châu Quan Hóa thuộc phủ Thọ Xuân. Châu Quan Hóa có từ đây. 
Theo Đồng Khánh địa dư chí: châu Quan Hóa từ thời Lý, Trần đến Lê sơ là sách Quan Da; năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời Lê Thánh Tông đổi là châu Quan Da, phủ Thanh Đô thuộc Thanh Hoa thừa tuyên. Các triều sau đều theo như vậy.
Năm Tự Đức thứ 3 (1850), đổi châu Quan Hóa thuộc phủ Quảng Hóa. (nay là huyện Quan Hóa và huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa).
Châu hạt phía đông giáp huyện Cẩm Thủy, phía tây giáp huyện Trình Cố, phía nam giáp châu Lang Chánh, phía bắc giáp Mai Châu, tỉnh Hưng Hóa (tỉnh Hòa Bình ngày nay). Đông - tây cách nhau 154 dặm. Nam - bắc cách nhau 131 dặm.
Toàn châu có 6 tổng:
- Tổng Phú Lệ có 6 xã: Phú Lệ; Phú Nghiêm; Phú Nam; Phú Lễ; Phú Tán; Hồi Xuân.
- Tổng Lực Canh có 4 xã: Lực Canh; Lực Na; Vân Cung; Vân Lung.
- Tổng Cổ Nam có 5 xã: Cổ Nam; Cổ Động; Ái Thượng; Ái Trung; Ái Hạ.
- Tổng Đặc Kiệt có 4 xã: Đặc Kiệt; Đặc Hiền; Bất Căng; Bất Phạt.
- Tổng Hữu Thủy có 5 xã: Hữu Thủy; Sơn Trà; Hữu Xuyên; Trịnh Điện; Trịnh Xá.
- Tổng Quang Chiêm có 4 xã: Quang Chiêm; Khiêm Xung; Sơn Chinh; Sơn Hiên.
Theo Đồng Khánh địa dư chí, thời nhà Nguyễn, tổng Tam Lô (Lư) thuộc châu Lang Chánh gồm 5 xã: Hàm Lô; Thượng Lô; Trung Lô; Hậu Lô; Tuyết Lô nay thuộc vùng đất huyện Quan Sơn, bao gồm các xã: Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Hà, Sơn Lư, thị trấn Quan Sơn và một phần xã Trung Thượng. 
Tổng Hữu Thủy bao gồm 5 xã: Hữu Thủy; Sơn Trà; Hữu Xuyên; Trịnh Điện và Trịnh Xá, nay gồm các xã: Na Mèo, Sơn Thủy, Mường Mìn và Sơn Điện.
Tổng Cổ Nam bao gồm 5 xã: Cổ Nam; Cổ Động; Ái Thượng; Ái Trung; Ái Hạ thuộc châu Quan Hóa, nay thuộc huyện Quan Sơn, gồm các xã: Trung Thượng, Trung Hạ, Trung Xuân và Trung Tiến. Xã Cổ Động (nay là xã Nam Động) huyện Quan Hóa
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Châu Quan Hóa đổi thành huyện Quan Hóa với 32 xã và 01 thị trấn. Huyện Quan Hóa ổn định địa giới cho đến ngày 18 tháng 11 năm 1996. 
Sau đây là bản đồ các châu, phủ thời Đồng Khánh có vùng đất thuộc huyện Quan Sơn ngày nay.
 

Hình 1: Bản đồ vùng đất Quan Sơn thời Đồng Khánh( )

Bản đồ phủ Quảng Hóa

CHÚ THÍCH BẢN ĐỒ PHỦ QUẢNG HÓA
Thời Đồng Khánh, huyện Quan Sơn nằm trong châu Quan Hóa, phủ Quảng Hóa gồm 6 tổng (theo số đã chú thích trên bản đồ):
25. Tổng Quang Chiếu            26. Tổng Lực Canh
27. Tổng Đặc Kiệt            28. Tổng Cổ Nam
29. Tổng Phú Lệ                30. Tổng Hữu Thủy
*Địa giới
1. Phía đông giáp với huyện Tống Sơn và huyện Nga Sơn,
2. Phía tây giáp với huyện Trình Cố,
3. Phía nam giáp với huyện Yên Định và phủ Thiệu Hóa,
4. Phía bắc giáp với huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
* Đường đi
5. Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía tây đến địa giới huyện Cẩm Thủy và châu Quan Hóa, lộ trình 5 ngày đường. 
Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía đông nam đến Ngã Ba Bông qua địa giới 2 huyện Mỹ Hóa và Đông Sơn đến thành tỉnh, lộ trình 1 ngày đường.
Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía bắc qua huyện Thạch Thành đến giáp phủ Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, lộ trình 1 ngày đường. 
6. Một đường Quan báo từ xã Ngọ Xá đến xã Ngọc Âu, dài 2 dặm, rộng 1 trượng.
Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía đông đến xã Ngọ Xá, lộ trình khoảng 1 ngày đường.
* Huyện - Tổng 
A. Huyện Vĩnh Lộc
7. Tổng Cao Mật                8. Tổng Bỉnh Bút
9. Tổng Nam Cai                10. Tổng Thanh Xá
11. Tổng Biện Thượng            12. Tổng Ngọ Xá
13. Sóc Sơn
B. Huyện Thạch Thành
14. Tổng Bỉnh Bút            15. Tổng Ngọc Động
16. Tổng Vân Lung            17. Tổng Trạc Nhật
18. Tổng Hòa Luật            19. Tổng Tự Cường (Cương)
C. Huyện Quảng Tế
20. Tổng Phú Ổ                21. Tổng Quảng Tế
22. Tổng Án Đổ                23. Tổng Cổ Biện
24. Tổng Trường Cát
D. Châu Quan Hóa
25. Tổng Quang Chiếu            26. Tổng Lực Canh
27. Tổng Đặc Kiệt            28. Tổng Cổ Nam
29. Tổng Phú Lệ                30. Tổng Hữu Thủy
E. Huyện Cẩm Thủy 
31. Tổng Quan Hoàng            32. Tổng Vân Trai
33.Tổng Điền Lư                34. Tổng Gia Dụ
35. Tổng Thiết Ống            36. Tổng Sa Lung
37. Tổng Cổ Lũng            38. Tổng Mông Sơn
39. Tổng Cự Lữ
* Khác 
40. Núi An Lão - tổng Hòa Luật        
41. Miếu Văn từ phủ huyện.
42. Núi Hí Mã - tổng Cao Mật        
43. Núi Hùng Lĩnh
44. Thành Nhà Hồ                
45. Núi Đốn Sơn        
46. Núi An Tôn                
47. Núi Mông Cù 
48. Núi Diệu Sơn - tổng Quan Hoàng    
49. Đông Lư Sơn - tổng Quang Chiếu
50. Một đoạn sông Mã từ thượng nguồn qua phủ hạt chảy đến Ngã Ba Bông chia làm 2 nhánh: một nhánh chảy ra cửa biển Bạch Câu, một nhánh đổ ra cửa biển Y Bích.
51, 52, 53. Từ ngã ba Bông chia 2 nhánh; một nhánh chảy ra cửa biển Bạch Câu, một nhánh chảy ra cửa biển Y Bích.
54. Núi Cốc Sơn - tổng Quảng Tế
Hình 2: Bản đồ châu Quan Hóa
CHÚ THÍCH BẢN ĐỒ CHÂU QUAN HÓA
* Địa giới:
1. Phía đông giáp với huyện Cẩm Thủy
2. Phía tây giáp với huyện Trình Cố
3. Phía nam giáp với huyện Lương Chính (Lang Chánh)
4. Phía bắc giáp với huyện Mai Châu, tỉnh Hưng Hóa.
* Đường đi:
5. Một đường nhỏ từ châu hạt đến phủ lị, lộ trình đi khoảng 5 ngày đường. Lại từ phủ lị đến Ngã Ba Bông đi qua địa giới hai huyện Mỹ Hóa và Đông Sơn đến tỉnh thành, lộ trình đi 1 ngày đường.
Một đường nhỏ, phía đông từ xã Phú Nam đi sang phía tây đến đồn Quang Chiêm, lộ trình dài 7 ngày đường.
6. Một đường nhỏ, phía đông từ xã Phú Nghiêm đi sang tây đến xã Vân Lung, lộ trình 7 ngày đường.
Một đường nhỏ, phía đông nam từ xã Phú Nam đi sang tây nam đến xã Sơn Trà, lộ trình 5 ngày đường. 
* Tổng - xã:
A. Tổng Phú Lệ:
7. Xã Phú Nghiêm        8. Xã Hồi Xuân
9. Xã Phú Lệ            10. Xã Phú Lễ
11. Xã Phú Tán            12. Xã Phú Nam
B. Tổng Lực Canh:
13. Xã Lực Canh            14. Xã Vân Cung
15. Xã Vân Lung            16. Xã Lực Na
C. Tổng Cổ Nam:
17. Xã Cổ Nam            18. Xã Cổ Động
19. Xã Ái Thượng        20. Xã Ái Trung
21. Xã Ái Hạ
D. Tổng Đặc Kiệt:
22. Xã Đặc Kiệt            23. Xã Đặc Hiền
24. Xã Bất Phạt            25. Xã Bất Căng
E. Tổng Hữu Thủy:
26. Xã Hữu Thủy            27. Xã Hữu Xuyên
28. Xã Trịnh Ki            29. Xã Trịnh Xá
30. Xã Sơn Trà
G. Tổng Quang Chiêm:
31. Xã Quang Chiêm        32. Xã Sơn Chinh
33. Xã Sơn Hiên            34. Động Lư Sơn
35. Xã Khiêm Xung        36. 
* Khác:
37. Đồn Hồi Xuân - xã Hồi Xuân
38. Đồn Vụng Bể - xã Sơn Trà
39. Đồn Sơn Trà - xã Sơn Trà
40. Đồn Quang Chiêm - xã Quang Chiêm
41. Một đoạn sông Mã, phía tây từ xã Vân Lung chảy sang phía đông đến xã Phú Nghiêm dài 160 dặm, rộng 2 trượng, sâu khoảng 5,6 thước, nước thủy triều không lên đến. 
42. Đồn Đá Phản - xã Lực Canh
Hình 3: Bản đồ Phủ Thọ Xuân

CHÚ THÍCH BẢN ĐỒ PHỦ THỌ XUÂN

* Địa giới:
1. Phía đông giáp với huyện Thụy Nguyên và huyện Đông Sơn
2. Phía tây giáp với huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An
3. Phía nam giáp với huyện Nông Cống
4. Phía bắc giáp với huyện Thụy Nguyên
* Đường đi:
5. Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía đông, qua huyện Đông Sơn đến thành tỉnh, lộ trình 1 ngày đường. 
6. Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía tây đến 2 châu, Lang Chánh và Thường Xuân, lộ trình dài khoảng 3 ngày đường.
Một đường nhỏ từ phủ lị đi về phía nam đến địa giới huyện Nông Cống, lộ trình dài 1 ngày đường.
* Huyện - tổng:
A. Huyện Lôi Dương:
7. Tổng Lôi Dương                8. Tổng Nam Cai
9. Tổng Kiên Thạch                10. Tổng Bất Náo
11. Tổng Diên Hào                12. Tổng Mục Sơn
13. Tổng Bái Đô                    14. Tổng Tam Lộng
15. Núi Nghiêu Sơn                16. Núi Mục        
17. Tổng Lôi Dương
B. Châu Thường Xuân:
18. Tổng Quân Nhân                19. Tổng Trịnh Vạn
20. Tổng Luận Khê                21. Tổng Như Lăng 
22. Núi Cửa Đạt
C. Châu Lang Chánh
23. Tổng Hoài Chính            24. Tổng Thiện Thổ
25. Tổng Nhân Sơn            26. Tổng Tòng Chính
27. Tổng An Thọ                28. Tổng Tam Lư (Lô)
29. Tổng Thuận Chính            30. Tổng Quy Chính
* Khác:
31. Núi Thiêm Sơn 
32. Núi Bầu Gió (Bù Gió)
33. Một đoạn sông Lương (Lương Giang) chảy từ 2 châu Lang Chánh và Thường Xuân xuống đến xã Lỗ Hiền, huyện Lôi Dương.
34. Sông Cao (Cao Giang ) chảy vào sông Lương (Lương Giang )
35. Núi Bầu Doanh (Bù Dinh)
 
Hình 4: Bản đồ châu Lang Chánh
(có tổng Tam Lô - Tam Lư, nay thuộc huyện Quan Sơn)
 
CHÚ THÍCH BẢN ĐỒ CHÂU LƯƠNG CHÍNH (LANG CHÁNH)
* Địa giới:
1. Phía đông giáp với huyện Thụy Nguyên
2. Phía tây giáp với huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
3. Phía nam giáp với huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
4. Phía bắc giáp với huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
* Đường đi:
5. Một đường nhỏ từ tổng Thuận Chính đến đồn Hàm Lư, tổng Tam Lư giáp với huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, lộ trình dài 5 ngày đường.
6. Một đường nhỏ từ xã Trí Nang, tổng Thiện Thổ đến đồn An Khương, tổng Tòng Chánh, lộ trình dài 5 ngày đường.
Một đường nhỏ từ xã Nhân Trầm, tổng Nhân Sơn lên phía bắc đến xã Tuy Tĩnh, tổng Quy Chính, lộ trình dài 2 ngày đường.
* Tổng - xã:
A. Tổng Hoài Chính:
7. Xã Hoài Chính            8. Xã Bàn Phỏng
9. Xã Đức Cái            10. Xã Chiếu Xung
B. Tổng Thuận Chính
11. Xã Đồng Lạc            12. Xã Tự Lạc
13. Xã Tâm Chính        14. Xã Trung Lương
C. Tổng Quy Chính:
15. Xã Tuy Tĩnh            16. Xã Chu Sơn
17. Xã Cần Ước            18. Xã Chính Mô
19. Xã Cảm Mộ            20. Xã Chính Mông
D. Tổng An Thọ:
21. Xã Lâm Luận            22. Xã Tuyết Lô
23. Xã Sơn Lô            24. Xã Thọ Nghĩa
25. Xã An Khương
E. Tổng Tòng Chính
26. Xã Xuân Lung        27. Xã Trang Vịnh
28. Xã Nhượng Bạn        29. Xã Đới Đức
30. Xã Đới Ân            31. Xã Văn Cú
32. Xã An Thạch            33. Xã Kim Luật
34. Xã Ban Chính
G. Tổng Nhân Sơn:
35. Xã Sơn Cao            36. Xã An Nhân
37. Xã Nhân Chẩm        38. Xã Lương Sơn
39. Xã Bất Một
H. Tổng Thiện Thổ:
40. Xã Thiện Giao        41. Xã Thịnh Nang
42. Xã Trí Nang            43. Xã An Thổ
44. Xã Trị Thổ
I. Tổng Tam Lư (Lô):
45. Xã Hàm Lô            46. Xã Thượng Lô
47. Xã Trung Lô            48. Xã Hậu Lô
49. Xã Tuyết Lô
* Khác:
50. Đồn Ninh Lương - xã Ban Chính
51. Đồn Tự Lạc - xã Tự Lạc
52. Đồn Ban Chính - xã Ban Chính 
53. Đồn Trung Lô - xã Trung Lô
54. Đồn Hàm Lô - xã Hàm Lô    
55. Đồn An Khương - xã An Khương
56. Đồn Bát Mọt - xã Bát Mọt    
57. Núi Bầu Doanh (Bù Dinh)
58. Sông Âm, trên từ phía tây chảy xuống phía đông châu hạt nhập vào sông Lương (Lương Giang), dài 150 trượng, rộng 5 trượng, nước thường sâu khoảng 6,7 thước. Không có thủy triều lên xuống. 
59. Thượng nguồn sông Lương (Lương Giang); 
60. Núi Bầu Gió (Bù Gió).
2.1.2. Huyện Quan Sơn thời điểm thành lập (năm 1996)
Ngày 18 tháng 11 năm 1996, thực hiện Nghị định 72/NĐ-CP của Chính phủ, chia tách huyện Quan Hóa thành 3 huyện: Quan Hóa, Quan Sơn và Mường Lát. Địa giới hành chính huyện Quan Sơn chính thức được xác lập tại thời điểm này.
Huyện Quan Sơn thành lập trên cơ sở gồm 9 xã: Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Lư, Sơn Hà, Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Sơn Thủy thuộc huyện Quan Hóa cũ; Diện tích tự nhiên là 93.017,03ha và 29.952 nhân khẩu. Địa điểm huyện lỵ đóng tại xã Sơn Lư (Km 35 đường 217). 
Tên Quan Sơn là từ ghép chữ “Quan” (từ tổ gốc của Quan Hóa) và chữ “Sơn” là núi để đặt tên cho huyện Quan Sơn. 
Như vậy, kể từ ngày 18 tháng 11 năm 1996, huyện Quan Sơn chính thức là một đơn vị hành chính của tỉnh Thanh Hóa. 
2.2. CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CỦA HUYỆN QUAN SƠN THỜI ĐIỂM THÀNH LẬP HUYỆN
2.2.1. Xã Trung Xuân
Trung Xuân là xã duy nhất của huyện Quan Sơn có đất 2 mường. Bao gồm vùng đất của mường Chự, huyện Quan Sơn và mường Ca Da thuộc huyện Quan Hóa. 
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Trung Xuân:
Phía đông giáp thị trấn xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa và xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước.
Phía tây giáp xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn.
Phía nam giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước.
Phía bắc giáp xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa.
Năm 1996, xã Trung Xuân có 297 hộ, 1.284 nhân khẩu, dân cư phân bố gồm 6 bản: Bản La hay còn có tên khác là La Ký thuộc đất mường Chự; bản Cạn thuộc đất mường Chự; bản Mòn thuộc đất mường Chự; bản Piềng Phố thuộc đất Ca Da; bản Muống thuộc đất Ca Da; bản Phú Nam thuộc đất Ca Da (bao gồm các bản: bản Cong Lanh, bản Đum, Quát); bản Phụn thuộc đất Ca Da.
2.2.2. Xã Trung Hạ
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Trung Hạ:
Phía đông giáp xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn; xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước.
Phía tây giáp xã Trung Thượng (nay là xã Trung Tiến).
Phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Phía bắc giáp xã Nam Động, xã Nam Tiến, huyện Quan Hóa.
Xã Trung Hạ năm 1996 có 705 hộ, 2.971 nhân khẩu, dân cư phân bố gồm 06 bản: bản Lợi; bản Din; bản Chiềng Xày; bản Bá; bản Lang hay còn gọi là bản Cha Lang; bản Xanh.
2.2.3. Xã Trung Thượng
Năm 1996, khi thành lập huyện Quan Sơn, xã Trung Thượng có 405 hộ, 1.839 nhân khẩu, dân cư phân bố gồm có các bản: bản Bàng; bản Mảy; bản Khạn; bản Bôn; bản Ngàm; bản Bách; bản Cum; bản Pa Chè; bản Lầm; bản Lốc; bản Tong; bản Pọng; bản Đe; tiểu khu Km 22 (tại Km 22, đường 217: Piềng Xi Li).
2.2.4. Xã Sơn Lư
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Sơn Lư:
Phía đông giáp xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn tại cầu sông Lò.
Phía tây giáp xã Sơn Điện tại Km 49 
Phía nam giáp xã Sơn Hà, xã Tam Lư.
Phía bắc giáp xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn; xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Xã Sơn Lư năm 1996 có 473 hộ, 1.945 nhân khẩu, dân cư phân bố gồm 7 bản: bản Sỏi; bản Bìn; bản Hẹ; bản Hao; bản Bon; bản Păng (bao gồm bản Hiềng và bản Păng gộp lại); bản Lấm.
2.2.5. Xã Sơn Hà
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Sơn Hà:
Phía đông giáp xã Trung Thượng.
Phía tây giáp xã Tam Lư, xã Sơn Lư.
Phía nam giáp xã Yên Khương, huyện Lang Chánh và Mường Pao, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Sơn Lư, thị trấn Quan Sơn.
Xã Sơn Hà năm 1996 có 346 hộ, 1.366 nhân khẩu, dân cư phân bố gồm 06 bản: bản Xum; bản Làu; bản Nà Sắng; bản Hạ; bản Nà Ơi; bản Piềng Làng.
2.2.6. Xã Tam Lư
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Tam Lư:
Phía đông giáp xã Sơn Lư, xã Sơn Hà.
Phía tây giáp xã Tam Thanh, xã Sơn Điện.
Phía nam giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và xã Tam Thanh.
Phía bắc giáp xã Sơn Lư.
Xã Tam Lư năm 1996 có 486 hộ, 2.072 nhân khẩu, dân cư phân bố ở 5 bản: bản Sại (Trung tâm Mường Sại); bản Hậu; bản Tình; bản Muống; bản Hát.
2.2.7. Xã Tam Thanh
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Tam Thanh:
Phía đông giáp xã Tam Lư.
Phía tây giáp xã Sơn Điện.
Phía nam giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Tam Lư.
Xã Tam Thanh năm 1996 có 602 hộ, 2.946 nhân khẩu, dân cư phân bố ở 09 bản: Bản Pa; bản Cha Lung (bao gồm Cha Lung và bản Cha Lan); bản Phe; Bản Sộp Pa (Piềng Pa); bản Kham; bản Bôn (ngày xưa có tên gọi khác là bản Pom Phèn); bản Ngàm (bao gồm các bản nhỏ: Pù Đồn, Pù Vai, Có Hướng hợp lại); bản Mò (còn có tên khác là bản Cháo); bản Nà Ấu.
2.2.8. Xã Sơn Điện
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Sơn Điện:
Phía đông giáp xã Sơn Lư.
 Phía tây giáp xã Sơn Thủy.
Phía nam giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Hiền Kiệt, xã Thiên Phủ, huyện Quan Hóa
Năm 1996, xã Sơn Điện có 1.254 hộ, 5.978 nhân khẩu và 13 bản: Bản Yên (Pọng Yên); bản Chiềng Mìn (bao gồm bản Mìn, Luốc Làu, Chiềng); bản Bơn (Pọng Bơn bao gồm bản Bơn và bản Ngàm); bản Tân Sơn; bản Nhài; bản Na Nghịu; bản Na Lộc (bao gồm bản Nà Lộc và bản Nà Phang Phá); bản Ngàm; bản Xa Mang; bản Ban (Bản Nà Hó); bản Bun; bản Na Hồ; Bản Sủa (Súa).
2.2.9. Xã Sơn Thủy
Thời điểm năm 1996, địa giới hành chính của xã Sơn Thủy:
Phía đông giáp xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn.
Phía tây giáp huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa.
Phía nam giáp xã Sơn Điện (nay là mường Mìn).
Năm 1996, xã Sơn Thủy có 1.134 hộ, 5.476 nhân khẩu và có 19 bản: Bản Na Mèo; bản Km 83 + 87; bản Ché Làu; bản Cha Khót; bản Sộp Huối; bản Na Pọng; bản Hiềng; bản Bo; bản Son; bản Sa Ná; bản Xuân Thành (còn gọi là bản Xia Nưa hoặc bản Hát Tó); bản Thủy Thành (bản Pom Vực + Ka Lóc); bản Chung Sơn (Xia Cang + Xia Tớ hoặc gọi bản Máy); bản Thủy Chung (bản Na Cò); bản Chanh; bản Hiết; bản Cóc; bản Muống; bản Thủy Sơn (bản Na Tuồng).
 
Bảng 4: Thống kê các xã, bản ở Quan Sơn thời điểm năm 1996
TT    Tên xã    Các bản thuộc xã
1    Trung Xuân (7 bản)    Bản La, bản Cạn, bản Mòn, bản Piềng Phố, bản Muống, bản Phú Nam (bao gồm các bản Cong Lanh, Đum, Quát); bản Phụn. 
2    Trung Hạ (6 bản)    Bản Lợi; bản Din; bản Chiềng Xày; bản Bá; bản Lang (Cha Lang); bản Xanh. 
3    Trung Thượng (14 bản)    Bản Bàng; bản Mảy; bản Khạn; bản Bôn; bản Ngàm; bản Bách; bản Cum; bản Pa Chè; bản Lầm; bản Lốc; bản Tong; bản Pọng; bản Đe; tiểu khu Km 22.
4    Sơn Lư (7 bản)    Bản Sỏi, bản Bìn, bản Hẹ; bản Hao, bản Bon, bản Păng (bao gồm bản Hiềng và bản Păng gộp lại); bản Lấm.
5    Sơn Hà (6 bản)    Bản Xum; bản Làu; bản Nà Sắng; bản Hạ; bản Nà Ơi; bản Piềng Làng
6    Tam Lư (6 bản)    Bản Sại, bản Hậu; bản Tình; bản Muống; bản Hát; Piềng Khóe.
7    Tam Thanh (9 bản)    Bản Pa; bản Cha Lung; bản Phe; bản Sộp Pa (Piềng Pa); bản Kham; bản Bôn (tên gọi khác là bản Pom Phèn); bản Ngàm (gồm các bản nhỏ: Pù Đồn, Pù Vai, Có Hướng hợp lại); bản Mò (còn có tên khác là bản Cháo); bản Nà Ấu. 
8    Sơn Điện (13 bản)    Bản Yên (Pọng Yên); bản Chiềng Mìn (bao gồm bản Mìn, Luốc Làu, Chiềng); bản Bơn (Pọng Bơn bao gồm bản Bơn và bản Ngàm); bản Tân Sơn, bản Nhài; bản Na Nghịu; bản Na Lộc (bao gồm bản Nà Lộc và bản Nà Phang Phá); bản Ngàm; bản Xa Mang; bản Ban (Bản Nà Hó); bản Bun; bản Na Hồ; bản Sủa (Súa).
9    Sơn Thủy (19 bản)    Bản Na Mèo; bản Km 83 + 87; bản Ché Làu; bản Cha Khót; bản Sộp Huối; bản Na Pọng; bản Hiềng; bản Bo; bản Son; bản Sa Ná; bản Xuân Thành (bản Xia Nưa hoặc bản Hát Tó); bản Thủy Thành (bản Pom Vực + Ka Lóc); bản Chung Sơn (Xia Cang + Xia Tớ hoặc gọi bản Máy); bản Thủy Chung (bản Na Cò); bản Chanh; bản Hiết; bản Cóc; bản Muống; bản Thủy Sơn (bản Na Tuồng).

2.3. CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH HUYỆN QUAN SƠN HIỆN NAY
Sau khi thành lập huyện, hệ thống tổ chức hành chính cơ sở của huyện Quan Sơn tiếp tục được điều chỉnh liên tục đến năm 2008 mới định hình và ổn định cho đến nay. 
Từ ngày thành lập huyện (năm 1996) đến nay có thêm 04 đơn vị hành chính cơ sở mới của huyện Quan Sơn được thành lập gồm:
- Xã Na Mèo chia tách từ xã Sơn Thủy theo Nghị định số 65/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ.
- Xã Mường Mìn chia tách từ xã Sơn Điện theo Nghị định số 65/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ.
- Thành lập thị trấn Quan Sơn trên cơ sở chia tách từ xã Sơn Lư theo Nghị định số 131/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ.
- Xã Trung Tiến chia tách từ xã Trung Thượng theo Nghị định số 11/CP ngày 28 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ.
Dưới cấp đơn vị hành chính cơ sở, có các bản, khu sau đây:
- Bản Luốc Làu thuộc xã Mường Mìn chia tách từ bản Chiềng vào năm 2008.
- Bản Lấm đổi tên, chia thành các khu 1; 2; 3; 4; 5; 6 của thị trấn Quan Sơn vào năm 2003.
- Bản Na Phường thuộc xã Sơn Điện chia tách từ bản Sủa vào năm 2008.
- Bản Piềng Khóe thuộc xã Tam Lư chia tách từ bản Sại vào năm 2008.
Như vậy, lúc mới thành lập chỉ có 9 xã, với 89 bản, đến năm 2008, số đơn vị hành chính của huyện Quan Sơn đã tăng lên 13 xã, thị trấn, với 99 khu.
Năm 2008 số lượng, tên gọi và địa giới của các đơn vị hành chính cơ sở của huyện Quan Sơn được duy trì ổn định cho đến nay. Dưới đây là bảng thống kê các xã, bản, khu hiện nay của huyện Quan Sơn. Thứ tự các đơn vị hành chính sắp xếp theo khu vực địa hình từ vùng thấp lên vùng cao của huyện Quan Sơn.
Bảng 5: Thống kê các xã, bản, khu ở Quan Sơn hiện nay
TT    Xã, thị trấn    Các bản thuộc xã, thị trấn    Ghi chú
(Thuộc các mường)
1    Xã Trung Xuân (7 bản)    Bản Cạn, bản La, bản Mòn, bản Piềng Phố, bản Muống, bản Phú Nam, bản Phụn.    Các bản: Cạn, La thuộc mường Chự; Mòn(1)
Các bản: Phụn, Phú Nam, Muống, Piềng Phố thuộc mường Ca Da
2    Xã Trung Hạ (7 bản)    Bản Lang, bản Xanh, bản Bá, bản Chiềng, bản Xày, bản Din, bản Lợi.    mường Chự
3    Xã Trung Tiến (8 bản)    Bản Tong, bản Pọng, bản Đe, bản Lốc, bản Lầm, bản Chè (Pa Chè), bản Cum, tiểu khu Km 22     mường Chự
4    Xã Trung Thượng (6 bản)    Bản Bách, bản Ngàm, bản Bôn, bản Khạn, bản Máy, bản Bàng.    mường Chự
5    Thị trấn Quan Sơn    Khu 6, Khu 5, Khu 4, Khu 3, Khu 2, Khu 1.    mường Hạ
6    Xã Sơn Lư (6 bản)    Bản Păng, bản Bon, bản Hao, bản Hẹ, bản Sỏi, bản Bìn.    mường Hạ
7    Xã Sơn Hà (6 bản)    Bản Xum, bản Làu, bản Nà Sắng, bản Nà Ơi, bản Hạ, bản Piềng Làng.    mường Hạ
8    Xã Tam Lư (6 bản)    Bản Hát, bản Hậu(1), bản Tình, bản Muống, bản Sại, bản Piềng Khóe.    mường Sại
9    Xã Tam Thanh (9 bản)    Bản Nà Ấu, bản Mò, bản Piềng Pa, bản Bôn, bản Ngàm, bản Kham, bản Phe, bản Cha Lung, bản Pa.    mường Mò
10    Xã Sơn Điện (11 bản)    Bản Sủa, bản Na Phường, bản Na Hồ, bản Bun, bản Ban, bản Xa Mang, bản Ngàm, bản Na Lộc, bản Na Nghịu, bản Nhài, bản Tân Sơn.    mường Mìn
11    Xã Mường Mìn (5 bản)    Bản Chiềng, bản Luốc Làu, bản Bơn, bản Mìn, bản Yên.    mường Mìn
12    Xã Sơn Thủy (12 bản)    Bản Thủy Sơn, bản Chung Sơn, bản Thủy Chung, bản Muống, bản Cóc, bản Hiết, bản Chanh, bản Khà, bản Xia Nọi, bản Mùa Xuân, bản Xuân Thành, bản Thủy Thành.    mường Xia
13    Xã Na Mèo (10 bản)    Bản Bo, bản Hiềng, bản Sa Ná, bản Son, bản Sộp Huối, bản Na Pọng, bản Cha Khót, bản Km 83 (Sộp Cài), bản Na Mèo, bản Ché Làu    mường Xia
2.3.1. Xã Trung Xuân
2.3.1.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Xã Trung Xuân có vị trí địa lý: phía đông giáp thị trấn Quan Hóa, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa và xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; phía tây giáp xã Trung Hạ; phía nam giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; phía bắc giáp xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Trung Xuân theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 4.908,39ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 4.349,04ha. 
Đất phi nông nghiệp: 157,07ha.
Đất chưa sử dụng: 402,28ha.
Tổng dân số xã Trung Xuân theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 1.738 người. Trong đó: nam giới 868 người, nữ giới 870 người; mật độ dân số 35 người/km2.
Người Thái là dân tộc sinh sống lâu đời trong xã, chiếm 98% tổng dân số toàn xã. Các dân tộc khác phần lớn là dân cư nơi khác đến sinh sống và làm dâu, rể trong các gia đình người Thái. Các dòng họ trong xã có: họ Hà, Phạm, Lữ, Vi, Lò, Ngân, Lương, Đinh, Cao, Lê, Đỗ.
Xã Trung Xuân được tách ra từ xã Hồi Xuân thuộc huyện Quan Hóa và một phần của xã Trung Hạ, huyện Quan Hóa nên gọi là xã Trung Xuân.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các bản Muống, bản Phụn, bản Đum đã thành lập một xã riêng gọi là xã Phú Nam, có đủ tư cách pháp nhân hoạt động dưới chế độ thực dân phong kiến. Tuy nhiên, do quản lý điều hành của bộ máy chính quyền không tốt nên chỉ tồn tại được 5 năm thì bị giải tán, xã được sát nhập vào xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.
Năm 1996, xã Trung Xuân (huyện Quan Hóa) được chia tách từ xã Trung Hạ và xã Trung Thượng theo Quyết định số 98/QĐ ngày 21/6/1966 của Bộ Nội vụ. Khi chia tách thành lập, xã Trung Xuân bao gồm đất của 2 mường là mường Chự và mường Ca Da thuộc châu Quan Hóa (huyện Quan Hóa). Đây là xã duy nhất của huyện Quan Sơn có đất 2 mường.
Hiện nay, xã Trung Xuân gồm các bản: bản La (còn có tên khác là La Ký); bản Cạn; bản Mòn thuộc mường Chự; bản Piềng Phố; bản Muống; bản Phú Nam (bao gồm các bản Cong Lanh, Đum, Quát); và bản Phụn thuộc mường Ca Da.
Trung Xuân có địa hình phức tạp, có nhiều đồi núi, chủ yếu là núi đá nên điều kiện kinh tế khó phát triển, ruộng nước ít, các piềng bãi bên sông Lò không rộng, được bà con trồng ngô, trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi trâu bò.
Những núi đất thấp, đồng bào trồng luồng nhưng diện tích ít. Tài nguyên rừng như gỗ, vầu, nứa so với các xã khác không đáng kể.
Trên địa bàn xã Trung Xuân có nhiều phong cảnh đẹp có thể khai thác du lịch sinh thái:
- Pù Cọ có hang núi đá khá đẹp và rộng rãi, có thể chứa hàng trăm người. Năm 1962, Mỹ thả biệt kích xuống vùng này và bọn phỉ đã trú ẩn ở hang Pù Cọ nên đồng bào còn gọi hang này là “Hang phỉ”. Hang Bóng, hang Nặm Kháu Hu, hang Ma No, Cánh Tạng (sông Lò) thuộc đất bản Phụn, Pha Lý, Pha Sói, Pha Dờn (có quan tài cổ). 
- Hang Pẹo Piềng Chang thuộc đất bản Phú Nam, là địa danh kỳ vĩ, thiên nhiên ban tặng cho xã Trung Xuân.
2.3.1.2. Các bản thuộc xã Trung Xuân
Bản Phụn
Bản Phụn trước đây gồm có hai bản là bản Phụn và bản Ong, về sau gọi chung là bản Phụn. 
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Phụn thuộc mường Ca Da, tổng Phú Nam, châu Quan Hóa.
Bản Phụn có vị trí địa lý: phía đông nam giáp bản Phú Nam; phía đông giáp bản Piềng Chang; phía tây giáp bản Mòn; phía tây bắc giáp bản Muống; phía nam giáp với bản Piềng Phố, bản La.
Trên địa bàn bản có con sông Lò, suối Phụn, suối Ong, mó Phụn và mó Hó. Người dân bản Phụn làm ăn, canh tác trên các xứ đồng: Nà Bó, Nà Pung Phục, Nà Pung Ong, Nà Tậu, Nà Trý Mớ, Nà Phụn, Nà Tén, Nà Chá, Nà Oi Nu, Nà Sai, Nà Héo Muống,...
Bản Phụn gồm 2 dân tộc Thái và Mường; trong đó, chủ yếu là người Thái (143 người). Dân cư sống tập trung hai bên bờ sông Lò. Bản Phụn có các dòng họ là Đinh Công, Hà Văn, Lữ Văn, Phạm Bá,...
Bản Phú Nam
Bản Phú Nam trước đây có tên là bản Đum, nay là bản Phú Nam. Bản có vị trí địa lý: phía đông và phía nam giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; phía tây giáp bản La; phía bắc giáp xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.
Bản Phú Nam có suối Đum, mương Đum, mương Có Cại, có núi Pù Tền, hang Pèo.
 Trong bản có các dòng họ là: Hà, Lương, Vi, Phạm, Đinh, và họ Ngân. Các dòng họ này đều có nguồn gốc từ mường Ca Da (Quan Hóa) và mường Đanh (Lang Chánh). 
Bản Muống
Bản Muống có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Piềng Chang, xã Trung Xuân; phía tây giáp bản Ong (thuộc bản Phụn), xã Trung Xuân; phía nam giáp bản Phụn, xã Trung Xuân; phía bắc giáp bản Bút, xã Nam Xuân, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa.
Bản Muống có địa hình đồi, núi cao, có hang động và thung lũng, có con sông Lò dưới chân bản, có những con suối ngang qua hai bên làng. Đặc biệt ở bản Muống có hang Rờn là nơi cất giữ quan tài của người Thái cổ. 
Dân cư bản Muống làm ăn sinh sống bằng nghề nông nghiệp. Tuy nhiên, do địa hình núi cao, diện tích chủ yếu là đồi núi nên bà con sinh sống phụ thuộc vào trồng và khai thác lâm thổ sản. Cây luồng, cây vầu, cây nứa... đem lại nguồn thu nhập chính cho bà con.
Bản Muống có các dòng họ là họ Hà, Vi.
Bản Piềng Phố
Bản Piềng Phố có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Phú Nam; Phía tây giáp sông Lò, bản Mòn; Phía nam giáp bản La; Phía bắc giáp bản Phụn.
Năm 1990, nhân dân trong xã tập trung vào sinh sống ở một vùng đất bằng phẳng và lập thành bản Piềng Phố. 
Bản Piềng Phố có địa hình bằng phẳng (Piềng tức là bằng phẳng), ở phía đông nam có dãy núi Pom Đồn, Pha Phố che chắn. Ở phía tây bắc có con sông Lò chảy qua địa phận của bản, dài khoảng 500m. Ở phía tây nam có Bó Cúng, tiếng phổ thông gọi là Mó Tôm. 
Người dân Piềng Phố sống chủ yếu bằng nghề buôn bán, dịch vụ. Người Thái ở bản Piềng Phố có các dòng họ là Phạm, Hà, Cao, Lữ, Lò, Ngân, Vi. Người Kinh gồm các dòng họ: Đặng, Đinh, Nguyễn.
Bản Mòn
Bản Mòn có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Piềng Phố; phía tây giáp bản Cạn; phía nam giáp bản La; phía bắc giáp bản Bút, xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa.
Theo người xưa kể lại, xưa kia nơi đây là một Piềng (bãi) ở ven sông Lò để hoang thuộc mường Ca Da, tạo mường Ca Da mới cho người đến khai phá để trồng dâu nuôi tằm. Cây dâu, tiếng Thái gọi là “co mòn”. Sau đó đưa một số người họ Lò ở mường Khoòng đến làm các chòi (lán) để trông coi. Các chàng trai, cô gái lấy nhau và sinh sống ở đó luôn. Khi thành bản thì gọi là Piềng Mòn, có người gọi là bản Xuôn Mòn. Về sau gọi là bản Mòn cho đến bây giờ. Từ thế kỷ XVI tạo Ca Da cho con rể là tạo Chự, từ đó bản Mòn chuyển về mường Chự.
Bản Mòn có địa hình đồi núi, với hệ thống sông, suối, hang động dày đặc. Có núi Pù Ngua Nai, núi Pu Thùng, núi Xa Là, núi Pu Na Nọi, có hang Thùng, hang Bong. Có con sông Lò, suối Pù....
Rừng ở bản có nhiều gỗ quý, bản Mòn có ruộng đồng, đất đai phì nhiêu, màu mỡ, nhiều sông suối dày đặc nên rất thuận lợi cho bà con canh tác lúa nước, đảm bảo cuộc sống. 
Người dân bản Mòn vừa sản xuất nông nghiệp vừa phát triển nghề rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đánh bắt cá dưới sông, suối, đào ao thả cá nên đời sống bà con tương đối ổn định và ngày càng phát triển.
Cư dân trong bản đều là dân tộc Thái, gồm có các dòng họ là: họ Lò, Hà, Lữ.
Bản La
Bản La còn có tên gọi khác là bản “La Ký” do ngày xưa bản thuộc mường Ký (xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước) quản lý. 
Tương truyền trong dân gian rằng, có cô gái coi ruộng được chàng trai mường Ký đến tặng cho chiếc xa quay. Xa quay tơ, quay vải tiếng Thái gọi là “La”. Từ đó, người dân của bản biết quay tơ dệt vải. Do vậy mới có tên là bản “La Ký”. Sau này bản La chuyển về mường Chự quản lý nên từ Ký bỏ đi chỉ gọi tên bản La.
Bản La có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Phú Nam; phía tây giáp bản Cạn; phía nam giáp bản Lang, xã Trung Hạ; phía bắc giáp bản Mòn.
Bản La có núi Pù Hô, Pù Cú, Pù Xá La, có con sông Lò đi qua và có hồ Pù Cú. Người dân bản La sinh sống chủ yếu là làm nông nghiệp.
Hiện nay, bản La chủ yếu là người Thái. Người Thái bản La có các dòng họ là Lò, Phạm, Ngân, Lữ. 
Bản Cạn
Bản Cạn có vị trí địa lý: phía đông giáp bản La; phía tây giáp xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa; phía nam giáp xã Trung Hạ; phía bắc giáp bản Mòn.
Tên gọi bản Cạn do tạo mường Chự đặt từ ngày xưa. Tương truyền, một hôm, cả bản lên làm việc cho tạo mường Chự. Trước khi đi ai cũng đeo túi cơm nắm để ăn trưa. Đến nhà tạo, mọi người cùng mắc túi cơm lên chạc sừng nai của nhà tạo đóng vào cột nhà. Chẳng may chạc sừng nai bị loác, từ loác trong tiếng Thái gọi là “Cạn”. Do vậy tạo đặt tên cho dân bản là Tày Cạn (bản Cạn có từ đấy)
Bản Cạn có địa hình đồi, núi cao, có rất nhiều khe, suối, nhiều hang như hang Mạ Đón, hang Pá Háng, hang Pù Cọ, hang Tạo, hang Phỉ. Có con sông Lò, suối Cạn, suối Cắn, suối Pá Ó, suối Mươi Hốc, suối Pù Cọ, mương Khoáng, mương Suối Cắn, mương Bó Dứn, mương Có Phay. Có các động núi: Pù Ngùa, Pù Cọ, bản Cạn đến nay đã đổi tên 3 lần, lúc đầu có 5 nhóm dân cư là: Piềng Túy, Con Lốc, Nà Cắn, Nà Lánh, Đống Hao. Sau khi nhập 5 nhóm dân cư lại gọi là Na Huy, sau sự kiện làm loác sừng nai tạo mường Chự gọi là bản Cạn.
Bản Cạn có thắm Pù Cọ, năm 1962, phỉ nhảy dù xuống ở đó, đồng bào đặt thêm tên gọi là Thắm Phỉ (Hang Phỉ).
Địa hình bản Cạn chủ yếu là núi đồi, rừng cây, sông, suối nên đất canh tác nông nghiệp trồng lúa nước rất ít, bà con sinh sống chủ yếu dựa vào nguồn lợi từ núi rừng. Lâm nghiệp chiếm 60% thu nhập, nông nghiệp chiếm 20% và dịch vụ thương mại chiếm 20%. Đồng bào làm nương rẫy, trồng và khai thác lâm thổ sản như luồng, nứa, vầu, trồng keo, xoan, lát... chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt. Hiện nay, người dân còn trồng ngô, mía, sắn. Môi trường tự nhiên ở bản Cạn rất thuận lợi cho chăn nuôi trâu, bò, phát triển vườn rừng, trồng cây ăn quả. 
Bản Cạn có các dòng họ là họ Hà, Lữ. Cả hai dòng họ này đều từ phía bắc di cư đến đây.
2.3.2. Xã Trung Hạ
2.3.2.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội
Xã Trung Hạ có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn; xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước.
Phía tây giáp xã Trung Tiến.
Phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Phía bắc giáp xã Nam Động, Nam Tiến, huyện Quan Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Trung Hạ theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 3.473,02ha. Trong đó:
 Đất sản xuất nông nghiệp: 3.236,87ha.
 Đất phi nông nghiệp: 216,45ha. 
Đất chưa sử dụng: 19,70ha.
Tổng dân số xã Trung Hạ theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 3.502 người. Trong đó: nam giới 1.752 người, nữ giới 1.750 người; mật độ dân số 101 người/km2.
Tương truyền, vào khoảng thế kỷ XVIII, ông tạo mường Chự thấy đất đai ông cai quản quá ít so với với đất của ông tạo mường Mò nên ông nói: “Thượng chi thì cánh Bé (thác con Dê), hạ chi thì Bo Cúng” (nghĩa là đất của ông bắt đầu từ thác Dê xuống tận Bo Cúng thuộc xã Trung Xuân ngày nay). Ông tạo mường Mò thấy thế cũng tuyên bố: “Núi ki vi Dạ, đá người của Tam Lư” (nghĩa là đất đai của ông cai quản bắt đầu từ núi Dạ (Pù Dạ) bản Chè, xã Trung Hạ (cũ) - xã Trung Tiến ngày nay, đến địa phận xã Tam Lư). Chính vì hai câu nói đó mà hai ông tạo quyết định thi đấu với nhau. 
Chuyện dân gian kể lại rằng: “Ngày xưa mường Mò rất rộng nhưng tạo mường Mò nghiện hút thuốc phiện, ít quan tâm đến dân chúng nên dân mường Mò đói, khổ hơn mường khác lân cận. Nhân dân một số bản kề với mường Chự muốn về với mường Chự sinh sống làm ăn. Nhưng tạo mường Chự nói nếu về thì lấy cả đất cùng về mới cho, nếu chỉ có dân di cư về mường Chự thì không đồng ý.
Từ nguyện vọng đó của nhân dân nên tạo mường Mò và mường Chự tổ chức các cuộc thi, ai thắng sẽ được đất, được dân.
- Cuộc thi thứ nhất: thi xuôi bè, kéo bè theo sông Lò hai bên gặp nhau ở đâu thì chia ranh giới ở đó.
Theo đó tạo mường Chự phải đóng bè kéo bè từ Chiềng Xày (Cửa suối Xày ở Km 19, đường 217 ngày nay) để kéo ngược lên. Tạo mường Chự tinh khôn đã cho đóng ba trạm bè ở những chỗ khuất cách xa nhau về phía thượng nguồn. Trạm trên cùng ở gần suối Mảy Vàng (Km 32, đường 217 ngày nay). Đồng thời giao kèo với người giám sát của mường Mò là do mường Chự phải kéo bè ngược nên người giám sát không được lên bè mà đi theo đường bộ để giám sát. Do vậy khi đi vào chỗ khuất thì bè cũ bỏ lại cho bè trạm trên xuất hành theo kiểu chạy tiếp sức. Nên cùng thời gian như nhau mà bè của mường Chự được nhiều quãng đường hơn bè mường Mò xuôi từ bản Mò, Tam Thanh xuống. Mường Mò thấy lạ không nhất trí cho kiểm tra lại thì quả nhiên mường Chự có 3 bè ở 3 trạm cách xa nhau để tiếp ứng.
- Hai bên tổ chức cuộc thi thứ hai: mổ một con trâu đực to giã làm chẻo ngay chỗ hai bè của hai Mường gặp nhau rồi chia đều cho hai bên của hai mường với số người bằng nhau, sau đó lấy số cơm nếp đồ và chẻo bằng nhau ăn. Đội nào ăn xong trước thì đội đó thắng.
Đội của mường Chự khôn ngoan hơn, vừa lấy cơm chấm vừa dùng 3 đầu ngón tay bốc chẻo trâu kèm vào một ít cơm mỗi lần chấm nên chẻo mau hết, đội mường Chự lại thắng.
Đội mường Mò chưa nhất trí đòi kiểm tra lại thì thấy cơm ở mường Chự còn nhiều mà chẻo thịt trâu mường Chự thì hết, thấy không hợp lý, cuộc thi đó không thành. Hiện nay, ở Cánh Lý phía trên cửa suối Mảy có một tràn đá có chỗ lõm xuống như cối, đây chính là chỗ hai mường giã thịt trâu làm chẻo ăn thi năm xưa.
- Hai bên tổ chức cuộc thi thứ ba là thi cưỡi ngựa: mỗi đoàn chuẩn bị một con ngựa khỏe, một người giỏi cưỡi ngựa cùng xuất phát tại trung tâm mường của mình, có sự giám sát chéo lẫn nhau, hai ngựa xuất phát cùng một giờ khi chúng gặp nhau ở đâu thì chia ranh giới hai mường ở đó. Ngựa mường Mò chạy đến cửa suối Lý (Cánh Bé) dưới cầu sông Lò bây giờ do dự không chịu qua sông Lò. Ngựa của mường Chự lên gặp ở đó nên hai mường thống nhất lấy điểm này làm ranh giới.
Từ đó mường Mò không còn bản Ngàm, bản Bôn do phải giao lại cho mường Chự cùng các bản Bách, Khạn, Mảy, Bàng. Do đó, mường Mò đặt bản Pù Vai thành bản Ngàm, bản Pa Phèn thành bản Bôn mới cho mình, đến bây giờ hai mường đều có bản Ngàm, bản Bôn là vậy.
Sự kiện này theo dân gian kể lại xảy ra cách đây khoảng 5 đời người, tương ứng 300 năm, ta có thể suy diễn vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII (Người Thái xưa tính 60 năm một đời người).
Mường Chự trước kia chia làm 3 xã: Ái Thượng, Ái Hạ và Ái Xuân. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Ái Thượng, Ái Hạ, Ái Xuân sát nhập thành xã Trung Hạ.
Năm 1966, theo Quyết định số 98/NV ngày 21/6/1966 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ chia xã Trung Hạ thành 3 xã: Trung Thượng, Trung Hạ, Trung Xuân.
 Xã Trung Hạ có vị trí giáp ranh với 3 huyện: Quan Hóa, Bá Thước và Lang Chánh. Trung Hạ là trung tâm kinh tế chính trị của mường Chự thời phong kiến.
Các bản thuộc xã Trung Hạ thời điểm đó gồm:
- Bản Lợi (ở bên phía bắc sông Lò, tại Km 21, đường 217). 
- Bản Din (ở Km 20 - 21, đường 217. Bản Din có bãi rộng trước mặt bản. Năm 1933, Pháp xây dựng một nhà thờ đạo tại Piềng Din, nay là Trường THCS Trung Hạ).
- Bản Chiềng Xày - ở Km 9, bản Chiềng Xày là trung tâm mường Chự nên còn có tên gọi khác là Chiềng Chự. Đến năm 2008, Chiềng Xày, tách thành 2 bản lấy tên là bản Xày và bản Chiềng.
- Bản Bá - ở Km 17 - 18 đi vào theo suối Bá. Hiện nay, nhiều hộ dân ra ở theo dọc đường 217, đoạn Km 17 - 18.
- Bản Lang hay còn gọi là bản Cha Lang là bản đầu tiên ta gặp khi lên huyện Quan Sơn theo đường 217 từ đỉnh Pù Đen mường Km 13, đường 217 lên đến Km 16. Trung tâm bản ở Km 14 - 15.
- Bản Xanh - ở thượng nguồn suối Bá, đoạn chảy qua bản gọi là suối Xanh. Bản Xanh nổi tiếng có chè ngon và đá mài tốt.
Khi thành lập, xã Trung Hạ có 705 hộ gồm 2.971 khẩu với 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường, Kinh. Trong đó dân tộc Thái chiếm trên 80%. Đến năm 2010 có 807 hộ với 3.472 nhân khẩu.
Xã Trung Hạ (mường Chự) có ông Nghè Chự, cùng thời với Thượng tướng quân Lò Khằm Ban ở Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, là 2 vị nổi danh nhất thời bấy giờ của Chu Gia và Chu Sàn.
Theo người dân địa phương kể lại, ông Nghè Chự là người có học, tên thật của ông là Hà Quý Công tự là Phúc. Hiện bia mộ của ông an táng tại bản Din, xã Trung Hạ. 
Bản Chiềng Xày là nơi đặt trụ sở làm việc của mường Chự, còn bản Din bây giờ là vùng đất chưa có người ở. Về sau, người dân ra phát rừng làm nương rẫy và làm chòi lán nghỉ, ở cả ngày, đêm, về tối rất mát mẻ, do đó người dân gọi nơi này là Piềng Din (bãi Mát). Thời gian sau, tạo mường Chự thấy vùng đất này vừa rộng, vừa mát, vừa thoáng, có tầm nhìn xa nên tạo đã cho rời nơi làm việc của mường lên Piềng Din (bãi Mát). Hiện nay, nhiều người cao niên vẫn gọi là bản Chiềng Din; một số cụ lại gọi là bản Piềng Din. Nhưng Chiềng Chự là bản Chiềng Xày tạo mường ở cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Trung Hạ là xã vùng thấp của huyện Quan Sơn. Xã Trung Hạ có nhiều đồi núi, khe suối. Núi ở đây có pha nhiều đá, tầng đất mỏng nên thực vật rừng không phát triển, tài nguyên rừng của xã Trung Hạ nghèo hơn các xã khác trong huyện Quan Sơn.
Trên địa bàn xã cũng có nhiều phong cảnh đẹp như: Cánh Tiên của suối Tiên từ xã Lâm Phú chảy sang Trung Hạ. Nơi giáp ranh 2 xã có một thác nước đẹp gọi là Cánh Tiên (thác tiên). Thác bản Xày tại Km 18 do dòng suối Bá đổ xuống sông Lò trên độ cao trên 100m nước tỏa trắng xóa. Mùa nhiều nước nhìn thác này rất đẹp.
2.3.2.2. Các bản thuộc xã Trung Hạ
Bản Lang 
Bản Lang trước đây gọi là bản Cha Lang thuộc mường Chự. Bản Lang có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; phía tây giáp bản Bá; phía nam giáp bản Xanh, xã Trung Hạ; phía bắc giáp bản La, xã Trung Xuân.
Bản Lang có từ xa xưa. Theo các người già trong bản kể lại, trước đây có tên gọi là bản Cha Lang thuộc mường Chự, châu Quan Hóa. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, gọi là bản Cha Lang. Bản Lang không có tạo mường, chỉ có quan Pọng do tạo mường cử đến cai quản.
Vào khoảng thế kỷ XV - XVI, có 3 hộ dân dòng họ Lữ chuyển từ mường Khoòng, huyện Bá Thước, lên khai hoang vỡ ruộng và sinh sống. Thời gian tiếp theo một nhóm họ Lữ chuyển đến cùng làm ăn chung sống. Sau này một số dòng họ khác như họ Hà từ tỉnh Hòa Bình, họ Vi từ huyện Như Xuân; họ Lữ từ bản Cạn xã Trung Xuân chuyển đến. Ban đầu thành lập, bản chỉ có 10 hộ, gồm 30 nhân khẩu.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Lang là một bản hẻo lánh của mường Chự. Trâu bò, hoa màu luôn bị thú dữ ăn thịt, phá hoại. Thậm chí cả người cũng bị thú bắt. Có những lúc do hạn hán, mất mùa, bà con bỏ bản đi nơi khác, làng bản hoang phế, đời sống kinh tế của bà con vô cùng gian khó. Đến khi có điều kiện, bà con lại trở về tái lập lại bản làng.
Đến năm 1956, bản tiếp tục mở mang thêm một số diện tích đất canh tác. Lúc này bản đã có 38 hộ với khoảng 130 nhân khẩu. Dân bản Lang cùng nhau mở mang diện tích lúa nước, khai hoang phục hóa. Các dòng họ đào mương, đắp ao hồ, chủ yếu lấy từ nước mó, khe suối tưới tiêu cho ruộng đồng và trong sinh hoạt hàng ngày. Mặc dù đất rộng, rừng núi cao, có nhiều khe suối, cây rừng phong phú, đa dạng nhiều chủng loại nhưng đời sống kinh tế của bà con còn gặp rất nhiều khó khăn do đường đi, lối lại hiểm trở, lương thực không đủ ăn, bệnh tật thường xuyên xảy ra. Phần lớn là cuộc sống khép kín, tự cấp, tự túc. 
Từ năm 1956 đến nay, bản Lang có trục đường 217 chạy qua với chiều dài 5km nên dân bản sống tập trung chủ yếu dọc theo Quốc lộ 217, giao thông đi lại thuận tiện hơn. 
Từ 1986 đến nay, thực hiện chủ trương đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước, diện tích đất rừng, đất thổ cư giao cho các hộ gia đình quản lý, khai thác chăn nuôi và bảo vệ, cuộc sống của người dân bản Lang đã từng bước được cải thiện, cuộc sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng phong phú, phát triển.
Bản Lang có hai dân tộc Thái và Kinh cùng chung sống đoàn kết, người Thái chiếm 93% dân số. 
Bản Xanh (Sanh)
Bản Xanh tương truyền là do tạo Ca Da đặt cho từ trước năm 1930. Xanh ở đây cũng là làng bản xanh, bản đẹp, bản no đủ, có của để dành lâu đời.
Bản Xanh có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; phía tây giáp bản Bá; phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp bản Lang.
Bản Xanh có các dòng họ: Hà, Ngân, Vi. Họ Hà Văn có nguồn gốc từ làng Bàn Đào, huyện Bá Thước chuyển cư lên vào đầu thế kỷ XVIII. Họ Ngân từ Tống Uống, tỉnh Hòa Bình di cư vào đầu thế kỷ XIX. Họ Vi từ huyện Thường Xuân chuyển lên từ cuối thế kỷ XIX.
Bản Xanh có Pù Ngà (xưa kia nhân dân đi làm nhặt được ngà voi, tiếng Thái gọi là Ngà); Hin Đóng; Hóng Ton; Lanh Non và suối Xanh.
 Bản Bá
Bản có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Xanh và bản Lang; phía tây giáp bản Chiềng Xay; phía nam giáp bản Tiên, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp bản Cạn xã Trung Xuân.
Hiện nay, bản có các dòng họ: Hà, Vi, Ngân, Lữ, Đinh, Phạm. Họ Hà từ phía Bắc vào Hòa Bình, chuyển về huyện Bá Thước, đến cuối thế kỷ XVIII chuyển đến đây khai khẩn đất đai. Họ Vi chuyển từ mường Din, huyện Thường Xuân lên. Họ Ngân có nguồn gốc từ Tống Uống, nay là Mai Châu, tỉnh Hòa Bình di cư đến. Họ Đinh di cư từ Hòa Bình sang đầu thế kỷ XIX.
Bản Bá có các núi, có hang: Pù Húp (tên theo tiếng Thái Húp tức là núi bóng); Pu Ná Dao (tức núi có mặt dài); Thắm Chạng (tức hang Voi). Thời khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi cho quân lên trú và cho voi vào ở trong hang nên còn gọi theo tiếng Thái là “Thắm Chạng”; Pù Quan Bùn.
Suối Bá là con suối chảy dài suốt bản Bá, Xanh, Lang. Bó Lắn là mó nước ấm về mùa đông, lạnh mát về mùa hè.
Bản Chiềng Xày 
Trước năm 1990, bản Xày và Chiềng Xày gọi chung là Chiềng Xày, nay tách ra làm hai bản gọi là Chiềng Xày và bản Xày, nơi đây là trung tâm của mường Chự, sau này mới chuyển mường lên Chiềng Din, cái tên Chiềng Xày vẫn tồn tại đến ngày nay. 
Người già kể lại rằng, vào cuối thế kỷ XV, có ông Chà Nghè đến mường Chự làm tạo mường và mở lớp dạy học, tiếng Thái người dạy học gọi là xày, nên nhân dân gọi địa danh này để nhớ thầy giáo của mình. Tên gọi bản là Chiềng Xày có từ đó.
Bản Chiềng Xày có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bá; phía tây giáp bản Xày; phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp huyện Quan Hóa.
Bản Chiềng Xày chủ yếu là người dân tộc Thái. Người Thái ở bản Chiềng Xày có các dòng họ là: Hà, Vi, Lữ. Họ Hà có hai nhóm: Hà Tạo và Hà Văn; họ Hà chuyển từ Bá Thước lên, một nhánh từ Hòa Bình sang. Họ Vi chuyển từ mường Mót, mường Din, huyện Thường Xuân đến cuối thế kỷ XVIII. Họ Lữ chuyển từ Hòa Bình đến đầu thế kỷ XIX.
Bản Chiềng Xày có suối Xày bắt nguồn từ Pù Pán Mường đổ ra sông Lò. Suối Xày là nguồn nước tưới tiêu chính cho hai bản Chiềng Xày và bản Xày; suối Húp bắt nguồn từ núi Toi Lài (Toi Lài là loại lá trầu khoang mọc ở rừng ăn thay trầu được, nhưng không thơm); huối Đưới (Đưới tiếng Thái gọi ngô là đưới). Từ đó có tên huối Đưới (suối Ngô). Bo Tóng Chính ở sau bản Chiềng Xày tức là mó nước mát tuôn ra ở bãi lá dong, tiếng Thái lá dong gọi là Tong Chính.
Bản Chiềng Xày là bản có truyền thống văn hóa lâu đời. Trong công cuộc xây dựng đất nước, phát triển văn hóa xã hội, bản Chiềng Xày luôn đi đầu trong các phong trào, truyền thống hiếu học cũng là một nét đặc sắc của người dân bản Chiềng Xày. 
Bản Xày 
Bản Xày trước kia thuộc Chiềng Xày, đến năm 1998 chia tách bản Xày làm hai bản đặt tên là bản Xày và Chiềng Xày từ đó đến nay.
Bản Xày có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Chiềng Xày; phía tây giáp bản Din; phía nam giáp bản Tiên, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa. 
Bản có các dòng họ Hà, Văn, họ Hà đến từ Bá Thước và từ Hòa Bình vào cuối thế kỷ XVII.
Họ Vi cũng có hai nhánh: Vi Khăm và Vi Nọi (Vi Nọi tức Vi nhỏ làm dân), họ Vi đến từ mường Mót, mường Din, huyện Thường Xuân ngày nay, một số từ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào di cư xuống. 
Bản Xày có Pù Huống là khu rừng cấm ngày xưa, suối Xày có nhiều nhánh nhỏ hợp thành, ngày xưa các lang đạo cấm khai thác và phát rẫy, khu đầu nguồn con suối này, “Huống” theo tiếng Thái gọi là Cấm.
 Pha Cháo (có ngọn núi cao nhọn hoắt lên như mũi giáo, tiếng Thái gọi là cháo); Pù Có Bá (tiếng Thái cây đa gọi là “Co bá” thuộc cây cổ thụ thiêng của người Thái). Cánh Xúng là thác đổ trên cao xuống (tiếng Thái “Xúng” có nghĩa là cao). Huối Húp (do ở xa lại có nhiều mây mù bao bọc, ta nhìn thấy chỉ có bóng nên tiếng Thái gọi là Húp, (có nơi gọi húp là hớp “hình bóng”). Bo Tá Khao (mó nước có mùi tanh của đồng, tiếng Thái gọi tanh là “khao”).
Bản Din (Dên)
Bản Din là một bản cổ, thuộc mường Chự ngày xưa. Bản Din tọa lạc ở một nơi đất đai màu mỡ, bằng phẳng, thoáng mát nên gọi là Din. Din theo tiếng Thái là mát.
Bản Din có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Xày; phía tây giáp xã Trung Tiến; phía bắc giáp bản Ken, xã Nam Tiến, huyện Quan Hóa; phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Dân trong bản chủ yếu là dân tộc Thái. Ngoài ra có một số người Mường, người Kinh cùng chung sống đoàn kết, hòa thuận trong bản mường.
Thời kỳ đầu mới chỉ có 7 hộ, khoảng 40 nhân khẩu. Đứng đầu bản lúc này là ông Hà Quý Công tự là Phúc. Do lúc đầu số hộ còn ít, chưa nên làng, bản nên mỗi khi có công việc gì lớn phải sát nhập với các bản lân cận là bản Xày, bản Lợi.
Thời gian sau, bản có 12 hộ, khoảng 80 khẩu. Đứng đầu bản là cháu của ông Hà Quý Công, có tên là Hà Văn Tự hay còn gọi là ông Chánh Chự. Bản Din là vùng đất trung tâm của Tạo Cai ngày xưa. 
Ông Hà Quý Công là người đứng đầu bản, sau này là tạo mường Chự, được dân bản tin yêu. Khi giặc Hán sang xâm lược nước ta, đến vùng này, chúng đã đóng đồn ở điểm cao sau bản để quan sát. Nơi giặc đóng quân người dân gọi là Póm Đồn nghĩa là Núi Đồn. Ông Công đã chỉ huy dân bản đánh đuổi lũ giặc xâm lược ở Póm Đồn. Khi ông mất, bọn giặc đã tìm đến đào mộ để lấy hài cốt ông đốt thành than cho vào nòng súng bắn xuống sông cho trôi tất cả. Chính vì vậy, dân bản gọi là Ung Nghiêm (theo tiếng Thái nghĩa là Bác Diêm Sinh). Dấu tích ngôi mộ và đá bia mộ của ông vẫn còn. 
Còn Pha Cốt là một hang sâu trong dãy núi đá của bản. Ngày xưa mỗi khi có giặc xâm lược, người dân thường đến đây trú ẩn - coi nơi đây như là một lô cốt trong lòng núi. 
Bản Din là nơi gần trung tâm của mường Chự nên khi sang xâm lược nước ta, thực dân Pháp lấy nơi đây làm nơi đồn trú, xây một nhà thờ ngay trong bản, đến nay dấu tích nhà thờ vẫn còn bậc cầu thang xây và giếng nước. Hươn Pó Đạo nghĩa là nhà thờ Đạo hoặc nhà cha Đạo.
Bản Din hiện nay có địa hình bằng phẳng, nằm dọc theo sông Lò, con đường Quốc lộ 217 chạy qua giữa bản nên rất thuận tiện cho giao lưu trao đổi hàng hóa, kể cả đường thủy và đường bộ.
Bản Lợi
Bản Lợi có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Din; phía tây giáp bản Tong, xã Trung Tiến; phía nam giáp Khu 22 rừng phòng hộ sông Lò; phía bắc giáp bản Bất, huyện Quan Hóa.
Dân cư trong bản 100% là họ Hà Văn có nguồn gốc từ huyện Bá Thước lên và từ Hòa Bình di cư vào cùng làm ăn sinh sống, xây dựng nên bản Lợi.
Bản Lợi có: suối Bo Mạ, Na Bo ruộng lấy nước bằng mó nước, tiếng Thái mó gọi là Bo; Núi Co Phày là dãy núi có nhiều cây dâu da (tiếng Thái gọi là Co Phày), Pù Pục là trên đỉnh đồi rất nhiều cây bưởi, tiếng Thái bưởi gọi là Mác Pục (Co Pục), Pù Bái là dãy núi có nhiều dây mây, tiếng Thái gọi là Bái.
2.3.3. Xã Trung Tiến
2.3.3.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Xã Trung Tiến có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Trung Hạ tại bản Din.
Phía tây giáp xã Trung Thượng tại khe cạn Trường Tiểu học bản Bách, xã Trung Thượng.
Phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Phía bắc giáp xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Trung Tiến theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 4.005,38ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 3.739,65ha.
Đất phi nông nghiệp: 160,09ha.
Đất chưa sử dụng: 105,64ha.
Tổng dân số xã Trung Tiến theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.968 người. Trong đó: nam giới 1.494 người, nữ giới 1.474 người; mật độ dân số 74 người/km2.
Trung Tiến được tách ra từ xã Trung Thượng. Theo Nghị định số 11/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2008: Thành lập xã Trung Tiến thuộc huyện Quan Sơn trên cơ sở điều chỉnh 4.005,38ha diện tích tự nhiên và 2.935 nhân khẩu của xã Trung Thượng. Sau khi thành lập, xã Trung Tiến có 4.005,38ha diện tích tự nhiên và 2.935 nhân khẩu. 
Xã Trung Tiến gồm các bản sau: bản Cum (còn gọi là bản Cum trong), bản Pa Chè (còn gọi là bản Cum ngoài), bản Lầm (ở phía bắc sông Lò), bản Lốc (ở Km 23, đường 217), bản Tong (ở phía bắc sông Lò và một số hộ ở dọc đường 217), bản Pọng (tên gọi khác là Pọng Đe ở theo đường từ Km 22 đi Nam Động, cách đường 217 khoảng 5km về phía bắc), bản Đe (tên gọi khác là bản Đe Nọi, ở hai bên đường của tuyến đường từ Km 22, đường 217 đi Nam Động. Cách đường 217 khoảng 6km về phía bắc (trong bản Pọng 1km) giáp với bản Bật, xã Nam Động), tiểu khu Km 22 (Khu dân cư của Cán bộ công nhân viên Lâm trường sông Lò, nay là Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Lò).
Về điều kiện địa hình, kinh tế, xã hội của xã Trung Tiến tương đồng với xã Trung Thượng trước khi chia tách thành hai xã là Trung Thượng và Trung Tiến.
2.3.3.2. Các bản và tiểu khu thuộc xã Trung Tiến
Tiểu khu Km 22 
Tiểu khu Km 22 là đơn vị hành chính ở cuối xã Trung Tiến, giáp xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn, có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Din (Dên), xã Trung Hạ, phía tây, phía nam và phía bắc giáp bản Tong.
Tiểu khu Km 22 ngày xưa có tên là Piềng Xy Ly, từ ngày chia tách xã đến nay lấy tên là tiểu khu Km 22, tiểu khu có 3 dân tộc anh em sinh sống là Thái, Mường, Kinh. Tiểu khu chủ yếu là công nhân Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Lò đã về hưu và một số cán bộ, công nhân viên chức sinh sống.
Tiểu khu Km 22 không có đất sản xuất, chủ yếu sống bằng lương hưu, phụ cấp và buôn bán nhỏ lẻ.
Bản Tong 
Bản Tong có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Lợi, xã Trung Hạ; phía tây giáp bản Lầm, bản Pọng, xã Trung Tiến; phía nam giáp bản Lộc, tiểu khu Km 22, xã Trung Tiến; Phía bắc giáp xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Tong trong tiếng Thái là chuối rừng hoặc lá dong. Trước khi thành lập bản ở đây là một bãi rộng có nhiều cây chuối rừng và lá dong với mó nước từ Pha Ngua (núi bò) chảy vào bãi. Ông cha xưa thấy được lợi thế đó đã đến đây lập bản, khai phá làm ruộng nước 2 vụ. Vì thế đồng bào đặt tên bản là bản Tong (bản chuối rừng, lá dong).
Bản Tong trước đây gồm cả Piềng Xy Ly (nay là tiểu khu dân cư Km 22 - tương đương bản) trực thuộc xã Trung Tiến. Piềng Sến đối diện Piềng Xy Ly về phía bắc sông Lò cũng là một bãi rộng thuộc đất bản Tong.
Cư dân đều là người dân tộc Thái. Đồng bào cư trú dọc hai bên sông Lò và tuyến đường 217 nhưng phần lớn ở phía bắc sông Lò.
Phía trong khu dân cư bản Tong có núi đá tên là Pha Ngua (núi bò). Tuy núi không cao lắm nhưng chất lượng đá khá tốt, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật phục vụ xây dựng các công trình cầu đường. Đây là núi đá có chất lượng tốt ở địa bàn huyện Quan Sơn. 
Du khách có dịp lên Quan Sơn khi qua đoạn Km 22 + 200 đường 217 (từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên) sẽ gặp hàng dãy guồng nước (láng lộc nặm) lớn nhỏ xếp hàng dọc, ngày đêm cần mẫn đưa nước sông Lò lên tưới cho cánh đồng bản Tong. Nơi đây có mó nước Pha Ngua chảy ra cánh đồng nhưng không đủ, đồng bào phải lấy nước sông Lò lên tưới ruộng để cày cấy 2 vụ.
Guồng nước tiếng Thái gọi là “Lộc nặm” “Láng Lộc nặm”. Do vậy đối diện với bản Tong về phía nam sông Lò tại Km 23 có một bản tên là bản Lộc. Bản Lộc trước đây cũng làm guồng lấy nước sông Lò lên tưới ruộng như bản Tong nhưng đến năm 1962, bản Lộc đào được tuyến mương dài trên 5km lấy nước suối Cum về tưới ruộng nên bản Lộc không còn sử dụng láng lộc nặm (guồng nước) nữa. 
Thời kỳ thành lập hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, bản Lộc, bản Tong chung một hợp tác xã gọi là HTX nông nghiệp Lộc - Tong. HTX Lộc - Tong là lá cờ đầu đạt 5 tấn/ha/năm, thời kỳ 1964 - 1968. Nhiều nơi trong huyện Quan Hóa cũ đã về đây tập huấn học tập kinh nghiệm.
Bản Pọng
Bản Pọng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Lốc; phía tây giáp bản Đe; phía nam giáp với bản Khạn, xã Trung Thượng; phía bắc giáp bản Tong.
Là bản thuộc vùng núi cao nên bản Pọng có rất nhiều núi đồi, hang động, thung lũng, khe suối. Tiêu biểu là các ngọn núi: Pù Ky, Pù Bau, Pha Ka, Pha Chưng; hang Pha Ka; hang Pù Bau; thung lũng Suối Cuôn, suối Hóm; suối Đe; mó suối Hóm.
Người Thái ở bản Pọng có các dòng họ: Vi, Lương, Hà, Ngân. Đồng bào sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp. 
Bản Đe
Bản Đe có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Lợi, xã Trung Hạ, phía tây giáp bản Khạn, xã Trung Thượng, phía nam giáp bản Pọng, phía bắc giáp bản Bất, xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Bản có con suối Đe chảy qua, ngày xưa có tên gọi là Đe Nọi, có con đường Lốc, Tong - Nam Động đi qua.
Bản Đe được thiên nhiên ưu đãi nhiều tài nguyên rừng, có nhiều con suối nhỏ như suối Bá, suối Hán...
Bản Lốc 
Bản Lốc nằm ở vị trí trung tâm xã Trung Tiến, trước đây gọi là bản Lộc (Lộc - Tong), có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Tiên, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía tây giáp bản Lầm; phía nam giáp bản Chè; phía bắc giáp bản Tong, xã Trung Tiến, huyện Quan Sơn.
Bản Lốc có đường Quốc lộ 217 chạy qua về phía đông nam, phía tây bắc có sông Lò chạy bao quanh bản. Phía tây bắc có cánh đồng lúa 13ha bao bọc bản. Phía nam có con mương Cum bắt nguồn từ suối Cum với chiều dài 5km tưới tiêu cho cánh đồng 13ha.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chính cánh đồng bản Lốc lúc đó gọi là HTX Lộc - Tong (vì 2 bản cùng một HTX) là cánh đồng đạt 5 tấn/ha thuộc loại năng suất cao nhất huyện Quan Hóa lúc bấy giờ.
Dân cư trong bản 100% là dân tộc Thái, thuộc các dòng họ: Vi, Mạc, Hà, Lữ.
Bản Lầm
Bản Lầm nằm ở phía bắc sông Lò. Ngày xưa bản Lầm có tên là bản Lùm (tiếng Thái “Lùm” nghĩa là gió, bản hứng nhiều gió nên đồng bào đặt tên là bản Lùm - bản Gió). Theo năm tháng gọi thành bản Lầm như ngày nay
Bản Lầm có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Tong, bản Lốc, xã Trung Tiến; phía tây giáp bản Bách, xã Trung Thượng; phía nam giáp bản Lốc, phía bắc giáp bản Pọng, xã Trung Tiến. 
Bản Lầm đối diện với bản Lốc từ đỉnh Km 23, đường 217 (tính từ Đồng Tâm, huyện Bá Thước lên) đi vào bên tay phải. Qua bản Lốc, qua sông Lò là đến bản Lầm.
Đất đai bản Lầm không rộng lắm, tài nguyên thiên nhiên cũng dần cạn kiệt. Rừng gỗ, nứa, vầu rất ít. Nhân dân thu nhập chủ yếu nhờ trồng lúa nước và rừng luồng trồng ở các dông núi, ven suối Đe và sông Lò.
Bản Lầm có sông Lò chảy từ bản Bách xuống đoạn qua bản Lầm dài gần 1km. Suối Đe từ bản Đe chảy qua bản Pọng qua bản Lầm và đổ ra sông Lò. Trước những năm 70 của thế kỷ XX, suối Đe, sông Lò lưu lượng nước còn lớn, cá, tôm, cua, ốc ở đoạn sông suối này rất nhiều, là nguồn lợi thủy sản lớn. Nay nước sông, suối đều cạn dần, tôm cá ít dần, nên người dân tự đào ao thả cá để có thêm nguồn thực phẩm cải thiện bữa ăn hàng ngày, tách dần lệ thuộc vào thiên nhiên.
Bản Chè (Pa Chè)
Bản Chè (Pa Chè) có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bách, xã Trung Thượng; phía tây giáp bản Tiên, xã Lâm Phú; phía nam giáp với bản Cum, phía bắc giáp bản Lầm, xã Trung Tiến.
Bản Chè có sông Lò chảy qua, có suối Cum, có mương Na Sân, mó Hín Heo, Có Phó, có hang Thẳm Lum, Keo To, Có Phó...
Người Thái bản Chè có các dòng họ: Hà, Lương, Lữ, và họ Đỗ là họ của người Kinh. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp. 
Bản Cum
Bản Cum có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Tiên, xã Lâm Phú, phía tây giáp bản Ngàm, xã Trung Thượng, phía nam giáp rừng phòng hộ Sông Lò, phía bắc giáp bản Chè, xã Trung Tiến.
Bản Cum có con suối Cum chảy qua bản, bắt nguồn từ rừng phòng hộ sông Lò, núi Pù Mằn, có đường từ Km 25 vào bản.
Ngày xưa bản Cum cùng chung với bản Pa Chè gọi là bản Cum trong, còn bản Pa Chè ngày nay gọi là bản Cum ngoài.
2.3.4. Xã Trung Thượng
2.3.4.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Xã Trung Thượng có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Trung Tiến.
Phía tây giáp thị trấn Quan Sơn.
Phía bắc giáp xã Nam Động, huyện Quan Hóa (Chiềng, Bất).
Phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Trung Thượng theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 5.617,85ha. Trong đó:
 - Đất sản xuất nông nghiệp: 5.109,52ha.
 - Đất phi nông nghiệp: 163,38ha.
 - Đất chưa sử dụng: 344,95ha.
Tổng dân số xã Trung Thượng theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.267 người. Trong đó: nam giới 1.146 người, nữ giới 1.121 người; mật độ dân số 40 người/km2.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ba xã Ái Thượng, Ái Hạ, Ái Xuân sát nhập thành xã Trung Hạ.
Đến năm 1966, theo Quyết định số 98/NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã chia xã Trung Hạ thành 2 xã: 
- Xã Trung Thượng gồm 12 bản: Bàng, Máy, Bôn, Ngàm, Khạn, Bách, Lầm, Cum, Lốc, Tong, Đe Pọng, Đe Nọi.
- Xã Trung Hạ gồm 6 bản: Lợi, Din, Xày, Bá, Xanh, Lang.
Theo Nghị định số 11/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Mường Lát, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa, ngày 23 tháng 12 năm 2008: Thành lập xã Trung Tiến thuộc huyện Quan Sơn trên cơ sở điều chỉnh 4.405,5ha diện tích tự nhiên và 2.935 nhân khẩu của xã Trung Thượng. 
Sau khi thành lập, xã Trung Tiến có 4.405,5ha diện tích tự nhiên và 2.935 nhân khẩu. Địa giới hành chính xã Trung Tiến: phía đông giáp xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn; phía tây giáp xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn; phía nam giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp xã Nam Động, huyện Quan Hóa. Xã Trung Thượng còn lại 5.217,41ha diện tích tự nhiên và 2.894 nhân khẩu.
Hiện nay, xã Trung Thượng gồm các bản: Bách, Ngàm, Bôn, Máy, Khạn và bản Bàng. 
Địa bàn Trung Thượng có nhiều núi đồi, sông suối. Các núi Phá Bang, Phá Phanh ở bản Bàng. Phá Phanh có nghĩa chỉ sự trùng điệp của các ngọn núi. Núi Phá Tót (Tót Nọi, Tót Luống), núi Pù Mằn, Phá Cán đều ở bản Ngàm. Ngoài ra còn có Phá Cốc ở bản Bách.
Các ngọn đồi: đồi Pù Ki ở bản Bách. Pù nghĩa là đồi; còn Ki nghĩa là thiêng, độc. Tương truyền rằng đồi Pù Ki trước đây là ngọn đồi thiêng và độc. Pù Na Pháng, Pù Có Hướng, Pù Na Pọng, Pù Pống (ở bản Ngàm), Pù Có Hướng có nghĩa là đồi cây thị, vì ngọn đồi này ngày xưa có hai cây thị to tự mọc lên giữa rừng rậm, nhưng sau này thì người dân đốn cây để lấy đất làm nương rẫy. Pù Pống nghĩa là đồi cá chuối vì trên ngọn đồi này, ở bất cứ chỗ nào có nước chảy qua đều có rất nhiều cá chuối sinh sống. Pù Pa Nghịu (ở bản Khạn) có nghĩa là đồi cây gạo; Póm Pa Hốc, Pù Pa Mác (ở bản Bàng).
Núi đồi ở Trung Thượng cung cấp nguồn gỗ, sinh vật cảnh, giữ nguồn nước và là nơi sinh sống của rất nhiều loại động, thực vật. Là nơi sinh sống của đại đa số các cây gỗ quí như: sa mu, sến, táu, đinh hương, lát hoa, chò chỉ, dổi, vàng tâm, trầm hương và nhiều loại gỗ tạp khác nên đồi vừa là nguồn tài nguyên, vừa có tác dụng giữ nguồn nước cho các sông suối trên địa bàn.
Địa bàn Trung Thượng có sông Lò chảy qua và các suối như: Suối Pọng, suối Piêng, suối Pa Páo (bản Ngàm). Trong đó, suối Piêng và suối Pa Páo hợp lại thành suối Ngàm, suối Ly, suối Nộc Kệch (bản Bôn).
Xã Trung Thượng tập trung phần lớn là người Thái nên phong tục tập quán, nếp sống văn hóa của cư dân trong xã mang đậm nét văn hóa Thái.
2.3.4. 2. Các bản thuộc xã Trung Thượng
Bản Bách
Bản Bách có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Chè, xã Trung Tiến; phía nam giáp bản Cum; phía tây giáp bản Ngàm; phía bắc giáp bản Pọng, xã Trung Tiến.
Bản Bách có núi hang Phá Cán; hang Phá Bách; đồi Pu Cúc, đồi Cụ Động...
Người dân bản Bách canh tác trên xứ đồng gọi là Nà Piềng Phai Nờ. Đồng bào sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Ngàm
Bản Ngàm có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bách; phía nam giáp núi Pù Mằn; phía tây giáp bản Bôn; phía bắc giáp bản Khạn.
Bản Ngàm có núi Phá Tót và núi Pù Mằn giáp bản Xum. Trong bản có con suối Ngàm chảy qua và một số suối khác như suối Pọng.
Dân tộc Thái chiếm 99,3%. Còn lại là dân tộc Kinh và dân tộc Mường: Người Thái bản Ngàm có 2 dòng họ chính là họ Hà và họ Lữ. Ngoài ra còn có các họ khác như họ Vi, họ Lương...
Ngoài làm ruộng nước, dân bản còn làm nương rẫy, khai thác lâm sản như vầu, nứa, luồng, gỗ. Bà con thường chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm phổ biến như: trâu, bò, lợn, gà theo lối chăn thả.
Bản Ngàm có ông Lữ Văn Vượng sinh năm 1947, là người làm khèn bè nổi tiếng của huyện Quan Sơn. 
Bản Bôn
Bản Bôn có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ngàm; phía nam giáp xã Sơn Hà; phía tây giáp bản Máy; phía bắc giáp bản Khạn.
Bản Bôn có địa hình đồi núi, cao phức tạp. Núi Háng Quén, núi Hín Dón, núi Phá Tót. Đồi Pu Pống, Luốc Ly, Pu Pa Hịa, Phá Me, Buốc Chạng; Hang Phá Quén, Ché Phái, Kanh Kê; Thung lũng Kanh Kè, Nà Bó.
Dòng suối chảy từ trên núi Pù Khạn xuống đến bản gọi là suối Bôn; mương dẫn nước ra đồng gọi là mương Bôn. Mó nước ở đồng Bó gọi là mó Nà Bó.
Bản Bôn có các xứ đồng: Na Quán, Na Pạng, Na Héo, Na Co Cai, Na Bó, Na Mỵ.
Bản Bôn có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường, Kinh. Bản Bôn có hai dòng họ chính là họ Lương và họ Hà và các họ khác như họ Lữ, họ Vi...
Bản Khạn
Bản Phạn có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bách; phía nam giáp bản Máy; phía tây giáp bản Bàng; phía bắc giáp bản Đe, xã Trung Tiến, bản Bất, xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Là một bản thuộc vùng núi cao nên bản Phạn có địa hình chủ yếu là đồi núi, có nhiều hang động, khe suối, mương mó. Tiêu biểu là phá Thắm Đúm, phá Pó Căng Lăng Lươn, phá Giá, phá Phụn. 
Hang động Bo Biêng; thung lũng Thắm Đúm, Piêng Pa Hán.
Suối Khạn, suối Na San; mương Pa Bán, mương Bó Ngoạng, mương Bo Khằm, mó Bo Bản Khạn, mó Bo Khằm, mó Ngoạng. Các xứ đồng: Na Bán, Na Hụa Khoai, Na Húa Tá, Na Héo, Na Sang.
 Dân cư bản Khạn 100% là người dân tộc Thái. Bản Khạn có hai dòng họ là họ Hà và họ Vi. Ngoài ra còn có nhiều họ khác cùng sinh sống. 
Người dân bản Khạn ngoài việc đồng áng, chăm sóc cấy trồng lúa nước, hoa màu, còn lên vùng rừng phá Thắm Đúm, pha Pa Căng Lăng Lươn, phá Giá, phá Phụn, dọc theo Suối Khạn, suối Na San để hái lượm lâm sản.
Bản Máy
Bản Máy có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bôn; phía tây giáp bản Bàng; phía nam giáp khu 6, thị trấn Quan Sơn; phía bắc giáp bản Khạn.
Diện tích tự nhiên của bản là 616,5ha. Bản Máy có con suối Máy chảy ở giữa bản, dài 4km. 
Bản Máy có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Kinh. Người Thái bản Máy có các dòng họ là Lương, Ngân, Hà. Người dân sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp. 
Bản Bàng
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Bàng thuộc mường Chự. Bản Bàng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Máy; phía tây và phía bắc giáp xã Nam Động, huyện Quan Hóa; phía nam giáp bản Lấm, xã Sơn Lư.
Bản Bàng có địa hình phức tạp, có nhiều núi như núi Phá Bàng, núi Pha Phứng, Phá Buốc Mú, Phá Hín Heo, Phá Huối Nhụng, Phá Cảnh Lơ, Phá Phánh, có các đồi như đồi: Tén Chướng, Tén Chóng, Khóc Mú, Hín Heo, Nhót Lén, Nhóc Lướng... có các hang Phá Bang, hang Po Páng, có suối Bàng, suối Ngách, suối Nguôi, suối Thắm Háng. Có mương Luông, mương Pa Mác. 
Bản có mó Bo Cúng, mó Bo Khuôn, mó Co Phường và các xứ đồng: Na Bang, Na Chá, Na Héo, Na Bo Cúng, Na Khoanh, Na Héo Pang, Na Piêng Có Mị, Na Pa Mác.
Dân cư trong bản 100% đều là người dân tộc Thái. Người Thái bản Bàng có các dòng họ chính là họ Hà, Ngân, Lương, Vi.
2.3.5. Thị trấn Quan Sơn
2.3.5.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Thị trấn Quan Sơn có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Trung Thượng.
Phía tây giáp xã Sơn Lư. 
Phía nam giáp xã Sơn Hà.
Phía bắc giáp xã Trung Thượng.
Tổng diện tích tự nhiên của thị trấn Quan Sơn theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 8.44,31ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 685,02ha.
Đất phi nông nghiệp: 145,38ha.
Đất chưa sử dụng: 13,91ha.
Tổng dân số thị trấn Quan Sơn, theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, tính đến ngày 31/12/2015 là 2.830 người. Trong đó: nam giới 1.434 người, nữ giới 1.396 người; mật độ dân số 335 người/km2.
Thị trấn Quan Sơn được thành lập theo Nghị định số 131/2003/NĐ-CP ngày 6/11/2003 của Chính phủ, được tách ra từ xã Sơn Lư: thành lập thị trấn Quan Sơn - thị trấn huyện Quan Sơn trên cơ sở 579,40ha diện tích tự nhiên và 2.820 nhân khẩu của xã Sơn Lư. 
Thị trấn Quan Sơn trước đây là huyện lỵ Quan Sơn đặt trên phần đất của bản Lấm, xã Sơn Lư, thời xưa thường gọi là Piềng Hin Lài (bãi đá hoa).
Thị trấn Quan Sơn nằm ở trung tâm huyện Quan Sơn. Từ Km 37, Quốc lộ 217 xuống đến Km 32 dọc theo Quốc lộ 217. 
Dân cư thị trấn gồm 3 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống là Thái, Mường, Kinh và một số ít người dân tộc khác như Hoa, Dao, Tày...
Thị trấn có 37 dòng họ phân bố ở 6 khu. Các dòng họ có số khẩu đông nhất là họ Hà, Nguyễn, Lê, Vi, Phạm, Lò và họ Ngân.
Thị trấn khi mới thành lập còn khá nhiều hộ nghèo, chủ yếu là các hộ dân bản Lấm. Đến nay, đời sống kinh tế xã hội của dân cư thị trấn đã phát triển, an ninh - quốc phòng được giữ vững. Thế mạnh phát triển kinh tế truyền thống của thị trấn là lâm nghiệp và dịch vụ thương mại.
Hiện nay, diện mạo thị trấn Quan Sơn đang mỗi ngày thêm khởi sắc. Nhiều nhà cao tầng mọc lên bên cạnh những nếp nhà sàn kiểu mới, nhiều doanh nghiệp, doanh nhân là người Kinh sinh sống ở thị trấn. 
Thị trấn Quan Sơn khi mới thành lập mọi hoạt động chủ yếu theo dọc đường 217, phía bắc sông Lò. Nay đã có cầu ở Km 34 nên sinh hoạt giao lưu kinh tế, văn hóa được mở rộng sang cả phía nam sông Lò, góp phần tạo nên vẻ đẹp cảnh quan của thị trấn miền núi cao. Hiện nay, thị trấn Quan Sơn được mở rộng đến Km 37 đường vành đai biên giới đi Sơn Hà.
2.3.5.2. Các khu phố thuộc thị trấn Quan Sơn
Khu 6
Khu 6 có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Trung Thượng; phía tây giáp xã Sơn Lư; phía nam giáp khu 5 thị trấn; phía bắc giáp xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn.
Khu 6, thị trấn Quan Sơn có nguồn gốc từ bản Lúm (Lấm), theo tiếng Thái nghĩa là thung lũng thấp. Xưa kia, nơi đây là một thung lũng thuộc mường Hạ, mường Mò.
Khu 6 có các sông, suối, piềng, bãi: sông Lò, suối Ngoi Ngố, suối Cài, suối Ban; piềng Héo Bé, piềng Xong Cóng, piềng Khà, suối Quán Pót, đồi Pom Đồn, đồi Phòng Không.
Khu 6 phần lớn là dân tộc Kinh từ các vùng quê lên công tác rồi ở lại định cư xây dựng quê hương mới ở thị trấn. Các dòng họ có số hộ và nhân khẩu đông nhất là họ Nguyễn, họ Đỗ, họ Hoàng, họ Bùi, họ Lữ, họ Trịnh, họ Ngô. Ngoài các họ kể trên là các dòng họ: Lộc, Quách, Lưu, Chung, Tào, Tuyết, Mạc, Cao, Đinh, Dương, Phùng, Tống, Ninh, Lương, Trương, Lò, Ngân.
Khu 5
Khu 5 có nguồn gốc ban đầu là tiểu khu Km 35 chia tách thành khu 5 vào năm 2003.
Khu 5 có vị trí địa lý: phía đông giáp sông Lò; phía tây giáp UBND huyện Quan Sơn; phía nam giáp Khu 4; phía bắc giáp Khu 6 thị trấn.
Trên địa bàn Khu 5 có suối Hin Lài.
Hiện nay, Khu 5 có nhiều dòng họ cùng công tác, làm ăn chung sống gắn bó bên nhau. Phần lớn là người Kinh lên công tác, ở lại xây dựng quê hương mới. Tiêu biểu có các dòng họ: Lê, Nguyễn, Hoàng, Trần, Đoàn. Ngoài các họ trên là các dòng họ: Đinh, Đỗ, Bùi, Phạm, Vũ, Hà, Trịnh, Lữ, Ngân, Lương, Kiều, Hồ, Quách, Tào.
Khu 4
Khu 4 thị trấn Quan Sơn hình thành từ khi thành lập thị trấn Quan Sơn (năm 2003). Có vị trí địa lý: phía đông giáp chợ thị trấn; phía tây giáp Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện; phía nam giáp Khu 3; phía bắc giáp Khu 5.
Hiện nay, Khu 4 có nhiều dòng họ, chủ yếu là dân tộc Kinh từ miền xuôi chuyển đến. Các dòng họ có số hộ và số khẩu đông nhất là họ Phạm; họ Nguyễn; họ Lương; họ Lê; họ Đỗ. Ngoài ra còn có các dòng họ: Đinh, Võ, Đào, Trịnh, Trần, Dương, Lưu, Bùi, Hà, Hắc, Ngô, Chu, Lữ, Mai, Bàn, Đàm. 
Tuy có nhiều dòng họ từ các vùng quê khác nhau nhưng dân cư trong khu phố luôn đoàn kết yêu thương đùm bọc, đồng cam cộng khổ chung sức xây dựng quê hương mới ngày càng ấm no hạnh phúc.
Khu 3
Khu 3 mới được thành lập do chia tách khu phố theo Nghị định số: 131/2003/NĐ-CP thành lập thị trấn Quan Sơn.
Khu 3 có vị trí: phía đông giáp Khu 4, thị trấn Quan Sơn; phía tây giáp Khu 1, thị trấn Quan Sơn; phía nam giáp sông Lò; phía bắc giáp Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện.
Khu 3 hiện nay có 21 dòng họ từ khắp các vùng miền của tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh khác cùng chung sống đoàn kết bên nhau. 
Các dòng họ là người Thái có số hộ và số khẩu đông nhất là: họ Lò, họ Hà; các họ của người Kinh đông nhất là họ Lê, họ Ngô, họ Hoàng, họ Vũ... Khu 3 còn có các dòng họ: Vi, Trần, Trịnh, Quách, Đỗ, Phạm, Trương, Đinh, Mai, Tào, Lương, Đặng, Hồ. Tuy có nhiều dòng họ từ các vùng quê khác nhau nhưng dân cư trong khu phố luôn đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống. Vì vậy, đời sống của khu phố ngày càng phát triển. 
Khu 2 
Khu 2 có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Trung Thượng; phía tây và phía bắc giáp sông Lò; phía nam giáp suối Hạ, xã Sơn Hà.
Khu 2, thị trấn Quan Sơn trước đây gọi là bản Búng Lúm và bản Piêng Hiến. Sở dĩ bản có tên gọi như vậy bởi vì trước đây, bản có mó nước và rừng xoan nên dân bản đã lấy đặc điểm của vùng đất để gọi tên bản.
Trên địa bàn có con sông Lò, suối Lốc Cống, mó Lốc Cống; mó Búng Lúm; núi San Pom; piềng Hiến, piềng Sộp Hạ; 
Hiện nay, Khu 2 có các dòng họ là Lò, Ngân, Hà, Vi, Lương, Lữ, Lộc, Lê, Bùi, Hoàng. Trong đó, các dòng họ Lò, Hà, Vi có số hộ và khẩu đông nhất. 
Về nguồn gốc của các dòng họ: các cụ cao niên trong các dòng họ truyền lại: họ Ngân có nguồn gốc từ mường Túng Muống, tỉnh Sơn La, Lai Châu chuyển đến; họ Hà từ mường Khoòng, huyện Bá Thước chuyển lên; họ Lò từ bản Muống, xã Trung Xuân, họ Lữ từ xã Trung Xuân chuyển đến. Họ Vi từ mường Pi, tỉnh Hòa Bình di cư đến. Họ Hoàng từ miền xuôi lên.
Khu 2 có đền Póm Thiếng Sân là nơi thờ cúng của bản Lúm ngày xưa và nay do dòng họ Hà Văn đang thờ cúng.
Khu 1
Khu 1 trước đây gọi là bản Lấm. Gọi là Lấm bởi vì bản ở một thung lũng thấp hơn thuộc phía dưới mường Mò, mường Hạ nên tên cũ gọi là bản Lúm, sau này gọi là bản Lấm.
Bản Lấm có vị trí địa lý: phía đông nam giáp Khu 3, thị trấn Quan Sơn; phía tây nam giáp xã Sơn Lư, huyện Quan Sơn; Phía nam giáp sông Lò; Phía bắc giáp Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện.
Khu 1 có các con suối Búng Bán, suối Hiến, suối Hượn, suối Huông, piềng Huông chảy qua địa bàn.
Hiện nay, Khu 1 có 19 dòng họ cùng chung sống bên nhau. Mỗi dòng họ có nguồn gốc xuất xứ từ những vùng quê khác nhau:
Họ Lò từ Lạng Sơn chuyển đến; họ Ngân từ Sơn La, Lai Châu đến; họ Lương có 2 hộ với 10 khẩu từ Yên Khương, Lang Chánh chuyển đến; Họ Vi có nguồn gốc từ mường Pi, tỉnh Hòa Bình; Họ Hà có nguồn gốc từ mường Khoòng, huyện Bá Thước chuyển đến 
Các dòng họ: Lê, Phạm, Trần, Dương, Trương, Nguyễn, Đỗ, Đặng, Ngô, Mai, Trịnh, Đinh đều từ dưới xuôi lên công tác, làm ăn rồi ở lại sinh sống ở Khu 1.
2.3.6. Xã Sơn Lư
2.3.6.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội
Xã Sơn Lư có vị trí địa lý: phía đông giáp thị trấn Quan Sơn; phía tây giáp xã Sơn Điện; phía nam giáp xã Tam Lư và xã Sơn Hà; phía bắc giáp xã Trung Thượng.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Sơn Lư theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 4.557,24ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 4.059,87ha. 
Đất phi nông nghiệp: 167,08ha.
Đất chưa sử dụng: 330,29ha.
Tổng dân số xã Sơn Lư theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.410 người. Trong đó: nam giới 1.268 người, nữ giới 1.142 người; mật độ dân số 53 người/km2.
Xã Sơn Lư thời phong kiến thuộc tổng Tam Lư, gồm có mường Hạ, mường Sại, mường Mò, nay là các xã Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Lư, Sơn Hà và thị trấn Quan Sơn.
Từ giai đoạn 1930 - 1938, tổng Tam Lư gồm có 7 xã là xã Tam Lư, xã Hậu Lư, xã Sơn Lư, xã Thượng Lư, xã Hàm Lư, xã Trung Lư và xã Định Lư.
- Xã Tam Lư gồm có các bản: Hạ, Xum, Làu, Nà Sài.
- Xã Hậu Lư gồm có các bản: Bon, Hậu, Sỏi, Bìn, Hẹ.
- Xã Sơn Lư có các bản: Lấm, Păng, Na Sai.
- Xã Thượng Lư có các bản: Mò, Phe, Cha Lung, Pa.
- Xã Hàm Lư có các bản: Ngàm, Bôn, Kham, Khà, Có Hướng.
- Xã Trung Lư có các bản: Hát, Muống, Sại, Cha Lóc, Hao.
- Xã Định Lư gồm có các bản: Tình, La, Sát.
Năm 1939, Thực dân Pháp và chính quyền phong kiến đã sát nhập 7 xã trên thành 3 xã và đặt tên là: xã Thượng Lư, xã Trung Lư và xã Sơn Lư.
- Xã Thượng Lư bao gồm các bản: Mò, Ngàm, Phe, Cha Lung, Cha Lan, Pa, Hậu. Hát, Bon, Hao, Hẹ, Sỏi và bản Bìn.
- Xã Trung Lư gồm các bản: Muống, Sại, Cha Lóc, Tình, La và bản Sát.
- Xã Sơn Lư gồm các bản: Hạ, Xum, Làu, Lấm, Păng, Hiềng và bản Na Sài.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đến năm 1946, Chính quyền Cách mạng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sát nhập 3 xã Thượng Lư, xã Trung Lư và xã Sơn Lư thành một xã và thống nhất lấy tên gọi là xã Tam Lư. 
Như vậy, xã Sơn Lư trước năm 1966 thuộc xã Tam Lư.
Thực hiện Quyết định số 98/NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ngày 13/4/1966 chia tách xã Tam Lư thành 2 xã: xã Sơn Lư và xã Tam Lư. 
Xã Sơn Lư lúc này gồm có 9 bản: Lấm, Păng, Bon, Hẹ, Bìn, Sỏi, Làu, Xum và Hạ.
Theo Quyết định số 19 - HĐBT, ngày 29 tháng 2 năm 1988: Xã Sơn Lư chia tách thành 2 xã lấy tên là xã Sơn Lư và xã Sơn Hà.
- Xã Sơn Lư gồm các chòm bản Bon, bản Hao, bản Hẹ, bản Păng, bản Sỏi, bản Lấm và bản Bìn với 7.862ha diện tích tự nhiên và 2.735 nhân khẩu.
 - Xã Sơn Hà gồm các chòm bản Hạ, Làng, Làu, Xum với 7.000ha diện tích tự nhiên và 2.725 nhân khẩu.
Đến năm 1996, thành lập huyện Quan Sơn, xã Sơn Lư có 473 hộ, 1.945 nhân khẩu và các bản sau: Bản Sỏi, bản Bìn, bản Hẹ, bản Hao, bản Bon, bản Păng, bản Lấm.
Năm 2003, theo Nghị định số 131/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 về việc thành lập thị trấn Quan Sơn trên cơ sở 579,40ha diện tích tự nhiên và 2.820 nhân khẩu của xã Sơn Lư.
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính thành lập thị trấn Quan Sơn, xã Sơn Lư còn lại 5.916,87ha diện tích tự nhiên và 2.057 nhân khẩu.
Địa danh và địa giới xã Sơn Lư có từ đấy và ổn định cho tới nay.
Hiện nay xã Sơn Lư gồm các bản: Păng, Bon, Hao, Hẹ, Sỏi, Bìn.
Xã Sơn Lư nằm dọc theo tuyến Quốc lộ 217, từ Km 36 + 500 (giáp đất thị trấn Quan Sơn) đến Km 49 (giáp xã Sơn Điện) có nhiều đồi núi, khe suối nhỏ ngăn cách. 
Xã Sơn Lư có sông Lò chảy từ xã Tam Lư ra gặp đường 217 tại Km 40 phía dưới bản Bon. Có nhiều suối trong đó có suối Tuốp là suối lớn nhất do 2 suối Bìn và suối Sỏi hợp lại tại Km 46 + 300 tạo thành. Suối Tuốp kéo dài từ Km 46 + 300 xuống đến Km 40 thì gặp sông Lò từ xã Tam Lư ra. Xã Sơn Lư có nhiều núi đá khai thác làm vật liệu xây dựng, làm đường đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Như Pha Mạ tại Km 44 (bản Hẹ).
Trên địa bàn xã có các đồi, núi, sông, suối như sau: núi pha Phanh, pha Mạ, pha Bó Lồm (thuộc bản Hẹ); pha Lếc (thuộc bản Sỏi), pha Đứa thuộc bản Bon, pha Lang, pha Xú Lú thuộc bản Păng, pha Su Lú (động Nang Non) thuộc bản Păng. Đồi Pù Đen Mường ở bản Bìn, Pù Un ở bản Sỏi, Pù Na Ngại bản Bon, Pù Liệt Sỹ thuộc bản Păng. Suối Kẹm ở bản Sỏi, suối Bát ở bản Bìn, suối Phanh ở bản Hẹ, suối Tuốp chảy qua các bản Sỏi, Bìn, Hẹ, Hao Bon.
Ruộng nước của xã Sơn Lư ít hơn so với các xã Tam Thanh, Tam Lư, Sơn Điện, Sơn Thủy. Tài nguyên rừng xã Sơn Lư có nhiều gỗ, nứa, vầu. Nứa, vầu là nguồn lợi thu nhập hàng ngày của đồng bào.
Xã Sơn Lư trước đây có nhiều động thực vật quý hiếm nhưng do người dân săn bắt, khai thác nên đã dần cạn kiệt. Hiện nay, xã vẫn có nhiều giống lúa, giống cây con đặc sản như các giống lúa khau cáy nọi (nếp cái hoa vàng), kháu cắm pạnh (nếp cẩm), kháu lạnh (lúa chịu hạn); mị niêu (mít dai), cam sành, cây măng bương (mạy mươi) cây măng sặt (mạy chá)... Giống gà ri (cáy pắn), vịt bầu (pệt côn), lợn cỏ (mú tay), nhím...
 Xã Sơn Lư có diện tích đất lâm nghiệp chiếm trên 80% tổng diện tích của xã. Trong đó diện tích rừng tự nhiên còn 63%, trên rừng có các loại động thực vật đa dạng, phong phú, còn có các piềng bãi và thung lũng thuận lợi cho phát triển gia súc, gia cầm.
Hầu hết các bản trong xã đều nằm dọc Quốc lộ 217 nên thuận tiện cho bà con đi lại, giao lưu trao đổi hàng hóa với các vùng miền trong ngoài huyện. Dòng sông Lò chảy qua địa bàn xã rất thuận lợi cho nhân dân đánh bắt theo mùa.
Xã có 3 dân tộc anh em cùng chung sống là: dân tộc Thái, Mường, Kinh. Mỗi dân tộc có truyền thống văn hóa riêng làm phong phú cho văn hóa của xã. Toàn xã có 2.466 nhân khẩu, trong đó: người Thái có 1.834 khẩu; người Mường có 495 khẩu; người Kinh có 137 khẩu. Có các dòng họ: Hà, Lữ, Lương, Vi, Lò, Hoàng, Lộc. Họ Hà là dòng họ chiếm tỉ lệ đông nhất trong xã. 
2.3.6.2. Các bản thuộc xã Sơn Lư
Bản Păng: 
Bản Păng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Làng, xã Sơn Hà; phía tây giáp bản Bon; phía nam giáp bản Hạ, xã Sơn Hà; phía bắc giáp với Khu 1, thị trấn Quan Sơn.
Bản Păng nằm ở trung tâm xã Sơn Lư, cách trung tâm huyện Quan Sơn 4km về phía tây. Từ trên đỉnh núi Pha Lang nhìn xuống, địa hình bản Păng như một chiếc bát. Ngày nay, bản được chia cắt thành 2 bản là bản Păng 1 và Păng 2 (bản Hiềng) ở Km 39.
Bản Păng có núi Pha Lang, có Pha Su Lú (tức động Nang Non), có dòng sông Lò chảy qua hết địa phận của bản, có suối Sún, suối Kha, suối Hiêng, suối Sâu, suối Khạng, suối Pu, suối Đứa, suối Hố với địa hình chủ yếu là đồi và núi cao.
Bản Păng có dân tộc Thái, chiếm 86,4%; dân tộc Kinh chiếm 13,6%. Là bản ở trung tâm xã nên có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ, thông tin một cách thuận lợi. Hiện nay, có đến 1/3 số hộ trong bản sinh sống rải rác theo dọc đường Quốc lộ 217 và đường biên đi xã Sơn Hà, 2/3 số hộ còn lại sinh sống ở trong bản. Bản Păng có đường vành đai biên giới đi qua tại địa điểm cầu qua sông Lò nối với đường Quốc lộ 217 tại Km 37.
Dân bản sống chủ yếu dựa vào kinh tế nông, lâm nghiệp. Nông, lâm nghiệp chiếm tới 95% thu nhập của nhân dân.
Từ buổi ban đầu khai đất lập bản chỉ có 2 dòng họ với 12 nhân khẩu, đến nay bản Păng đã có các dòng họ lớn nhỏ: Lò, Hà, Mạc, Lữ, Vi, Ngân, Lương, Lộc, Cao, Bùi, Nguyễn, Tô, Trần, Phạm, Đinh, Đỗ. Bản có 3 dân tộc Thái, Mường, Kinh đến từ các vùng miền khác nhau: xã Trung Xuân, xã Trung Hạ, xã Trung Thượng, huyện Lang Chánh, huyện Bá Thước và từ miền xuôi lên cùng nhau sinh sống, đoàn kết một lòng xây dựng quê hương ngày càng phồn thịnh.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Păng thuộc mường Hạ, dòng họ trong làng có nhiều họ nhưng chiếm nhiều nhất là họ Vi và họ Lữ.
Bản Bon
Bản Bon thuộc diện khó khăn ở xã Sơn Lư, người dân sống chủ yếu dọc theo Quốc lộ 217 nhưng địa thế chủ yếu là vực và đồi núi nên rất khó trong việc làm nhà ở. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Bon thuộc mường Hạ. 
Bản Bon có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Păng; phía tây giáp bản Hao; phía nam giáp bản Hát, xã Tam Lư; phía bắc giáp đất bản Hẹ và bản Bàng, bản Máy, xã Trung Thượng.
Địa hình chủ yếu là đồi, núi cao. Bản Bon có núi Pha Lông, có hang Pha Đứa, có dòng suối Tuốp chảy dọc qua đến hết địa phận của bản. Ngoài ra, còn có suối Lông, suối Ngại, suối Bon.
Bản Bon chiếm phần lớn là người dân tộc Thái, còn lại là người dân tộc Kinh. Người Thái ở bản Bon có các dòng họ: Hà, Lữ, nhưng nhiều nhất là họ Hà Văn.
Người dân sinh sống chủ yếu vào nghề nông, lâm nghiệp; trong đó, nông nghiệp chiếm 45%, lâm nghiệp chiếm 55% thu nhập của người dân.
Bản Hao
Bản Hao có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bon; phía tây giáp bản Hẹ; phía nam giáp bản Hát, xã Tam Lư; phía bắc giáp với đất bản Hẹ và bản Bàng, bản Máy của xã Trung Thượng.
Đặc điểm địa hình là đồi, núi cao, bản Hao có núi Pha Lông, Pha Phanh, có suối Tuốp chảy dọc qua hết địa phận bản. Có đến 90% là rừng, cây phân tán chủ yếu là cây luồng, vầu, nứa và các loại cây phát tán khác. Nhân dân sống chủ yếu dọc theo Quốc lộ 217 và cạnh suối Tuốp.
Cư dân bản Hao chủ yếu là người Mường nên mọi nét văn hóa phong tục tập quán đều theo văn hóa của người Mường.
Bản Hẹ
Bản Hẹ có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Hao; phía tây giáp bản Sỏi, bản Bìn; phía Nam giáp bản Hát, xã Tam Lư; phía Bắc giáp với đất bản Máy, bản Bàng xã Trung Thượng.
Bản Hẹ có địa hình toàn đồi, núi cao: Phá Mạ, Phá Bó Lôm, Phá Phanh, có suối Tuốp, suối Phanh chảy dọc theo hết địa phận của bản. Rừng chiếm 95% diện tích của bản. 
Bản Hẹ có 3 dân tộc cùng chung sống là dân tộc Thái, Mường và Kinh
Các nét văn hóa và phong tục tập quán của dân cư trong bản Hẹ cơ bản mang đậm nét văn hóa của người Mường.
Bản Sỏi
Bản Sỏi: phía đông giáp với đất bản Hẹ, bản Hao; phía tây giáp bản Bun, xã Sơn Điện và bản Tình, xã Tam Lư; phía nam giáp bản Tình, xã Tam Lư; phía bắc giáp với bản Bìn.
Bản Sỏi có đồi, núi cao như núi: Pha Lết, Pha Có. Có dòng suối Sỏi chảy dọc qua hết địa phận của bản. Tài nguyên thiên nhiên có đến 95% là rừng, chủ yếu là cây luồng, cây vầu, nứa và các loại cây phân tán khác. Nhân dân chủ yếu sống dọc theo con suối Sỏi.
Bản Sỏi có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. 
Bản Bìn
Bản Bìn mới được thành lập. Năm 1967, chỉ có 3 hộ gia đình họ Lương làm ăn, sinh sống và lập thành bản gọi là bản Bìn. 
Bản Bìn có vị trí địa lý: phía đông giáp với đất bản Hẹ; phía tây giáp bản Bun, xã Sơn Điện; phía nam giáp bản Sỏi; phía bắc giáp với bản Na Hồ thuộc xã Sơn Điện.
Bản Bìn có địa hình đồi, núi cao giống như bản Sỏi, trên địa bàn bản có con suối Bìn, suối Vát chảy qua.
Đồng bào sinh sống chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp. Các nét văn hóa và phong tục tập quán của dân cư trong bản Bìn tương đồng các bản khác trong xã Sơn Lư.
Bản Sỏi có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh.
2.3.7. Xã Sơn Hà
2.3.7.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội
Xã Sơn Hà có vị trí địa lý:
Phía bắc giáp xã Sơn Lư và thị trấn Quan Sơn.
Phía tây giáp xã Tam Lư.
Phía đông giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh.
Phía nam giáp xã Yên Khương, huyện Lang Chánh và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Sơn Hà theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 8.924,74ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 8.056,59ha.
Đất phi nông nghiệp: 147,68ha.
Đất chưa sử dụng: 720,47ha.
Tổng dân số xã Sơn Hà theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.050 người. Trong đó: nam giới 1.021 người, nữ giới 1.029 người; mật độ dân số 43 người/km2.
Xã Sơn Hà thuộc mường Hạ ngày trước. Mường Hạ gồm hai xã Sơn Lư và Sơn Hà. 
Theo Quyết định số 19 - HĐBT, ngày 29 tháng 2 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng: Chia xã Sơn Lư thành 2 xã lấy tên là xã Sơn Lư và xã Sơn Hà.
- Xã Sơn Lư gồm các chòm bản Bon, Hao, Hẹ, Păng, Sỏi, Lấm và Bìn với 7.862ha diện tích tự nhiên và 2.735 nhân khẩu.
Địa giới xã Sơn Lư ở phía đông giáp xã Sơn Hà; phía tây giáp xã Sơn Điện; phía nam giáp xã Tam Lư; phía bắc giáp xã Trung Thượng.
- Xã Sơn Hà gồm các bản: Hạ, Làng, Làu, Xum với 7.000ha diện tích tự nhiên và 2.725 nhân khẩu.
Địa giới xã Sơn Hà ở phía đông giáp huyện Lang Chánh; phía tây giáp giáp xã Sơn Lư; phía nam giáp xã Tam Lư; phía bắc giáp xã Trung Thượng.
Xã Sơn Hà hiện nay gồm các bản: bản Làng, bản Làu, bản Xum, bản Nà Sắng, bản Nà Ơi, bản Hạ.
Sơn Hà là xã thuộc vùng sâu, vùng xa nằm ở phía đông nam của huyện Quan Sơn. Địa hình của xã hiểm trở, phức tạp có nhiều đồi núi dốc chạy dài từ Bắc tới Nam.
Địa bàn xã trước đây có nhiều loại động vật như hươu, nai, hoẵng, sơn dương, lợn lòi, khỉ, trăn và các loại chim quý như chim công, khướu, chim nộc thua, chim yểng,... Ngoài ra còn có nhiều thực vật quý như dổi, sến, phong lan.
Các núi đồi, hang động trên địa bàn của xã tạo nên địa thế cảnh quan phong phú, đa dạng như núi Pù Mằn, Pom Ché ở bản Làng; núi đá Pha Lang, Phá Khám, Phá Gia, Pha Han, Pha Lọm ở bản Hạ; Phá Phứng, Phá Mó, Pha Pem ở bản Làu, Hang Mường, Hang Kia,...
Dân cư trong xã bao gồm dân tộc Thái chiếm 96%; dân tộc Mường chiếm 0,074%; dân tộc Kinh 0,3% dân số toàn xã. Do đó văn hóa truyền thống xã Sơn Hà đậm sắc thái văn hóa Thái.
Xã Sơn Hà có các dòng họ sinh sống là Hà, Ngân, Lộc, Lò, Lương, Vi, Lê, Phạm; trong đó, họ Hà có số hộ, số khẩu đông nhất trong toàn xã.
2.3.7.2. Các bản thuộc xã Sơn Hà
Bản Làng 
Bản Làng trước đây gọi là Piềng Làng, bản nằm ở phía bắc, cách trung tâm xã 1km, bản Làng có núi Pù Mằn ở phía đông, có con suối Hạ chảy qua bản. Bản Làng có vị trí địa lý: phía bắc giáp bản Păng, xã Sơn Lư; phía đông giáp bản Nà Đang, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía tây giáp bản Piềng Hiến, Khu 2, thị trấn Quan Sơn; phía nam giáp bản Hạ.
Dân cư bản Làng sống thành hai nhóm, có dòng suối Hạ ngăn cách. Về mùa mưa lũ, việc đi lại giữa hai nhóm của bà con trong bản rất khó khăn. 
Bản Làng thành lập từ năm 1965, theo chủ trương di dân xây dựng vùng kinh tế mới của Đảng và Nhà nước. Lúc đó đã có 11 gia đình với 5 dòng họ: Hà, Lộc, Lương, Ngân, Vi ở nhiều nơi khác nhau cùng với 100 hộ người Kinh đến đây khai hoang, vỡ ruộng xây dựng cuộc sống mới. Đó là các thửa ruộng như Na Khăm, Na Mằn, Băng Khăm; dấu tích của các bia mộ như Pom Héo Xá, Héo Mằn bắt nguồn từ núi Pù Mằn kéo dài đến bản Làng, sinh ra các suối nhỏ như suối Khéo, suối Kèng Pa Tốt, suối Luông, suối Na. 
Bản Làng hiện nay có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Dân cư sinh sống chủ yếu dọc theo suối Hạ với nguồn kinh tế chính là sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.
Trong bản có các dòng họ đó là: Vi, Lương, Hà, Ngân, Trịnh, Đặng. Dòng họ Vi là họ có công khai phá, hình thành nên bản Làng; những người trong dòng họ khác đã di cư từ các bản khác về đây sinh sống. 
Bản Hạ 
Bản Hạ có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Nà Sắng; phía tây giáp bản Păng, Sơn Lư; phía nam giáp bản Nà Ơi; phía bắc giáp bản Làng.
Bản Hạ trước đây thuộc Pọng Tái. Nghe các cụ cao niên trong bản kể lại: cách đây khoảng 300 năm về trước nơi đây gọi là Pọng Tái, đất rộng người thưa, có nhiều dòng họ đã tụ tập về đây dựng nhà, khai đất lập nên bản mường. Bản có Phá Mống Mường, có con suối Hạ chảy qua.
Bản Hạ xưa có miếu thờ thần đất và các bậc có công xây dựng bản mường nhưng nay không còn. Hiện còn tên gọi các ngọn núi quanh bản như Pha Phứng, Pha Muôp, Pha Hao. Có hang động như hang Mương, hang Thắm...
Bản Hạ có ba dân tộc cùng chung sống đoàn kết bên nhau là dân tộc Thái, Mường và dân tộc Kinh, trong đó dân tộc Thái chiếm 98%. Bản Hạ có rất nhiều dòng họ, trong đó một số dòng họ lớn như họ Vi, họ Hà, họ Lò, họ Lương, họ Ngân, họ Lộc.
Bà con dân bản chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp: làm ruộng nước và canh tác nương rẫy, bảo vệ chăm sóc, khai thác sản phẩm từ rừng.
Bản Nà Ơi
Bản Nà Ơi có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Nà Sắng; phía tây giáp bản Muống; phía nam giáp bản Làu; phía bắc giáp bản Hạ.
Bản Nà Ơi có các ngọn núi Pha Muôp, Pha Hào. Có suối Tai Đia, suối Bâu và một số mương, mó nước khác.
Người dân bản Nà Ơi sinh sống bằng nghề nông nghiệp và khai thác lâm sản. 
Bản Nà Ơi có các dòng họ như: Lò, Lương, Hà, Ngân, Vi. Các họ có một số điều kiêng kị: Họ Ngân kiêng ăn rắn; Họ Hà và Lò kiêng con Cuốc Cuốc; Họ Lương kiêng Hổ; Họ Vi kiêng lấy quạt giấy quạt cơm.
 Bản Nà Sắng
Bản Nà Sắng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Làu; phía nam giáp bản Hạ; phía bắc giáp bản Làng; phía tây giáp bản Nà Ơi.
Nà Sắng có núi Pha Da, có suối Chăng chảy qua bản, có đập bản Hạ, mương Nà Lưa. Người dân sinh sống bằng nghề nông nghiệp và khai thác lâm sản.
Dân cư của bản sinh sống chủ yếu dọc theo suối Hạ, có đường Tây Thanh Hóa đi qua, phân bố thành ba nhóm dân cư. Trong bản có các dòng họ: Lò, Lương, Hà, Lộc, Vi.
Bản Làu
Bản Làu thuộc vùng sâu của xã Sơn Hà, huyện Quan Sơn. Bản nằm dọc theo suối Hạ, cách trung tâm huyện lỵ 10km. Bản Làu có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía tây giáp bản Nà Ơi, xã Sơn Hà; phía nam giáp bản Xum, xã Sơn Hà; phía bắc giáp bản Nà Sắng, xã Sơn Hà.
 Bản Làu có con suối Hạ chảy qua bản với chiều dài khoảng 4km, là nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu đồng ruộng của bản. Bản Làu có nhiều đồi, núi như: Pha Mó, Pha Hào, Pha Pém, Pha Phứng, Pha Thắm Tám. Có suối Hạ, suối Ban, suối Muống. Người dân sinh sống bằng nghề nông nghiệp và khai thác lâm sản.
Bản Làu có tên gọi từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Từ năm 1921, có họ Lò di cư đến sinh sống trên mảnh đất này. Sau đó các dòng họ khác đã lần lượt di cư đến cùng khai phá đất đai làm ăn, sinh sống. Hiện nay, trong bản có tới 10 dòng họ khác nhau, có một số dòng họ lớn như: họ Hà, họ Lò, họ Vi, họ Lộc, họ Đỗ, họ Ngân, họ Lương.... Bản Làu có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Trong đó, dân tộc Thái chiếm 90% số dân cư trong bản.
 Bản Xum
Bản Xum có vị trí địa lý: phía nam giáp xã Yên Khương, huyện Lang Chánh; phía bắc giáp bản Làng, xã Sơn Hà; phía đông giáp xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh; phía tây giáp xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn.
Bản Xum có núi Pù Tền, hang Pèo, có suối Hạ, mương Hạ.
Dân cư trong bản 100% là người dân tộc Thái. Trong bản có các dòng họ: Hà, họ Vi, họ Lò, họ Lữ, Phạm. Người dân bản Xum sinh sống chủ yếu bằng nghề canh tác nông nghiệp và khai thác lâm thổ sản, hiện nay có một số hộ làm dịch vụ, buôn bán nhỏ lẻ.
2.3.8. Xã Tam Lư
2.3.8.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội
Xã Tam Lư có vị trí địa lý:
Phía đông giáp xã Sơn Lư, xã Sơn Hà.
Phía tây giáp xã Tam Thanh, xã Sơn Điện.
Phía nam giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và xã Tam Thanh.
Phía bắc giáp xã Sơn Lư.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Tam Lư theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 6.175,69ha. Trong đó:
 - Đất sản xuất nông nghiệp: 4.333,09ha.
 - Đất phi nông nghiệp: 180,01ha.
 - Đất chưa sử dụng: 1.662,59ha.
Tổng dân số xã Tam Lư theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.808 người. Trong đó: nam giới 1.398 người, nữ giới 1.410 người; mật độ dân số 45 người/km2.
Xã Tam Lư thời phong kiến thuộc tổng Tam Lư, gồm có mường Hạ, mường Sại, mường Mò, nay là các xã Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Lư, Sơn Hà và thị trấn Quan Sơn.
Từ giai đoạn 1930 - 1938, tổng Tam Lư gồm có 7 xã: xã Tam Lư, xã Hậu Lư, xã Sơn Lư, xã Thượng Lư, xã Hàm Lư, xã Trung Lư và xã Định Lư.
 - Xã Tam Lư gồm có các bản: Hạ, Xum, Làu, Nà Ơi.
 - Xã Hậu Lư gồm có các bản: Bon, Hậu, Sỏi, Bìn, Hẹ.
 - Xã Sơn Lư có các bản: Lấm, Păng, Nà Sài (nơi huyện lỵ Quan Sơn ngày nay).
 - Xã Thượng Lư có các bản: Mò, Phe, Cha Lung, Pa.
 - Xã Hàm Lư có các bản: Ngàm, Bôn, Kham, Khà, Co Hương.
 - Xã Trung Lư có các bản: Hát, Muống, Sại, Cha Lóc, Hao.
 - Xã Định Lư gồm có các bản: Tình, La, Sát.
Đến năm 1939, Thực dân Pháp và chính quyền phong kiến đã sát nhập 7 xã trên thành 3 xã và đặt tên là: xã Thượng Lư, xã Trung Lư và xã Sơn Lư.
 - Xã Thượng Lư bao gồm các bản: Mò, Ngàm, Phe, Cha Lung, Cha Lan, Pa, Hậu. Hát, Bon, Hao, Hẹ, Sỏi và bản Bìn.
 - Xã Trung Lư gồm các bản: Muống, Sại, Cha Lóc, Tình, La và bản Sát; 
 - Xã Sơn Lư gồm các bản: Hạ, Xum, Làu, Lấm, Păng, Hiềng và bản Na Sài.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đến năm 1946, Chính quyền Cách mạng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sát nhập 3 xã Thượng Lư, xã Trung Lư và xã Sơn Lư thành một xã và thống nhất lấy tên gọi là xã Tam Lư, lúc này xã Tam Lư gồm có 29 chòm: Chòm Lấm, Hạ, Păng, Bon, Hẹ, Sỏi, Tình, Hậu, Muống, Sại, Hát, Mò, Ngàm, Bôn, Kham, Phe, Cha Lung, Cha Lan, Pa, Hạ, Xum, Làu, Hao, Sài, Hiềng, Sát, Na Sài, Cha Lóc và chòm Có Hướng.
Năm 1960, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước xây dựng mô hình HTX cấp thấp, chòm Sại là chòm đầu tiên của xã Tam Lư thành lập HTX. Đến năm 1961, 28 chòm còn lại của xã lên HTX cấp thấp và lấy tên chòm gọi tên HTX.
Năm 1963, bản Piềng Làng thành lập HTX cấp cao gọi là HTX Đại Thắng. Đến năm 1966, cả xã Tam Lư lên HTX cấp cao, thực hiện công hữu hóa về ruộng đất, tư liệu sản xuất, dồn các HTX bản Mò, bản Ngàm, bản Kham, bản Bôn, bản Có Hướng, Bản Nà Ấu thành HTX Trung Tiến.
Thực hiện Quyết định số 98/NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ngày 13/4/1966 “Mục 5: Chia xã Tam Lư thành 2 xã: Sơn Lư và Tam Lư.
- Xã Sơn Lư gồm có 9 chòm (bản): Lấm, Păng, Bon, Hẹ, Bìn, Sỏi, Làu, Xum và Hạ.
- Xã Tam Lư gồm có 9 chòm (bản): Sại, Muống, La, Pa, Hậu, Tình, Hát, Trung Tiến và Trung Lập”. 
Thực hiện Quyết định số 19/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 20 tháng 5 năm 1988: mục 6:
“Chia xã Tam Lư thành 2 xã lấy tên là xã Tam Lư và Tam Thanh.
- Xã Tam Lư gồm các chòm (bản) Hát, Hậu, Muống, Sại và Tình với 6.209,2ha diện tích tự nhiên và 2.800 nhân khẩu.
Địa giới xã Tam Lư ở phía đông giáp xã Sơn Hà, phía tây và phía bắc giáp xã Sơn Lư; phía nam giáp xã Tam Thanh”.
Sau nhiều lần chia tách, đến năm 1996, Tam Lư còn toàn bộ đất mường Sại và một phần đất mường Mò (bản Hậu).
Xã Tam Lư hiện nay gồm các bản: Sại, Hậu, Tình, Muống, Hát, Piềng Khóe.
Xã Tam Lư có nhiều đồi núi, sông suối, suối lớn nhất là suối Tình. Suối Tình bắt nguồn từ hướng bắc giáp với địa phận bản Sỏi, xã Sơn Lư chảy theo hướng đông - nam để về sông Lò tại bản Hát.
Sông Lò đoạn qua xã Tam Lư dài khoảng 7km. Đi từ ngã ba Km 42 đường 217 đi vào theo đường lên Cửa khẩu mường Pao sẽ gặp bản đầu tiên của xã Tam Lư là bản Hát, cách đường 217 khoảng 5km.
Qua bản Hát lên phía thượng nguồn sông Lò sẽ gặp bản Hậu, từ bản Hậu rẽ phải vào 5km gặp bản Tình.
Qua bản Hậu lên gặp Đồn Biên phòng Tam Thanh và bản Nà Ấu xã Tam Thanh. Rẽ trái qua cầu theo sông Lò tại bản Hậu đi xuống thì về bản Muống cách cầu treo khoảng 2km, qua sông Lò từ đầu cầu treo bản Hậu ngược lên thượng nguồn là bản Sại, tiếp đến là bản Piềng Khóe cách cầu treo bản Hậu lên khoảng 2km.
Xã Tam Lư có nhiều phong cảnh đẹp và tài nguyên quý như Pù Lông Lênh (đồi Xa Mu) ở bản Piềng Khóe giáp với biên giới Việt - Lào và Xóm Có Hướng của bản Ngàm xã Tam Thanh. 
Cam, quýt trồng ở xóm Khà thuộc bản Có Hướng, xã Tam Thanh (Tam Lư cũ) là món đặc sản trước đây đồng bào thường cúng tiến quan trên.
Gỗ có nhiều loài cây quý như pơ mu, sa mu, chò, dổi, vàng tâm... cây lâm nghiệp khác có nhiều như nứa, vầu, song, mây, rừng trồng có nhiều luồng, lát, quế, keo, muồng.
Vụng Hậu với nhiều câu chuyện dân gian ly kỳ về mô típ thuồng luồng, có dịp đến thăm bản Tình ta sẽ được chứng kiến mó nước mặn, nơi này trước đây nai, hoẵng, bò rừng từng đàn tập trung về uống nước theo chu kỳ trăng mọc hàng tháng. Tiếng Thái địa phương gọi là “Pung Quáng”, “Pung Ngùa”.
Mó nước quý này thuộc xóm La địa phận bản Tình, bản Tình trước đây bao gồm hai xóm nhỏ là xóm La và xóm Tình hợp lại lấy tên là bản Tình. Xóm La ở phía thượng nguồn suối Tình cách xóm Tình khoảng 2km.
Xã Tam Lư cùng với xã Tam Thanh là 2 xã có nhiều lúa nước sản xuất 2 vụ bội thu hơn các xã khác dọc sông Lò. Xã Tam Thanh có cánh đồng Nà Ấu (cánh đồng bà nội). Xã Tam Lư có hai cánh đồng rất rộng, đất đai màu mỡ, đó là cánh đồng bản Sại và bản Piềng Khóe (Khé).
Tam Lư có 3 dân tộc anh em là: Thái, Mường, Kinh cùng chung sống; trong đó: Dân tộc Thái chiếm 99,2%; Dân tộc Mường 0,5%; Dân tộc Kinh 0,3%.
2.3.8.1. Các bản thuộc xã Tam Lư
Bản Hát
Bản Hát nằm bên dòng suối Hát chảy từ chân núi Pha Lang.
Bản Hát có từ lâu đời. Tương truyền, người dân nơi đây rất thích hát khặp, nhất là nam nữ thanh niên. Trong những đêm trăng, bản làng luôn rộn rã, tiếng khèn bè, tiếng sáo ôi dìu dặt, âm thanh khua loóng vang vọng. Mặc dù cuộc sống của bà con còn gặp rất nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng trong bản dưới mường, trên sàn hạn khuống, nam thanh nữ tú sau những giờ lao động mệt nhọc, tối đến lại say mê trao cho nhau những lời khặp, bày tỏ tình cảm tha thiết và mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp. Chính vì vậy, mọi người đã đặt tên cho bản của mình là bản Khặp sau đó đổi tên là bản Hát.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Hát dân cư còn thưa thớt, sau năm 1945 bản đã dần phát triển. Lúc bấy giờ đã có 8 hộ gia đình mang 4 dòng họ khác nhau; đó là họ Lộc, họ Hà, họ Lữ và họ Vi cùng chung sống đoàn kết, thương yêu giúp nhau làm ăn sinh sống. Họ đã chung nhau tìm nơi đắp đập ngăn dòng suối Hát lấy nước vào ruộng, khai hoang piềng, bãi được 5000m2, gọi là Na Hát.
Dân cư trong bản chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái và một số hộ người Kinh. Chính vì vậy, mọi nét văn hóa, phong tục tập quán bản Hát đều đậm đà bản sắc văn hóa của người Thái ở Quan Sơn.
Bản Hậu
Bản Hậu nằm giữa trung tâm xã Tam Lư, được hình thành lâu đời. Phía bắc giáp suối Tình, bản Hát; phía đông giáp với sông Lò, bản Muống; phía tây nam giáp sông Lò, bản Sại; phía tây giáp với xã Tam Thanh; phía tây bắc giáp với suối Nghịu, bản Tình. 
Bản Hậu có 4 con đường nối liền với các bản trong xã.
Dân cư bản Hậu, phân bố thành các khu: Khu 1 ở đầu bản là bản Na Chá; Khu 2 ở giữa đường chính; Khu 3 ở cuối bản tính từ dưới lên gọi là bản Hát; Khu 4 ở gần ven sông là bản Tá Cang. 
Bản Hậu hiện có các dòng họ là họ Lò, Vi, Hà, Phạm, Lữ, Ngân, Lương và họ Lê.
Bản Hậu có nhiều nét độc đáo về văn hóa, lưu truyền câu chuyện liên quan đến lập làng, dựng bản. Ngay từ thế kỷ XV, đời sống của nhân dân bản Hậu đã rất phát triển. Bản đã hình thành tổ chức quan bản độc lập do hai dòng họ Lò và họ Vi thay nhau cai quản. 
Bản Hậu đã xây dựng đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2015.
Bản Tình
Bản Tình có vị trí địa lý: phía đông giáp với bản Hát; phía tây giáp với bản Sỏi, xã Sơn Lư; phía nam giáp bản Hậu; phía bắc giáp bản Hẹ, xã Sơn Lư.
Bản Tình có hang Thắm Luông, Thắm Nọi. Có núi Pha Lanh giáp với Tam Thanh và Đồn Biên phòng 501; có thung lũng Bản La. Có suối Tình chảy qua giữa bản và có các xứ đồng mang tên: na Quan, na Cha.
Trước đây bản có nguồn gốc từ mường Sại, sau này chuyển vào có tên là bản Tình. Bản Tình có hai dân tộc cùng chung sống là dân tộc Thái và Kinh. Người Thái ở bản Tình có các dòng họ là họ Hà, Vi, Lương, Ngân, Lò, Lộc và Đinh. 
Bản Muống
Bản Muống có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Sơn Hà; phía tây giáp với bản Hậu; phía nam giáp bản Sại; phía bắc giáp bản Hát.
Ngày xưa, bản Muống có tên gọi là Muống Say Kháng vì địa hình trong bản giống như hình tượng một cái chảo gang (tiếng Thái là Say Kháng), và có cây kéo to ở đầu bản (tiếng Thái là Muống). Từ năm 1955, bản đã bỏ bớt từ Say Kháng, chỉ gọi là bản Muống.
Trong bản chia thành 3 khu dân cư: Muống trong, Muống ngoài và Lương Sơn, có ngọn núi tên là Pha Lang, ngọn núi này hướng về bản có hình con Sóc bay giáp với bản Hát và xã Sơn Lư. Bản Muống còn có các ngọn núi póm Pu Nhéo, póm Có Vá, ngọn núi này có 3 cây đa rất to và linh thiêng trên đỉnh, và ngọn núi Póm Lắng Hươn.
Bản Muống có hai hang động nhỏ, tiếng Thái gọi là Thắm Pha Hán với ý nghĩa của ngọn núi Pha Hán có hình tượng giống con ngan nên được người dân trong bản đặt tên là Pha Hán, hai hang động này ở gần nhau nên người dân thường gọi là thắm Tớ, thắm Tềnh.
Bản Muống có con sông Lò chảy dọc theo bản. Trong bản có các xứ đồng mang tên: na Kéo, na Nơ, na Muống, na Cận, na Túng, na Hóm, na Piêng.
Người dân trong bản sinh sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa nước và lâm nghiệp. Tất cả đều là người dân tộc Thái. Bản có 4 dòng họ là họ Lữ, họ Hà, họ Lò, họ Lương.
Bản Sại
Bản Sại là một bản biên giới giáp ranh với nước bạn Lào, có 4km đường biên. Bản nằm ở phía tây xã Tam Lư, cách trung tâm xã 2km. 
Bản Sại có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Muống; phía bắc giáp bản Hậu; phía tây giáp bản Piềng Khóe, xã Tam Lư; phía nam giáp nước bạn Lào với 4km đường biên. 
Bản Sại là trung tâm của mường Sại xưa. Chiều dài của bản khoảng 1,5km, có con đường giao thông đi dọc sông Lò, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. 
Tương truyền dân gian kể lại rằng: Vào một năm (cuối thế kỷ XVII) trời mưa to gió lớn, con suối Cha Lóc nước dâng lên cao, đổ ào ào từ trên cao xuống. Người dân bản Sại bất ngờ trông thấy một cái máng lợn (hang Mú) xuôi theo dòng nước trôi xuống. Ông Tạo thấy thế liền cho dân bản lần theo dòng suối tìm đến tận đầu nguồn thì thấy một dòng họ với 5 hộ gia đình và 38 nhân khẩu. Khi hỏi thì không người nào biết là họ gì, nguồn gốc ở đâu đến, chỉ biết những người này là dân tộc Khơ Mú. Tạo mường đã cho các gia đình nhập cư vào mường của mình và được phép mang họ Tạo (họ Phạm). Hiện nay, con cháu các gia đình này vẫn cư trú ở bản. Nhân dân bản Sại vui mừng vì có những người mới đến nhập cư nên ông tạo mường đã cho khai phá một đám ruộng mới, đặt tên là na Xá và đặt tên cho một quả đồi mang tên các hộ đó là Pom Xá Khô. Hiện nay quả đồi ấy vẫn còn.
Mường Sại dưới sự cai quản của ông Tạo mường, nhân dân đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, kinh tế phát triển, đời sống tinh thần phong phú. Tiếng tốt đồn xa, các dòng họ từ những nơi khác tìm đến xin được chung sống với mường ngày càng đông. Tính đến thời điểm đó đã có 5 dòng họ cùng chung sống là họ Kha (tức họ Phạm, họ Hà ngày nay); họ Lữ, họ Vi, họ Lò và họ Lương. 
Hiện nay, bản Sại có 2 dân tộc anh em cùng chung sống là Thái và Kinh. Trong đó dân tộc tộc Thái chiếm 98%. 
Bản Piềng Khóe (Khé)
Piềng Khóe là bản thành lập mới nhất của xã Tam Lư. 
Piềng Khóe có trí địa lý: phía đông và phía nam giáp bản Sại; phía tây giáp với bản Mò, xã Tam Thanh; phía bắc giáp xã Tam Thanh.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, thuộc vào bản Sại, xã Tam Lư. Năm 2008, được tách ra từ bản Sại gọi là bản Piềng Khóe. 
Bản Piềng Khóe có nhiều dòng họ lớn nhỏ như: họ Phạm, họ Hà, họ Lò, họ Vi, họ Lương, họ Bùi, họ Ngân, họ Lữ, họ Đỗ, họ Lê, họ Phan. Họ Hà có nguồn gốc từ Sơn La và từ bản Bon, xã Sơn Lư. Họ Lò: có nguồn gốc từ bản Ngàm, xã Tam Thanh và bản Sại, xã Tam Lư. Họ Vi: có nguồn gốc xuất xứ từ xã Yên Khương, huyện Lang Chánh và từ 2 xã Mường Mìn, Sơn Điện; có một số hộ từ bản Hậu, xã Tam Lư chuyển vào. Họ Lương: có nguồn gốc từ xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hóa và từ bản Sủa, xã Sơn Điện. Họ Ngân có nguồn gốc từ bản Máy, xã Trung Thượng. Họ Lữ có nguồn gốc từ xã Trung Hạ, Trung Thượng. Họ Đỗ, Lê, Phan đều có nguồn gốc của từ huyện Thiệu Hóa lên làm ăn sinh sống.
Bản Piềng Khóe có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh.
Người dân trong bản sinh sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa nước và khai thác lâm sản, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên: luồng, nứa, vầu...
2.3.9. Xã Tam Thanh
2.3.9.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội
Xã Tam Thanh có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Tam Lư.
Phía tây giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. 
Phía nam giáp xã Yên Khương, huyện Lang Chánh. 
Phía bắc giáp xã Sơn Điện, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Tam Thanh theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 9.924,36ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 9.367,49ha. 
Đất phi nông nghiệp: 220,72ha.
Đất chưa sử dụng: 356,15ha.
Tổng dân số xã Tam Thanh theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 3.534 người. Trong đó: nam giới 1.793 người, nữ giới 1.741 người; mật độ dân số 36 người/km2.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Tam Thanh thuộc mường Mò, tổng Tam Lư, châu Quan Hóa. Tam Lư thời ấy gồm có mường Hạ, mường Sại, mường Mò, nay là các xã Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Lư, Sơn Hà và thị trấn Quan Sơn.
Từ giai đoạn 1930 - 1938, Tam Lư gồm có 7 xã: xã Tam Lư, xã Hậu Lư, xã Sơn Lư, xã Thượng Lư, xã Hàm Lư, xã Trung Lư và xã Định Lư. Các làng bản xã Tam Thanh hiện nay, thời kỳ đó thuộc xã Thượng Lư.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đến năm 1946, Chính quyền Cách mạng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sát nhập 3 xã Thượng Lư, xã Trung Lư và xã Sơn Lư thành một xã và thống nhất lấy tên gọi là xã Tam Lư.
Thực hiện Quyết định số 19-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 20 tháng 5 năm 1988: mục 6: “Chia xã Tam Lư thành 2 xã, lấy tên là xã Tam Lư và xã Tam Thanh. Xã Tam Thanh gồm hầu hết địa phận mường Mò. Trừ bản Hậu thuộc về xã Tam Lư.
Toàn xã có 698 hộ gia đình 3.435 nhân khẩu. Trong đó: Dân tộc Thái có 3.382 người chiếm 98%; dân tộc Kinh chiếm 0,2%; dân tộc Mường chiếm 0,1% dân số toàn xã. Trong 3 dân tộc sinh sống trên địa bàn, người Thái là dân tộc có mặt từ thuở khai mường lập bản, người Kinh, người Mường mới đến sinh sống tại xã từ năm 1988.
Xã Tam Thanh hiện nay có các dòng họ cùng chung sống đoàn kết gắn bó bên nhau. Đó là các dòng họ: Hà, Phạm, Lò, Lữ, Ngân, Lương, Lộc, Khoang, Vi, Dương, Trương, Bùi, Lê, Trịnh. Trong đó, dòng họ chiếm số hộ, số khẩu đông nhất là họ Hà.
Hiện nay, xã Tam Thanh gồm có 9 bản: Bản Bôn; bản Cha Lung, bản Phe, bản Nà Ấu, bản Mò, bản Ngàm, bản Kham, bản Pa, bản Piềng Pa.
Xã Tam Thanh nằm về phía tây của huyện Quan Sơn, cách trung tâm huyện lị gần 20km từ Km 42 Quốc lộ 217 vào 12km. Tam Thanh là một xã miền núi thuộc vùng sâu, vùng xa, có đường biên giới quốc gia tiếp giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. 
Xã Tam Thanh có địa hình núi non hiểm trở, cao nhất là các ngọn núi Pù Xà Lày, Pù Phà Mứt ở bản Pa; Pù Lông Lênh ở bản Ngàm. Có con sông Lò và nhiều khe, suối ngăn cách các làng bản. Thác 20 sải ở bản Khà vừa cung cấp nước sinh hoạt tưới tiêu cho đồng ruộng vừa là một thắng cảnh đẹp của xã Tam Thanh. Người dân sinh sống dọc hai bên dòng sông Lò và các suối Khà, suối Pa. Đường sá đi lại giữa các bản còn nhiều khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa lũ.
Địa hình xã chia cắt bởi nhiều sông suối, đồi núi. Trong đó có con suối lớn nhất là suối Pa. Con sông Lò chảy từ Mường Pao, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào sang, đoạn thượng nguồn bên nước bạn Lào gọi là Nặm Pao.
Sông Lò chảy qua các bản Kham, Bôn, Ngàm, Piềng Pa, Nà Ấu, Mò của xã Tam Thanh rồi xuống địa phận xã Tam Lư.
Suối Pa bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào chảy theo hướng tây - đông qua bản Pa, Cha Lung, Phe đổ ra sông Lò tại bản Piềng Pa. Do vậy bản Piềng Pa còn có tên gọi khác là bản Sộp Pa có nghĩa là bản miệng suối (cửa suối) Pa. Người Thái gọi nơi suối, sông tiếp giáp nhau là miệng suối, miệng sông còn cửa sông là nói theo người Kinh.
Xã Tam Thanh nhiều phong cảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng như Thác 20 sải ở suối Khà, xóm Có Hướng của bản Ngàm. Cánh Ngước sông Lò thuộc địa phận bản Kham, thung lũng Xam Họi (động 300) của bản Ngàm về phía thượng nguồn sông Lò, Pù Phạ Mứt bản Pa giáp với bản Yên, xã Mường Mìn. Trên địa bàn xã trước đây có nhiều động vật và thực vật quý hiếm như: hổ, báo, hươu, nai, lợn lòi, gấu, bò tót, khỉ, vượn, tê tê, nhím, đại bàng, yểng, chim trĩ, chim công và nhiều động vật khác. Thực vật thì có nhiều loài gỗ quý như: sến, táu, sưa, dổi, lát hoa và rất nhiều loài cây thuốc chữa bệnh. Hiện nay, các loài động vật và thực vật đã dần cạn kiệt, số lượng và chủng loại không còn nhiều như trước đây.
Rừng ở Tam Thanh có nhiều gỗ, nứa, vầu, song mây, cây dược liệu là cây mọc tự nhiên. Đặc biệt cây phèn (cây chủ thả cánh kiến) vừa mọc tự nhiên vừa do nhân dân trồng thả cánh kiến. Ngày trước đồng bào Thái đã có câu ca nói về 4 vùng, trong đó có vùng đất Quan Sơn:
“Khí chắng lánh mường Mò
Che khô Mường Ly
Pa pính chi Mường Xím
Kháu hóm niếu Mường Mìn Cay nọi”.
Dịch:
Cánh kiến đỏ Mường Mò
Chè khô Mường Lý
Cá nướng ngon Mường Xím
Gạo nếp dẻo thơm ở Mường Mìn là Cay nọi
2.3.9.2. Các bản thuộc xã Tam Thanh
Bản Nà Ấu
Bản Nà Ấu (theo tiếng Thái gọi là bản ruộng bà nội). Bản Nà Ấu, trước đây gọi là Chiềng Tén, Chiềng Mò.
Bản Nà Ấu ở cửa ngõ xã Tam Thanh, cách trung tâm UBND xã 1km về phía đông. 
Bản Nà Âu có vị trí: phía đông giáp với bản Sại, bản Hậu xã Tam Lư; phía tây giáp với bản Phe, bản Bôn xã Tam Thanh; phía nam giáp với bản Mò xã Tam Thanh; phía bắc giáp với bản Tình, xã Tam Lư. 
Nà Ấu là bản có từ lâu đời. Tương truyền trong dân gian rằng: vào khoảng thế kỷ XVI có hai ông bà từ đồng bằng Bắc bộ vào xứ Thanh tìm nơi làm ăn sinh sống. Đến Mục Sơn được một thời gian, hai ông bà để gia đình người con trai ở lại, còn hai ông bà lại đi tiếp lên vùng đất Quan Sơn, thấy vùng đất này có thể khai hoang làm ruộng nước nên hai ông bà ở lại, tập hợp các dòng họ cùng chung sức khai phá đất đai, xây dựng bản làng. Người con trai ở Mục Sơn biết ông bà đã chọn được nơi ở phù hợp nên đã cùng vợ con lên chung sức làm ăn với bố mẹ. Bản mường ngày càng phát triển, mọi người biết ơn công lao của ông đã tôn ông làm tạo mường. Sau khi ông bà mất, con cháu và bà con đã lập đền thờ cúng ông bà. 
Bản Nà Ấu lúc đó có tên là Chiềng Tén. (Nà Ấu theo tiếng Thái là ruộng bà nội). Tưởng nhớ đến công lao của ông bà nên khi ông bà mất, dân bản đã gọi bản Nà Ấu của mình là Chiềng Mò.
Giai đoạn từ 1900 đến 1945, bản Chiềng Mò có 5 dòng họ cùng làm ăn chung sống. Nhưng do bị thực dân Pháp và giai cấp phong kiến áp bức bóc lột nên dân bản phải trốn vào rừng sâu cư trú. Đến những năm 1950 - 1951, giặc Pháp cấu kết với một số phần tử phản động trong nước dồn dân sang nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Lực lượng dân quân du kích cùng một số dân tản cư không theo giặc sang nước bạn Lào đã xuống xã Trung Thượng và huyện Lang Chánh kết hợp với bộ đội địa phương đứng lên đánh Pháp. Cuối năm 1953, đánh đồn Bốt - huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, giải phóng Thượng Lào. Từ đó, dân bản lại trở về quê cũ, tiếp tục làm ăn sinh sống. Lúc đó bản Chiềng Mò chỉ còn 14 hộ, 82 nhân khẩu.
Giai đoạn năm 1954 đến năm 1960, nhân dân bản Chiềng Mò được tuyên truyền giáo dục, giác ngộ cách mạng, một lòng đoàn kết làm ăn sinh sống xây dựng bản làng, cùng nhau chuẩn bị mọi điều kiện vật chất và tinh thần để vào HTX. Ruộng đất được nhập vào HTX quản lý. Đến năm 1961 - 1963, nghe theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước, nhân dân bản Chiềng Mò đã xây dựng HTX bậc thấp liên hợp giữa các bản: Nà Ấu, Mò, Kham, bản Bôn, Bản Ngàm và bản Có Hướng. Gọi là Tổ đổi công, rồi tiến lên xây dựng HTX bậc cao. Bản lúc này có 18 hộ 101 nhân khẩu. Với tài nguyên thiên nhiên phong phú, ruộng đất nương rẫy phát triển nên đời sống nhân dân bản Chiềng Mò ngày càng ổn định, sung túc.
Địa phận bản Nà Ấu bắt đầu từ Póm Kín Xê (Núi ăn thề) xuống Bằng Khóe, ngược dòng sông Lò đến Bằng Tình vào theo suối Pa. Đến suối Long Hé tắt qua suối Nà Oi lên thẳng đỉnh Pha Lanh, từ Pha Lanh xuống Póm Kín Xê. 
Bản Nà Ấu nằm dọc theo sông Lò, phía trước mặt có cánh đồng rộng và con sông Lò; phía sau có đồi Pù Sần và Póm Lăng, có khe suối Tá Bành. Nà Ấu có cánh đồng Nà Mo được phân từng khu vực có các tên gọi là Nà Mương, Nà Mén, Nà Păn, Nà Quyền, Nà Hái, Nà Hái Lăng, Nà Lúm, Nà Hó Luống, Nà Lọng Nặm, Nà Nặm Bò, Nà He Tiếm, Nà Phén, Nà Dia, Nà Ấu và có một tuyến mương chính từ bản Phe đến cánh đồng có chiều dài 2.760 m.
Bản Nà Ấu 100% đều là dân tộc Thái. Người Thái bản Nà Ấu có 6 dòng họ: họ Phạm, Hà, Lương, Lò, Vi, Lữ chung sống đoàn kết bên nhau. Họ Hà là dòng họ cư trú lâu đời, có số hộ, số khẩu đông nhất bản.
Bản Mò
Bản Mò có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Piềng Khóe; phía tây giáp bản Ngàm; phía nam giáp bản Bôn; phía bắc giáp bản Nà Ấu.
Người dân bản Mò sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp. Trong bản đều là người Thái. Có 7 dòng họ: Lò, Lương, Hà, Lộc, Phạm, Vi, Lữ làm ăn, chung sống, đoàn kết, gắn bó bên nhau.
Bản Piềng Pa
Bản Piềng Pa thành lập năm 1988. Bản có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ngàm; phía tây giáp bản Phe; phía nam giáp bản Nà Ấu; phía bắc giáp bản Bôn.
Bản Piềng Pa có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Người dân trong bản Piềng Pa chủ yếu làm nghề kinh doanh, buôn bán.
Bản Bôn (Pa Phèn)
Bản Bôn có từ sau khi tạo mường Mò chia đất cho tạo mường Chự. Khi mất bản Bôn về cho mường Chự thì lấy bản Pa Phèn đặt tên mới là bản Bôn. 
Bản Bôn có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ngàm; phía tây giáp bản Phe; phía nam giáp bản Kham; phía bắc giáp bản Piềng Pa.
Bản Bôn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, thuộc mường Mò. Bản Bôn có hai dòng họ cùng chung sống là Thái và Mường. Bản có các dòng họ: Lương, Vi, Lữ, Lộc, Lò, Ngân, Hà, Phạm cùng sinh sống đoàn kết với nhau. 
Bản Ngàm (Bản Pa Vai)
Bản Ngàm giáp biên giới Việt - Lào, là cửa ngõ biên giới với cột mốc H5 về phía đông nam sông Lò. Đây là một bản vùng sâu, vùng xa giáp với Phôn Xay, huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, cách trung tâm xã Tam Thanh 15km. 
Bản Ngàm có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Mò; phía bắc giáp bản Bôn có sông Lò ngăn cách; phía tây giáp bản Kham, có sông Lò ngăn cách; phía nam giáp với nước bạn Lào.
Bản Ngàm có chiều dài khoảng 1.500m uốn cong hình chữ S. Dân cư tập trung ở giữa hai bản còn rải rác ở đầu bản và cuối bản với địa phận hẹp thường được gọi là bản trong và bản ngoài. Ở phía trước bản có con mương tưới nước chảy sát theo bản bắt nguồn từ suối Khà đến cánh đồng với chiều dài 2.000m, dưới mương chính có cánh đồng chạy dọc sang bản. Cánh đồng được ngăn cách làm ba nhóm thường gọi là na Nóc, na Cuống và na Có Hướng. Cánh đồng na Chá, na Lo, na Tén, na Lúm, na Tang Táy, na Có Muống, na Sài, na Luống, na Ta Cá, na Có Hướng. Những tên ruộng này có từ xa xưa để lại. Phía sau bản về phía nam có 3 quả đồi gọi là Póm Sân, Póm Lắng Hườn (đồi sau nhà) và Póm Phái.
Bản Ngàm. Có 6 dòng họ lớn: họ Lò, Lương, Hà, Ngân, Vi và Lường thuộc hai dân tộc Thái và Kinh cùng chung sống, đoàn kết gắn bó bên nhau. Người Thái chiếm 95% dân số của bản.
Bản Kham 
Bản Kham là bản vùng biên giới của xã Tam Thanh. Bản Kham có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ngàm (ngăn cách bởi con sông Lò); phía bắc giáp bản Bôn (ngăn cách bởi dòng suối Kham); phía tây giáp bản Phe; phía nam giáp biên giới Việt - Lào, có cột mốc H5.
Hiện nay, địa phận bản Kham được tính từ suối Kham vào theo suối Co Vin (cửa suối cây Bi) lên đến đỉnh núi Póm Chồn Ngôn đến mốc biên giới đất biên phòng, thẳng xuống đỉnh Pù Cân xuôi xuống Pù Mỵ, núi Pha Lay xuống đến sông Lò là Vằng Tá Cọ. Từ Vằng Tá Cọ theo sông Lò xuống đến cửa suối Kham. 
Bản Kham trải dọc ngang chân đồi theo hướng tây - nam, dài 800m uốn lượn hình chữ S theo địa thế của sông Lò chảy qua địa bàn của bản. Dân cư sinh sống tập trung nhiều nhất ở đầu và cuối bản. Vì địa hình chật hẹp nên bản Kham thường gọi là bản trong và bản ngoài. Bản ngoài giáp sông Lò về phía nam. Bản trong giáp suối Kham về phía tây, bản có hai hang đất xuyên thẳng vào chân đồi, sâu 50m, rộng 1,4m, cao 2,5m, có màu đất vàng sét và màu tro lẫn đá mồ côi. Hang trên cách hang dưới 40m. Hang dưới có mó nước chảy liên tục. Từ xa xưa các cụ truyền lại bằng cái tên: Hu Vó (hang Mó Nước). Khu vực hang này gọi là Lúng Nghe.
Phía trước bản Kham có con mương tưới tiêu dài 1.200m chạy sát theo bản. Bắt nguồn từ suối Kham đến cánh đồng chạy dọc theo bản, ngăn cách thành hai nhóm, bà con nơi đây thường gọi là na Chá và na Cuống. Các cánh đồng có tên gọi từ xa xưa truyền lại là na Quán, na Chá, na Hín, na Khuống. Con sông Lò chạy vòng từ đầu bản đến cuối bản. Về phía sau bản là các ngọn đồi dọc theo hướng đông - tây, gọi là Póm Sần, Póm Mó, Póm Lắng Hươn, Póm Có Vá.
Bản Kham có 9 dòng họ: Lương, Vi, Lò, Ngân, Phạm, Khoang, Lữ, Hà, Bùi với hai dân tộc anh em cùng chung sống là dân tộc Thái và dân tộc Mường. 
Bản Phe
Bản Phe là bản biên giới Việt - Lào của xã Tam Thanh. Bản Phe có vị trí địa lý tiếp giáp như sau: phía đông giáp bản Nà Ấu, Piềng Pa; phía tây giáp bản Cha Lung; phía nam giáp bản Kham; phía bắc giáp bản Tình xã Tam Lư.
Phía Nam của bản có rừng đồi Pom Buốc Chạng, Cằng Long Vương; phía bắc có dãy núi Pù Sung Rông đồi kéo dài tận tới Pha Lanh; phía tây có đồi Tén Bặt Còn, 4 chân đồi tỏa xuống thành thung lũng, có dòng suối Pa bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào, chảy sang hai bên bờ suối có cánh đồng xanh tươi và có rừng luồng cao xanh bát ngát.
Dọc suối Pa có vũng nước mà hằng năm các cụ thường tế Cằng Long Vương. Theo các người già trong bản, trước đây, năm nào mưa thuận gió hòa, ăn nên làm ra, dưới suối Pa lại nổi lên đôi cá sấu. Năm nào làm ăn không thuận lợi thì nổi lên đôi rắn ráo cổ vàng, có cánh tay (thác Con Gà), cánh sắng (thác Sắng), ở dưới chân thác có hang Long vương. Mùa xuân năm nào bản Phe có sự biến động trong làng thì nước trong hang chảy ra đục ngầu. Có Cánh Sao Va, tương truyền là nơi tạo Bôn xin Tạo Phe điều chỉnh lại ranh giới, ít nhất cho xin 20 xại. Tạo Phe không chấp nhận, vẫn theo ranh giới cũ, tại Cánh Phá Lạn. Từ đó, được mang tên là Cánh Sao Va - Phá Lạn ngăn ranh giới bản Phe và bản Bôn. Cuối bản có dãy đá to và dài, trên dãy đá xương rồng cạnh suối Lọng Pháng xưa kia các cụ truyền lại là rồng đất nổi lên, bị sét đánh nổ đầu chết biến thành đá.
Đồi Tén Bặt Còn là nơi làm rẫy tập trung, có Piềng bãi rộng lớn, trên đồi cao gió mát, hằng năm vào mùa thu trai gái tập trung vui chơi, hát khặp, ném còn, đánh khăng, đánh mảng. 
“Buốc khoài om pù sung” là nơi có con trâu đực húc chết một con hổ tại đó nên mang tên Lũng trâu om. Na Úm, Na Oi là nơi đàn hổ hay đến sinh con, bắt thú. Còn có câu ví: “Ngước băng hừa, xứa na Úm, chú hốm mạy, chú mi xác mú”. Nghĩa là: Thần vương ở vụng Hưa, hổ gầm ở Na Úm, mỗi bóng cây đều có xác lợn.
Bản Phe có các bến suối: tá Tóc, tá Luống, tá Tớ, tá Phé và tá Na Pháng. Tá Mỏ có Tá Bó Cúng (mó tôm), tá Lọng Nghịu và tá Lọng Lin.
Có các suối chảy trong bản: suối Lọng He, suối Lọng Na Oi, suối Mòn, suối Lo Hen, suối Tá Bó, suối Lọng Nghịu, Lọng Lin, Lọng Pháng, Khoài Đón, và suối Tíu, có hang Trăn bên ngọn suối Phe, có hai vụng nước suối ngọt, được gọi là Púng Xộp Púng và Púng Xộp Úm nơi thú vật hay đến uống nước.
Phía nam của bản có suối Lọng Văn, suối Púng, suối Tói, suối Na Chá, suối Sao Ba, suối Dá Ngâu, suối Na Oi. Có một dãy đá to cao trên mặt bằng khoảng 30m2. Tương truyền, người xưa nếu bị voi đuổi hay chạy lên trên nóc hòn đá để trốn tránh nên gọi là Cón Hín Pái Chạng.
Các dòng họ sinh sống lâu đời ở bản Phe là họ Lữ, Hà, Lò, Vi. Trong đó, dòng họ Lữ là dòng họ khai sơn mở đất của bản.
Bản Cha Lung
Bản Cha Lung được hình thành 2 xóm (Cha Lung, Cha Lan) nằm dọc theo suối Pa.
Cha Lung là bản có đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 3km và có đường ranh giới giáp với các xã Sơn Điện và xã Tam Lư của huyện Quan Sơn.
Bản Cha Lung có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Phe; phía nam giáp với đường biên giới nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía tây giáp với bản Pa; phía bắc giáp với bản Tình, xã Tam Lư.
Năm 1961, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhân dân bản Cha Lung xây dựng Hợp tác xã bậc thấp, liên hợp với bản Phe là HTX Trung Lập. Lúc này, bản có 18 hộ với 103 nhân khẩu. Sau khi giải tán HTX, bản trở lại tên gọi ban đầu là bản Cha Lung.
Bản có dòng suối Pa chạy dọc từ đầu đến cuối bản. Phía trước bản có cánh đồng ruộng, sang bên kia suối Pa có Pom Tén Bặt Còn (nghĩa là núi đỉnh đồi ném còn). Bản Cha Lung đầu ngoài giáp bản Phe, từ suối Khoài Lón đến Hắng Vằng Văn (Đuôi Vụng Văn). Phía trong từ suối Khén bên kia suối Pa từ Hát Sộp Khua. 
 Phía sau bản có 2 con suối nhỏ, đầu làng là suối Nong Ó, cuối bản là Huối Cần và có 3 đồi núi. Đầu bản là Pom Sưa Nắng (đồi hổ ngồi); giữa bản là Póm Hín Chạng (đồi Đá Voi), cuối bản là Póm Che (đồi Chè). 
Bản Cha Lung có 7 cánh đồng, tên gọi bằng tiếng Thái là: na Piềng Héo, na Tưng Cha Lung, na Póm, na Bán, na Cha Lán, na Muống và na Tá, có 4 tuyến mương với chiều dài là 2.462m. Trong đó có một tuyến dài 2.000m được xây đắp bê tông kiên cố, lấy nước tưới tiêu cho đồng ruộng. Nguồn nước tưới tiêu và sinh hoạt của bản Cha Lung chủ yếu lấy từ 2 dòng suối Pa và suối Lóng.
Bà con trong bản đã chung sức xây dựng quê hương, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống kinh tế. Cuộc sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng phong phú. 
Bản Cha Lung hiện nay có diện tích là 966,6ha, với 6 dòng họ và 2 dân tộc Thái, Kinh chung sống đoàn kết bên nhau.
Bản Pa
Bản Pa có vị trí địa lý: phía đông giáp với bản Cha Lung; phía tây giáp bản Yên, xã Mường Mìn; phía nam giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía bắc giáp bản Xa Mang, xã Sơn Điện.
Bản Pa có hai dân tộc Thái và Mường cùng chung sống. Trong bản có các dòng họ lớn nhỏ, gồm: họ Lương, họ Lò, họ Ngân, họ Khoang, họ Phạm, họ Vi, họ Lữ, họ Hà, họ Lê.
Người dân bản Pa làm ăn sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và khai thác lâm sản. 
2.3.10. Xã Sơn Điện
2.3.10.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Xã Sơn Điện có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Sơn Lư.
Phía tây giáp xã Mường Mìn.
Phía nam giáp xã: Tam Thanh, Tam Lư (huyện Quan Sơn) và huyện Sầm Tớ, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Thiên Phú, huyện Quan Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Sơn Điện theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 9.437,35ha. Trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 8.549,06ha.
- Đất phi nông nghiệp: 297,45ha.
- Đất chưa sử dụng: 590,84ha.
Tổng dân số xã Sơn Điện theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 4.117 người. Trong đó: nam giới 2.164 người, nữ giới 1.953 người; mật độ dân số 44 người/km2.
Xã Sơn Điện trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, gồm 2 xã Trịnh Sơn và xã Trịnh Điện hợp thành xã Sơn Điện.
Ngày 28/2/1950, Sơn Điện hợp nhất với xã Sơn Thủy lấy tên chung là xã Sơn Thủy.
Đến năm 1963 lại chia tách xã Sơn Thủy ra thành 2 xã là xã Sơn Thủy (Mường Xia) và xã Sơn Điện (Mường Mìn).
Xã Sơn Điện gồm có các chòm: Bun, Ban, Sủa, Ngàm, Nhài, Yên, Bơn, Chiềng Mìn và Tân Sơn.
Theo Nghị định số 65/1999/NĐ-CP, ngày 25 tháng 08 năm 1999, xã Sơn Điện lại tách thành hai xã mới, xã Sơn Điện và xã Mường Mìn.
Dân cư trong xã gồm dân tộc Thái chiếm 49,33%; dân tộc Mường chiếm 43,81%; dân tộc Kinh chiếm 6,86%. 
Trong các dân tộc trên địa bàn xã, dân tộc Thái có mặt sớm nhất, dân tộc Mường đến Sơn Điện đầu thế kỷ XV, dân tộc Kinh đến từ năm 1977. 
Xã Sơn Điện có các dòng họ chính, gồm: họ Lương, Lò, Phạm, Hà, Lộc, Ngân, Vi, Lữ. 
Hiện nay, xã Sơn Điện có 11 bản và hai khu dân cư: Bản Ban; bản Bun; bản Na Nghịu; bản Na Lộc; bản Ngàm; bản Nhài; bản Na Hồ; bản Tân Sơn; bản Sủa; bản Na Phường; bản Xa Mang; hai khu dân cư Km 54 và Km 61. 
Xã Sơn Điện có dòng sông Luồng và tuyến đường 217 đi qua. Đoạn sông Luồng chảy qua Sơn Điện từ cửa suối Yên (Bản Tân Sơn) xuống đến hết địa phận bản Sủa dài khoảng 15km.
Đường 217 chạy qua Sơn Điện từ đỉnh Pù Đen Mường Km 49 giáp với xã Sơn Lư (tính từ Đồng Tâm) lên đến Km 74 + 500 cầu suối Yên giáp với xã Mường Mìn dài 15,5km.
Sơn Điện có nhiều núi nhưng chủ yếu là núi đất có tầng đất dày, thiên nhiên ban cho Sơn Điện (Mường Mìn) nhiều gỗ, vầu và nứa nên đồng bào có nguồn thu nhập ổn định từ sản phẩm rừng.
Núi đá ở Sơn Điện có núi Pha Đón ranh giới với xã Sơn Thủy, Pha Đón thuộc địa phận bản Na Nghịu, Pha Phanh địa phận bản Sủa, Na Hồ kéo dài xuống xã Nam Động, huyện Quan Hóa và một số núi đá ở bản Sủa giáp với xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn và xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa.
Địa phận xã Sơn Điện (Mường Mìn) cũng có nhiều khe suối. Trong đó có suối Bun là lớn nhất.
Suối Yên bắt nguồn từ bản Yên giáp biên giới Việt - Lào chảy theo hướng tây - nam về đông - bắc đổ ra sông Luồng tại địa phận bản Chiềng - Tân Sơn Km 65.
Cầu suối Yên nơi ranh giới của Sơn Điện và Mường Mìn (đập tràn) đường 217 thời kỳ kháng chiến chống Mỹ là điểm oanh tạc ác liệt thường xuyên của máy bay Mỹ. Hàng vạn tấn bom đạn Mỹ đã ném xuống nơi đây trong những năm 1965 - 1968 nhằm phá đập suối Yên ngăn đường tiếp tế của ta sang chiến trường C (Lào).
2.3.10.2. Các bản thuộc xã Sơn Điện
Bản Sủa (Súa)
Bản Sủa trước đây gồm ba bản là bản Sủa, bản Na Hồ và bản Na Phường.
Bản Sủa nằm dưới chân núi dọc theo sông Luồng và suối Sủa, cách trung tâm xã Sơn Điện 15km về phía đông bắc. Địa hình nhiều đồi núi dốc, núi đá, khe suối. Chiều dài từ đầu bản đến cuối bản là 1,8km. Chiều rộng là 500m. Bản có diện tích tự nhiên là 952,1ha.
Bản Sủa trước đây địa bàn rộng, phức tạp, dân cư đông, giao thông đi lại khó khăn, bị ngăn cách bởi con sông Luồng không thuận lợi cho việc đi lại cũng như sự phát triển chung của bà con trong bản. Vì vậy, năm 1987, bản Sủa được chia thành hai bản là bản Sủa và bản Na Hồ. 
Năm 2008, theo nguyện vọng của cán bộ và nhân dân bản Sủa, lại tách bản Sủa thành hai bản là bản Sủa và bản Na Phường. Bản Na Phường được tính từ đập cống suối Xa Lá đi dọc suối Sủa; bản Sủa được tính từ đập cống suối Xa Lá đi dọc theo bờ sông Luồng, hai bản đều giáp ranh với xã Nam Động, huyện Quan Hóa.
Hiện nay, bản Sủa có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bâu, xã Nam Động, huyện Quan Hóa; phía bắc giáp bản Na Phường; phía nam giáp bản Na Hồ; phía tây giáp bản Ngàm.
Bản Sủa gồm hai dân tộc anh em cùng chung sống là dân tộc Thái và người dân tộc Mường. 
Dân cư bản Sủa sinh sống chủ yếu từ hai nguồn lâm nghiệp và nông nghiệp trồng lúa nước.
Bản Na Phường 
Bản Na Phường thành lập năm 2008 tách ra từ bản Sủa (Súa)
Phía đông giáp bản Sủa, phía tây giáp bản Bơn xã Mường Mìn và bản Cóc, xã Sơn Thủy.
Phía bắc giáp xã Nam Động huyện Quan Hóa, phía nam giáp bản Na Hồ.
Bản Na Phường có hai dân tộc Thái, Mường với các dòng họ chiếm đa số là Lương, Lộc, Lò. Người dân sống chủ yếu làm nghề nông, lâm nghiệp.
Bản Na Hồ
Bản Na Hồ được tách ra từ bản Sủa từ năm 1987. Địa giới của bản được tính từ bên phải bờ sông Luồng đi xuống hạ lưu. 
Bản Na Hồ có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Sủa; phía tây giáp bản Bun; phía nam giáp bản Bìn, xã Sơn Lư, huyện Quan Sơn; phía bắc giáp bản Sủa.
Bản Na Hồ có diện tích tự nhiên là 715,8ha. Bản có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường. Người dân bản Na Hồ sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Bun
Bản Bun có vị trí: phía đông giáp bản Bìn, xã Sơn Lư, Na Hồ xã Sơn Điện; phía tây giáp bản Ban; phía nam giáp bản Sỏi, xã Sơn Lư; phía bắc giáp bản Ngàm xã Sơn Điện.
Bản có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh.
Bản Ban
Bản Ban có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bun; phía tây giáp bản Xa Mang, Na Lộc; phía nam giáp xã Tam Thanh; phía bắc giáp bản Na Hồ, bản Ngàm.
Bản có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường.
Bản Ban có diện tích tự nhiên là 880,6ha; trong đó, diện tích sản xuất đất nông nghiệp: 20 ha. Đất lâm nghiệp: 650ha; còn lại là đất khác.
Bản Xa Mang
Bản Xa Mang có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ban; phía tây giáp bản Yên, xã Mường Mìn và giáp nước bạn Lào; phía Nam giáp bản Pa và Cha Lung, xã Tam Thanh; phía bắc giáp bản Na Lộc và Na Nghịu.
Bản Xa Mang nằm dọc theo suối Xa Mang, là bản có 1,8km đường biên giới với nước bạn Lào. Bản cách trung tâm xã 11km về phía đông nam, cách trung tâm huyện Quan Sơn 27km. Diện tích tự nhiên của bản là 626ha.
Bản Xa Mang được hình thành từ lâu nhưng hợp rồi lại tách, bản ổn định khi các hộ dân từ các nơi về xây dựng làng bản theo dự án 327, lâm trường Na Mèo năm 1994 và dự án trồng rừng 661. Lúc thành lập bản định canh định cư theo dự án 327 lâm trường Na Mèo đưa vào 19 hộ, đến nay quá trình nhập cư tăng lên 29 hộ.
Bản Xa Mang có địa hình đồi, núi, nhiều khe suối nên giao thông đi lại khó khăn, thông tin liên lạc chưa được phủ sóng tuyệt đối. Chiều dài của bản là 1,2km, chiều rộng là 600m. Trong bản có nhiều suối như: suối Bôn, suối Chính, suối Côi, suối Lào, suối Lech, suối Xa Mang. 
Bản Xa Mang có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường. 
Bản Ngàm
Bản Ngàm hình thành từ lâu đời. Có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Sủa; phía tây giáp bản Na Lộc; phía nam giáp bản Ban; phía bắc giáp bản Na Phường.
Ở phía bắc của sông Luồng có núi đá Pha Đón và Pha Lanh, thung lũng Khu Lống Pha Pứng. Bản có con sông Luồng chảy qua, có các suối như suối Bơn, suối Chóc Lách, suối Tá, suối Căm, Ta Lau, suối Huối Hơn, huối Mường, huối Hón Tấp, huối Mường Tấp, huối Héo, huối Tín Pệt, huối Ta Láp, huối Sau Tạng, huối Vứng, huối Tàng Luống và các xứ đồng như: Nà Xa Láo, Nà Nưa, Nà Tống, Nà Pa Cọ, Nà Piềng Pù.
Bản Ngàm được phân bố thành 2 khu dân cư gồm khu Piềng Vứng và khu Co Nào. Có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường. Có 5 dòng họ: Lò, Lương, Vi, Ngân, Phạm (Lò Khăm).
Người dân trong bản sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp. 
Bản Na Lộc
Bản Na Lộc lúc đầu có tên là Kòn Dộc thuộc bản Nhài. Đến năm 1963, đổi tên bản là Na Lộc, tách Na Lộc thành bản riêng thuộc xã Sơn Điện cho đến nay. 
Bản Na Lộc nằm dọc theo Quốc lộ 217, giao thông thuận lợi, có sông Luồng chảy qua địa bàn của bản, địa hình nhiều đồi núi và thung lũng, đất đai canh tác nông nghiệp và lâm nghiệp, đặc biệt là núi Pha Ta Mướng và Tạng Keo Mứt.
Bản Na Lộc có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Ngàm, bản Ban; phía tây giáp cơ quan Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo; phía nam giáp bản Ban và bản Xa Mang; phía bắc giáp đất bản Ngàm.
Người dân sinh sống dựa chủ yếu vào lâm nghiệp chiếm 60%, nông nghiệp chiếm 25% và dịch vụ chiếm 15%.
Mật độ dân cư trong bản thưa thớt ở ba khu, phân bổ không đồng đều. Có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống là: Thái, Mường và Kinh. 
Bản Na Nghịu (Bản Cây Gạo)
Bản có tên gọi khác là bản Nhài tớ, có nghĩa là Nhài dưới.
Bản Na Nghịu có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Na Lộc, bản Ngàm; phía tây giáp bản Nhài; phía nam giáp bản Xa Mang; phía bắc giáp bản Na Lộc và khu trung tâm xã Sơn Điện và cơ quan Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo.
Bản Na Nghịu trước đây thuộc bản Nhài, lịch sử hình thành của bản gắn với quá trình hình thành bản Nhài. Năm 1987, tách Na Nghịu thành một bản mới thuộc xã Sơn Điện. Tên gọi của bản có từ đấy cho đến nay.
Bản có địa hình đồi, núi cao, có con sông Luồng chảy qua.
Bản Na Nghịu có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh Có các dòng họ là họ Hà, họ Lương, họ Vi, họ Phạm, họ Lò. Người dân sinh sống bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Nhài (Dài)
Bản Nhài trước đây gồm các bản Na Lộc, Na Nghịu, bản Nhài và một phần diện tích bản Tân Sơn ngày nay. Diện tích tự nhiên trên 3.000ha. Năm 1959, Nhà nước thành lập bản Tân Sơn gồm một phần đất bản Chiềng và bản Nhài.
Năm 1974, chia tách Na Lộc thành bản riêng. Năm 1987, lại tách Na Nghịu thành một bản mới. 
Bản Nhài có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Na Nghịu, phía tây giáp bản Tân Sơn, phía nam giáp bản Xa Mang, phía Bắc giáp bản Bơn, bản Ngàm. 
Địa hình bản Nhài có nhiều núi rừng, khe, suối. Con suối lớn nhất là suối Nhài, có sông Luồng chảy qua bản gần 1km, có Pha Đón cao ngất, thác suối Nhài 3 tầng đẹp kỳ vĩ, thác cao gần 100m.
Nhân dân bản Nhài giàu lòng yêu nước chống ngoại xâm từ xưa đến nay. Ngay từ thế kỷ thứ XV đã có người tham gia đội quân đi đánh giặc Minh ở đồn Quán pế, phía tây sông Mã, thuộc đất Quan Hóa giáp Mai Châu Hòa Bình, trong đó có ông Tiều Quế, Pú Ông tức Lương Văn Ông. Sang thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng lãnh đạo, suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân bản Nhài đã nhiệt tình cùng với nhân dân cả nước góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Ngay từ thời kỳ đầu, bản đã có người tham gia vào Ủy ban lâm thời xã, hăng hái tham gia dân quân du kích đánh đồn Mường Xia, Sơn Thủy từ năm 1948 đến 1950 và đồn Mường Sôi - Lào từ năm 1950 đến 1953 và hăng hái tham gia dân công phục vụ chiến dịch thượng Lào, chiến dịch Điện Biên Phủ. Những năm 1953 -1954, bản còn là căn cứ kho tàng trung chuyển phục vụ chiến dịch thượng Lào suốt từ Km 60 đến Km 63. Dân quân du kích bản Nhài đã cùng với bộ đội tuần tra bảo vệ kho tàng an toàn.
Bản Tân Sơn 
Vùng đất bản Tân Sơn trước đây có tên gọi là Piềng Cần. 
Bản Tân Sơn có vị trí địa lý: phía đông và phía nam giáp bản Nhài; phía tây giáp bản Chiềng, xã Mường Mìn; phía bắc giáp bản Bơn, xã Mường Mìn; 
Từ ngày 31/08/1999 về trước, bản nằm ở trung tâm xã Sơn Điện cũ. Năm 1960, Nhà nước thành lập bản Tân Sơn gồm một phần đất bản Chiềng và bản Nhài. Sau khi chia thành hai xã Sơn Điện và Mường Mìn, Tân Sơn trở thành bản cuối xã Sơn Điện, giáp với xã Mường Mìn, có đường Quốc lộ 217 xuyên qua bản từ Việt Nam sang nước bạn Lào. Tên gọi của bản có từ đó cho đến ngày nay.
Diện tích tự nhiên 325,8ha; trong đó, diện tích ruộng lúa nước 20ha; diện tích trồng màu 19,1ha; diện tích rừng luồng 175ha; diện tích rừng gỗ lim 1,7ha, còn lại là đất khác.
Bản Tân Sơn có sông Luồng (Nặm Tuông) chảy qua, có nhiều suối nhỏ là suối Na Mòn, suối Nam Túm, suối Léch Nưa, suối Léch Tớ, suối Vóc Pát, suối Noong Tàu. Sông suối chảy trên địa bàn là nguồn nước thuận lợi cho đồng bào sản xuất và sinh hoạt. Hiện tại, người dân lấy nước tưới tiêu cho hoa màu từ suối Yên chảy qua bản Na Pạng vào bản Tân Sơn và dùng nước sinh hoạt ở suối Na Mòn.
Bản Tân Sơn có núi Pha Đón, săn Pù Có Vá, săn Dào, săn Tắm Tàn, săn Phòng Không, đồi Pha Toóc, đồi Pa Vai.
Đồng bào canh tác trên các piềng, bãi: Piềng Co Mí, Piềng Léch; Các cánh đồng: na Hát Pénh, na Su Lục, na Lin Lenh, na Co Há, na Có Hiềng, na Pốt, na Ang, na Ma Lai, na Pi Niêng, na Cần, na En Mạ.
Theo cụ Phạm Bá Quyết, 91 tuổi (năm 2001), cán bộ hưu trí bản Chiềng, xã Mường Mìn, bản Tân Sơn ngày nay từ 1959 về trước gọi tên piềng Cần. Vào giữa thế kỷ XV, ông Hai, tạo Pọng Nhài và ông Ba, ông Tư ở bản Chiềng, ba anh em đã thống nhất huy động nhân dân toàn mường đào mương Cần, đắp phai lấy nước từ na Pạng về piềng Cần khai hoang các cánh đồng na Hát Pénh, na Co Há, na Lín Lánh trồng lúa; piềng Cần làm hoa màu cạn; piềng Su Lục làm thao trường tập luyện phi ngựa (en mạ). Đó là các cánh đồng của bản Tân Sơn ngày nay.
Tạo Tư làm rẫy ở đầu piềng Cần liền trồng 3 bụi cây cần vào đám rẫy đó, thấy bụi cây cần xanh tốt nên đặt tên cho bãi đất này là piềng Cần. Tên gọi có từ đó. 
Bản Tân Sơn có 3 dân tộc: Thái, Mường và Kinh cùng sinh sống. 
Người dân bản Tân Sơn sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và khai thác lâm sản (nứa, vầu, trồng và chăm sóc luồng).
2.3.11. Xã Mường Mìn
2.3.11.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Vị trí địa lý của xã Mường Mìn. 
Phía đông giáp bản Tân Sơn và bản Xa Mang, xã Sơn Điện.
Phía tây giáp xã Na Mèo, giáp bản Chía, Mường Xôi, huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía nam giáp bản Kiên, Na Muồn, huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã Sơn Thủy.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Mường Mìn theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 8.920,51ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 7.823,86ha.
Đất phi nông nghiệp: 181,35ha.
Đất chưa sử dụng: 915,30ha.
Tổng dân số xã Mường Mìn theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 2.324 người. Trong đó: nam giới 1.171 người, nữ giới 1.153 người; mật độ dân số 26 người/km2.
Từ năm 1945 trở về trước, Mường Mìn đặt trung tâm của bộ máy cai trị ở bản Chiềng Mìn. Mường Mìn (2 xã Sơn Điện và Mường Mìn) được tính từ Km 49 Pù Đen Mường là ranh giới giữa xã Sơn Lư đến Mường Cha Km 78 thuộc địa phận xã Na Mèo ngày nay. Trước năm 1931, Thực dân Pháp đã chia Mường Mìn thành 2 xã để dễ bề quản lý, cai trị gọi là xã Trịnh Điện và xã Trịnh Sơn (nay là Sơn Điện, Mường Mìn).
Năm 1963, theo Quyết định số 30 - CP của Hội đồng Chính phủ, ngày 6 - 3 - 1963: Chia ba xã Tam Chung, Sơn Thủy và Trung Thành thuộc huyện Quan Hóa thành 7 xã mới, thì xã Sơn Thủy thành hai xã mới là xã Sơn Thủy và xã Sơn Điện. 
Xã Sơn Thủy gồm có các chòm: Muống, Tân Lập, Thanh Sơn, Cha Khót, Hiềng, Thủy Thành, Bo, Thủy Chung, Thủy Sơn, Trung Tiến và Xuân Tiến; 
Xã Sơn Điện gồm có các bản: Bun, Ban, Sủa, Ngàm, Nhài, Yên, Bơn, Chiềng Mìn và Tân Sơn. Mường Mìn lúc bấy giờ thuộc xã Sơn Điện.
Theo Nghị định số 65/1999/NĐ-CP, ngày 25 tháng 08 năm 1999: “Mục 2. Thành lập xã Mường Mìn thuộc huyện Quan Sơn trên cơ sở 8.190ha diện tích tự nhiên và 2.115 nhân khẩu của xã Sơn Điện. Địa giới hành chính xã Mường Mìn: phía đông giáp xã Sơn Điện, phía tây giáp xã Sơn Thủy, phía nam giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía bắc giáp xã Sơn Thủy. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính xã Sơn Điện có 10.355ha diện tích tự nhiên và 4.287 nhân khẩu”. Tên gọi xã Mường Mìn có từ đó cho đến ngày nay.
Xã Mường Mìn là một xã vùng cao miền biên giới của huyện Quan Sơn có 10,8km đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, cách trung tâm huyện lỵ Quan Sơn hơn 30km về phía tây. Mường Mìn nằm theo Quốc lộ 217 chạy lên Cửa khẩu quốc tế Na Mèo. Mường Mìn có địa hình hiểm trở của kiểu rừng nhiệt đới. 
Xã Mường Mìn là vùng đất có phong cảnh sơn thủy hữu tình, có câu chuyện tình Pha Dua nổi tiếng trong cộng đồng người Thái ở Quan Sơn. Có các núi đá như: Pha Đon (núi đá trắng); Pha Hen (núi ngửa cổ); Pha Dùa (núi nhô ra sông), Pha Cay (núi cúng gà), Pha Phứng (núi ong làm tổ), Pha Đen (núi trên trán); bên cạnh các núi đá là núi đất: Pù Xà Lày (thuộc quần thể dãy Trường Sơn chảy từ huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào sang huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An), Pù Cút, Sắn Lắng Bán (núi sau bản, chảy từ Pù Cút qua eo Pa Lết tại Km 71, đường 217 chảy về hết hạ nguồn suối Yên tại Km 65 - 300m), Pom Cằng Pạng - Póm Pù Kì nối lên Pù Cút. Nơi đây trước kia là khu vực người Khơ Mú sinh sống. Từ năm 1935, người Khơ Mú đã di chuyển lên bản Lách, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát sinh sống, Pù Cánh Khóe (rừng thác quế), Sài Khao là thung lũng trên núi (có tên cát bạc, cát trắng). Đây cũng là địa danh người Khơ Mú đã từng sinh sống.
Xã Mường Mìn là vùng núi rừng trùng điệp, có những dãy núi cao như Pù Xa Lày cao 1.416m so với mặt nước biển, có dãy núi Pha Dùa cao nhất khu vực huyện Quan Sơn (hơn 1.640m). 
Xã Mường Mìn có Pha Đón, xưa kia là nơi trực chiến của dân quân xã Sơn Điện (khi xã Mường Mìn còn chung với xã Sơn Điện) bắn máy bay Mỹ. Pha Đón nằm trong quần thể núi đá vôi theo chiều chếch Đông - Bắc tạo vòng cung ôm lấy dòng sông Luồng uốn lượn tăng thêm sự kỳ vĩ của non nước Mường Mìn. Có đồi Pom Dưới theo truyền thuyết là mồ chôn quân Minh, là trận địa đanh thép làm cho máy bay Mỹ kinh hoàng mỗi khi chúng đến bắn phá cầu suối Yên. Chính nơi đây vào một đêm tháng 2 năm 1966, dân quân đã bắn cháy một máy bay Mỹ rơi về phía nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. 
Cầu suối Yên cách Km 65 về phía Đồng Tâm 200m, là chiếc cầu trên tuyến đường 217 nối liền nước ta với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Đế quốc Mỹ đã trút nhiều bom đạn xuống đây nhằm cắt đứt con đường huyết mạch giao thông tiếp viện cho chiến trường C giữa nước ta với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Xã Mường Mìn có mạng lưới sông suối chằng chịt, độ dốc cao, dòng chảy lớn. Sông Luồng là con sông chính chảy qua địa bàn xã. Sông bắt nguồn từ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, do hai con suối lớn của Mường Xôi và Mường Pùn hợp lại. Dòng bên tả gọi là dòng Nặm Xôi; bên hữu gọi là Nặm Pùn chạy về hợp lại vào Việt Nam gọi là nặm Tuông (sông Luồng) chảy vào xã Na Mèo đi qua xã Sơn Thủy, chảy qua dãy Pha Dùa vào xã Mường Mìn, gặp suối Yên tại bản Tân Sơn bắt đầu chảy về xã Sơn Điện, và các xã của huyện Quan Hóa: xã Nam Động, xã Nam Tiến và xã Nam Xuân gặp sông Mã tại phía ngoài Hang Ma khoảng 2km, xã Hồi Xuân huyện Quan Hóa. Đây là con sông làm huyết mạch giao thông nối liền các xã ở huyện Quan Sơn và huyện Quan Hóa. Ngày xưa khi đường bộ chưa phát triển, sông Luồng, sông Lò, sông Mã là con đường thủy vận chuyển lâm thổ sản chính từ miền ngược xuống miền xuôi ở Thanh Hóa. 
Suối Yên là con suối chính của Mường Mìn dùng để tưới nước ruộng của các bản Yên, Na Pạng, Luốc Làu, bản Chiềng và Tân Sơn xã Sơn Điện. 
Suối Bóng là nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu cho các ruộng na Co Phày, na Có Tén, na Piềng Bán, na Pa Mác, na Có Phường, na Có Lướng, na Chà Khé.
Suối Én là nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu cho các cánh đồng: na Én, na Cháo, na Keo, na Héo, na Có Phúng, Nà Lạ.
Bên cạnh dòng sông Luồng, suối Yên, suối Én, suối Bóng là các khe, hón dày đặc. Mỗi khe, hón đều gắn với địa danh làng bản Mường Mìn, gắn với quá trình khai mường lập bản. Sau đây là một số khe, hón ở Mường Mìn:
Dọc theo sông Luồng có các khe suối: suối Cướm (hón cây trám), suối Héo (suối bãi tha ma chiềng Lào), Nặm Bóng (suối Bóng lòng suối cát mịn, chảy từ Pù Cút xuống), suối Hưa (nơi người xưa kéo đi tìm đất kéo thuyền dấu trong hón), suối Còn Sét (hón cá mương, nơi đây đã đào được trống đồng), suối Chộc (hón có nhiều gỗ bi người Thái hay dùng làm cối giã gạo, gọi là Chộc), suối Hát Quáng (hón Thác rộng), suối Lế (suối tế lễ khu rừng thiêng Mường Mìn xưa)...
Dọc tả hữu suối Yên có các hón: hón Na Nốm (hón ruộng cây trúc), Na Mon (hón ruộng cây dâu), hón Xá (trước kia là bản của người Khơ Mú), hón Pung (Pung là mỏ nước ngọt trâu thích uống), hón Ché Phai (góc đập), hón Ngóm, cha Lan, Cộng, Sứng, Na Yến, Na Ón, Chạng Náu (hón voi thối), hón Én, Cay, Chá, Pung, Ai (hón làm ranh giới hai bản Yên và bản Mìn), Muống, Tá Ban, Đống Khống (hón Thiêng), Páo, Pha, Pha Phứng (suối núi đá ong mật), Pung. 
Dọc theo suối Én có các hón: Ho Láng (tên nhân vật thần thoại Ho Láng), Có Mị (hón cây mít), Nặm Dín (suối nước mát), suối Héo (suối bãi tha ma), Có Cần (hón có nhiều cây song cần), suối Tóc, Có Nào (hón cây tranh), Có Hày (hón cây sanh), Na Héo (hón ruộng tha ma), Tống Thánh, Có Hín Hại (hón đá xấu), Tanh Hướng (hón nhà ông Hướng), suối Sần (nơi thờ cúng lưu vực suối Én), Có Toi (hón họ lá trầu không), Ngoi Cắng (hón cây khỉ độc ngủ), Na Cháo, Mác Càng (trái Cóc), Na Ti, Na Mạ, Súm Luồng, Sái Khò, Khúa Lậc, Có Phày, Bo Khoắn (hón Lạc vía), Chừa Lẹ (hón dây mác lẹ), Có Kè (cây da báo).
Dọc tả hữu suối Bóng có các khe hón: huối Có Mị (hón cây mít), Na Bo (hón chảy ra ruộng Bo), Tha Lánh (hón thiêng), huối Khuông (xưa suối có hũ bạc thiêng), Có Ten (hón cây mác ten), Có Phường (hón cây khế), Khí E (hón vãi phân), Na Lai (ruộng vân hoa), Pa Khà (hón Cỏ tranh), huối Dum (hón cây lát), Sộp Mú (hón mõm lợn), Pa Mác (hón cây cau), Có Ngóa (hón cây vả), Có Phày (hón cây dâu da ba múi), Cha Khụ (hón co rụt), suối Pán (hón Hé), suối Lìn Nặm (hón máng nước), Pùng Bón Nóc (hón bãi môn ngoài), Pùng Bon Cuống (hón bãi môn trong), Heo Kéo (hón Mồ chôn của người Kinh), Có Mòn (hón cây dâu), Tín Cánh (hón chân thác), Keo Đén (hón ranh giới), 
Lưu vực suối Lế có các hón: suối Pa Mác (ruộng bãi cau), suối Đưa (ruộng cây sung), Luốc Ưng, Che Khe, Héo Phó, Huối Xá, Na Có Lướng, Đín Cánh (suối đất đỏ), Có Hộc (hón cây bương), Sa Ăn, Thắm Toi (hón dây trầu), Na Ang, Nóng Xơ, Hín Đắm (hón đá đen), suối Hượn (hón chữa bệnh cùi - hủi), Huối Sần (hón thờ thần), Phá Dồng, suối Cút (hón cây dương xỉ), suối Chưa Dượng (hón Hoằng Đằng).
Ruộng nước ở Mường Mìn chiếm tỷ lệ khá cao trong toàn huyện. Từ xa xưa người Mường Mìn đã đào mương dẫn nước vào ruộng để chủ động tưới tiêu. Những con mương dài 3 - 4km như mương Suối Lế, mương Cang (mương Cần), mương Luông, mương Lè. Ở Mường Mìn lượng mưa trung bình hàng năm rất lớn, khí hậu nhiệt đới, ẩm. Nhiệt độ trung bình từ 12 - 340, mùa đông nhiệt độ trung bình khoảng 180C; mùa hè trung bình 290C. Chính vì nhiệt độ trung bình của hai mùa không chênh lệch nhau quá lớn nên rất thuận lợi cho sản xuất nông - lâm nghiệp.
Sau đây là một số piềng bãi, ruộng đồng người dân Mường Mìn khai phá canh tác từ bao đời nay: Ven sông Luồng có các piềng: piềng Phạ (bãi Trời), piềng Bơn (bản Bơn), piềng Sa Hay, piềng Bóng (bãi đối diện suối Bóng), piềng Chiềng Lào (bản Luốc Làu), piềng Héo (bãi tha ma các nhà quí tộc), piềng Khật (nơi quân sỹ đi đánh giặc Minh chiến thắng trở về gặp nhau giữa hai đường thủy bộ rồi định cư ở Mường Mìn - thuộc bản Chiềng, Na Piềng Phạ, na Piềng Băng Dao, na Bơn. 
Ruộng lưu vực suối Yên có: na Le (ruộng đẹp nên người qua đường phải ngước nhìn), na Nốm (ruộng cây trúc), na Nốm Nưa (ruộng cây trúc trên), na Sộp Lin (ruộng đầu máng), na Mác Cại (ruộng cây vải), na Kháu Cháo (ruộng cơm nấu nồi), na Pông Diên (ruộng ông Diên khai phá), na On Bua (ruộng rừng cây trúc làm cần rượu), na Khà (ruộng rừng tranh), na Ách Chạng (ruộng ách voi), na Pông Đống Khuống (ruộng sâu thiêng), na Duỗi Bá (ruộng bóng đa), na Ten Luông (ruộng lạch nước lớn), na Hách Tén (ruộng mường hay cấy lấy ngày ở trên), na Hách Lọng (ruộng mường hay cấy lấy ngày ở mương), na Lọng Ang (ruộng rốn nước), na Hòn Hín (ruộng nhiều đá), na Lọng Diên (ruộng trũng lắm lươn), na Hới Lau (ruộng bãi cây lau), na Dụng Cáng (ruộng giữa bản Pom Dụng), na Hòn Có Báy (ruộng nơi giặc Mỹ ném bom xuống đoàn người đang cấy ruộng năm 1968), na Tá, na Cha Khang (ruộng cây thuộc thận), na Có Phày, na Hói mạng, na Kem Cha, na Kẹm Lọng, na Sum Luồng (bụi luồng), na Có Phèn, na Có Há, na Có Hiến, na Kiên Lọng, na Hó Láng, na Păn, na Khoài, na Ngân, na Pun Xôi, na Pạng Háng, na Pạng Húa, na Ché Phái, na Pạng Muôn, na Lọng Sài, Na Ngóm Hang, na Ngóm Húa, na Nghịu, na Pồng Nọi, na Sộp Cộng, na Muống, na Ta Ban, na Pồng, Luống, na Hiềng, ma Mưới (ruộng vật được gấu), na Lăn, na Hín, na Có Hum, na Viêng, na Yến, na Bón, na Đín, na Đín Mò, na Húa Cánh, na Ón. 
Lưu vực suối Én có các cánh đồng: na Tín Cánh, na Có Muống; na Có Sán, na Có Ha, na Bán Sần, na Lài, na Có Nôi, na Có Muống, na Héo, na Hày, na Chưa Lẹ, na Có Phày (ruộng cây dâu da), na Có Cần, na Lu, na Lạ, na Keo, na Láp, na Có Cần, na Hát, na Hi, na Cháo, na Cao, na Én, na Háng Kẻ, na Che Khé (ruộng cây gội đầu). Lưu vực suối Lế có các thửa ruộng: na Sộp Huối, na Pa Mác, na Đưa, na Ưng, na Có Hộc, na Pồng, na Hiềng, na Ti, na Phó Nọi, na Nám Huối, na Có Lướng...
Mường Mìn có một số thác vừa và nhỏ như thác Cánh Khóe, thác Sào Ba (20 sải), Suối Páo, thác Cánh Lum, suối Hặc - gần đồn biên phòng Mường Mìn, bản Yên (ba nơi này trước kia là nơi người Khơ Mú cư trú), thác Cánh Ngóm (dối diện bản Na Pạng), thác Cánh Lế, Cánh Bóng Pa Tuận (Thác Cánh Bóng cá cùng đường).
Hang động ở mường Mìn gồm có: hang Dùa, hang Hiến, hang Khúa Pồng, hang Thẳm Toi, Hòn Lạn Tắng.
Đất đai xã Mường Mìn rất màu mỡ, thuận lợi cho nhân dân canh tác trồng trọt và khai thác nguồn lợi từ rừng. Các loại cây vầu, nứa, luồng là thế mạnh chính của xã Mường Mìn trong phát triển lâm nghiệp, đem lại cho bà con thu nhập khá ổn định, cuộc sống từng ngày đổi thay. Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người dân xã Mường Mìn không tiếc sức người sức của, khai thác rừng phục vụ cho kháng chiến: làm nhà ở, nhà kho, nhà xưởng cho trạm tiểu tu Na Lạ tại Km 68 khai khác gỗ để đóng thùng xe. Rừng còn là nơi ngụy trang cho kho và nhà xưởng cũng như che chở nhân dân và bộ đội dưới những tán lá xanh của đại ngàn.
Rừng núi Mường Mìn có rất nhiều gỗ quý như sến, táu, chò chỉ, pơ mu (lông lênh), có rừng cọ bạt ngàn ở các đồi, piềng bãi để lợp nhà.
Người dân xã Mường Mìn sống chủ yếu ở 5 bản: bản Mìn, bản Chiềng, bản Luốc Làu, bản Bơn, và bản Yên. Các bản chạy dọc theo đường biên giới nước bạn Lào, xã Na Mèo, xã Sơn Thủy, xã Tam Thanh. 
Bản Mìn, bản Chiềng, bản Luốc Làu có thế mạnh là rừng gỗ, vầu, nứa, samu, le, luồng,... 
Bản Bơn có rừng luồng và khai thác đá; gỗ chò chỉ ở suối Lế, pha Hen. Bản Yên có nhiều thế mạnh như: gỗ xamu, dổi, sến, táu, cọ... Bản còn có thác Cánh Khé dài gần 100m - một thắng cảnh thơ mộng và hùng vĩ của núi rừng Mường Mìn.
Mường Mìn còn nổi tiếng một thời với nhiều loại động vật quý hiếm như voi, tê giác, gấu ngựa, bò tót, hươu, nai, hoẵng, hổ, báo, lợn lòi, chim công và muôn loài muông thú quý. Tạo hóa đã ban tặng cho người Mường Mìn nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú và giàu đẹp. Các loài gen quý hiếm hiện đang còn và phát triển. “Lá phổi xanh” núi rừng Mường Mìn đang được dân bản bảo tồn và gìn giữ.Vì thế, tên gọi Mường Mìn xưa là “Mường Mì” (Mường Có). Dưới sông lắm cá, trên rừng lắm cây nhiều thú. Sau gọi chệch đi là Mường Mìn.
Xã Mường Mìn hiện nay, gồm có các bản sau: bản Luốc Làu; bản Chiềng gồm 2 bản Pom Hin, Có Kè hợp lại; bản Mìn gồm các bản nhỏ là: Na Pạng - Na Keo - Na Cháo nay gọi các bản Luốc Làu (gồm Pom Dụng, Luốc Làu), bản Mìn, Chiềng trước đây gọi là bản Chiềng Mìn. Trung tâm bản là Pom Hin (bản Chiềng) ngày nay; bản Bơn; bản Yên (gồm 4 chòm: Tá Ban, Sần, Na Ón, Huối Hặc).
Xã Mường Mìn có 3 dân tộc cùng chung sống bên nhau. Người Thái chiếm 89%; người Mường chiếm 6,5%; người Kinh chiếm 3,6% dân số toàn xã.
Trung tâm xã đóng ở Km 65 + 400, về phía Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo; ở khu vực bản Cò Kè thuộc bản Chiềng.
Mường Mìn cũng có nhiều phong cảnh đẹp như Pha Dùa ở bản Bơn, Pù Xà Lày, Pù Xà Mứt ở bản Yên.
Trước năm 1935, trên địa bàn Sơn Điện cũ (nay là Mường Mìn) có đồng bào Khơ Mú cư trú ở Pù Kì, suối Khà, suối Dồm, Piềng Luông. Sau năm 1935, đồng bào di cư trở lại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, một số về bản Lách, huyện Mường Lát cư trú.
2.3.11.2. Các bản thuộc xã Mường Mìn
Bản Chiềng 
Bản Chiềng là trung tâm Mường Mìn. Bản nằm giữa sông Luồng và suối Yên, nơi tiếp giáp giữa suối Yên và sông Luồng thành hình chữ V, sau bản là đồi Pom Giới. 
Bản chiềng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Tân Sơn, xã Sơn Điện; phía tây giáp bản Luốc Làu; phía nam giáp với đất của bản Tân Sơn, xã Sơn Điện và bản Mìn; phía bắc giáp bản Bơn.
Bản Chiềng Mìn trước đây gồm có 10 bản (chòm): Bản Pom Hin, Bản Có Kè, Na Mác Cại, Luốc Làu, Pom Dụng, Na Pạng, Na Keo, Ché Phái Lè, Luốc Cang, Na Chá, Huối Bóng. Bản Chiềng ngày nay gồm: Pom Hin, Có Kè, Huối Bóng, Mác Cạn.
Người dân sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, lâm nghiệp trồng rừng và khai thác nguồn lợi từ rừng.
Trải qua nhiều thế hệ, nhiều người đã có công xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước như cụ Phạm Bá Tam, Phạm Bá Tứ, Phạm Bá Lượng, từng làm Tạo Mường Mìn hay Phạm Bá Ba, Phạm Bá Lương, Phạm Bá Phúc... làm Chủ tịch xã, Phó Chủ tịch UBHC huyện Quan Hóa, Phạm Văn Thư - nguyên Chủ tịch UBND huyện Quan Sơn là người con bản Chiềng.
Bản Luốc Làu
Bản Luốc Làu có vị trí địa lý: phía đông giáp với sông Luồng và bản Chiềng; phía tây và phía nam giáp bản Mìn; phía bắc giáp bản Bơn.
Bản Luốc Làu thuộc Chiềng Mìn trước đây, còn có tên là bản Nưa, nay lấy tên là bản Luốc Làu (bản có các chòm: Keo Cong, Luốc Làu, Che Phai Lè, Luốc Cang, Pom Dụng hợp lại).
Bản Luốc Làu dân cư chủ yếu là dân tộc Thái. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Bơn
Bản Bơn có vị trí địa lý: phía đông giáp với bản Sủa, xã Sơn Điện; phía tây giáp bản Chiềng; phía nam giáp bản Tây Sơn, xã Sơn Điện; phía bắc giáp bản Thủy Sơn, xã Sơn Thủy.
Bản Bơn nằm cách trung tâm xã khoảng 4km về phía tây bắc, có địa hình tương đối bằng phẳng, đồng ruộng bậc thang ở phía trước bản, phía sau bản là vườn đồi trầm hương, lát, quế... Xung quanh bản là một hệ thống núi, đồi bao quanh và đặc biệt có hai ngọn núi Pha Dùa và Pha Hen là một danh lam thắng cảnh hùng vĩ. Dòng sông Luồng chảy qua bản với chiều dài 4km, suối Lế dài 7km cung cấp nước tưới tiêu cho toàn bộ đồng ruộng trong bản.
Người dân bản Bơn sinh sống bằng nông, lâm nghiệp nhưng chủ yếu là lâm nghiệp. Phụ nữ bản Bơn nổi tiếng khéo tay dệt vải, ươm tơ và duyên dáng.
Bản Bơn có hai dòng họ là: họ Vi, họ Phạm, đông nhất là họ Vi. 
Bản Mìn
Bản Mìn xưa thuộc Chiềng Mìn, xã Sơn Điện, huyện Quan Hóa cũ. Đến năm 1987, thì tách làm hai bản là bản Mìn và bản Chiềng. Bản Mìn gồm có 4 bản nhỏ: Na Keo, Na Cháo, Na Pạng, Na Chá. Trong đó, Na Keo và Luốc Cháo dọc vào theo con suối Én, trục đường 217. Bản Na Pạng, Na Cha ở dọc theo con suối Yên. Trong bản có các dòng họ chính là: họ Phạm, họ Lương, họ Vi, họ Hà, họ Ngân. Bản Mìn là trung tâm của xã, là cái nôi của văn hóa xã Mường Mìn.
Địa hình bản Mìn có nhiều suối, đồi, thác và núi như: núi Pom Pạng, Pù Ngóm, Pha Đen, có suối Yên, suối Én, suối Chá... có thác Cánh Ngóm và thác Cánh Én. Người dân trong bản sinh sống bằng nghề nông lâm nghiệp.
Bản Yên 
Bản Yên trước năm 1945, lấy tên là Pọng Yên. Từ năm 1945 đến năm 1948 lấy tên là Nông Hội Yên.
Bản Yên có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Xa Mang, xã Sơn Điện; phía tây giáp bản Cha Khót, xã Na Mèo; phía nam giáp huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía bắc giáp bản Mìn.
Bản Yên là bản vùng cao biên giới Việt - Lào. Bản nằm ở thượng nguồn suối Yên, một suối lớn bắt nguồn từ phía tây nam giáp biên giới chạy ra đường 217 A gặp sông Luồng tại bản Chiềng, xã Mường Mìn. Bản Yên cách trung tâm xã Mường Mìn 6km về hướng tây - nam, bản có 11,8km đường biên giới với huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Cách trung tâm xã 6km, cách trung tâm huyện 42km. 
Bản Yên nằm dưới chân núi Pù Xà Lày, cao 1.416m so với mặt biển. Cánh Khóe xưa vốn là bản cư trú của người Khơ Mú, nơi đây trồng nhiều cây quế (tiếng Thái gọi là khóe hoặc khé), dãy núi này thuộc quần thể dãy Trường Sơn chảy từ Thượng Lào xuống là nơi hội tụ của các con suối lớn nhỏ bắt nguồn ở độ cao đổ dồn về thung lũng bản Yên, lưu vực suối Yên.
Đến thế kỉ XVI - XVII một bộ phận khá lớn dân bản Yên (Pọng Yên) cũ đã di chuyển sang nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, đi mường Quạ, mường Mùn huyện Quỳ Châu, Con Cuông, Nghệ An nên các bản suối Hặc, suối Xứng, Na Ón có lúc không còn người ở.
Đến đầu thế kỷ XX, bản có gần 60 hộ chủ yếu là họ Vi, Lương, Phạm. Họ đã lập Sần (Thần) bản tại bản Yên Nưa (Yên trên hay Yên trong). Sần của dòng họ Vi. Vì vậy, sau này bản được gọi là bản Sần.
Đến cuối năm 1964 đầu năm 1965, có các dòng họ Len, Hà, Lộc, Lữ, Lương của người Mường đến cư trú, làm ăn sinh sống. Do đường sá đi lại khó khăn, cuộc sống vất vả nên bà con đã chuyển cư vào sống ở khu vực Tây Nguyên. Một bộ phận dòng họ Phạm, họ Hà chuyển ra bản Chiềng Mìn sinh sống. 
Hiện nay, bản Yên, có 7 dòng họ với 3 dân tộc anh em cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Người dân sinh sống ở 2 cụm dân cư chính là bản Piềng Sần (Yên trong), bản Ta Bán (Yên ngoài). 
Từ trung tâm xã vào bản Yên có đường đi giữa bản Ta Bán lên Yên trong và Na Ón. Đồn biên phòng 499 đóng ở Na Đín Mó (ruộng đất dẻo có thể nặn làm nồi đất) thuộc Yên trong.
Bản Ta Bán (Yên ngoài) có số hộ và nhân khẩu đông hơn bản Yên trong. Bản tọa lạc trên mỏm đồi tương đối bằng phẳng, rộng khoảng 6km. Trước bản là ruộng nước dọc hai bên bờ suối Yên cấy hai vụ. Từ dưới cánh đồng nhìn lên là rừng trồng, rừng tự nhiên xanh tươi ngút ngàn.
Bản Piềng Sần (Yên trong) tọa lạc trên bãi đất tương đối bằng phẳng, rộng khoảng 3,1ha có độ dốc dưới 5%. Thế bản tựa vào núi nhìn ra suối theo hướng tây - bắc. Hai bên suối trước bản là ruộng nước cấy hai vụ. 
Nhìn chung phong cảnh 2 bản Yên (trong, ngoài) đều đẹp. Mặc dù là vùng sâu, vùng xa nhưng từ lâu đời vẫn là một bản trù phú.
Người dân bản Yên cần cù, siêng năng, hiếu khách. Ruộng nước bản Yên nhiều, đất tốt, năng suất cao. Rừng bản Yên rộng, giàu tài nguyên. Nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm như gỗ pơ mu, xa mu, dổi, de, chò chỉ, thú rừng rất nhiều. Đặc biệt rừng bản Yên nhiều cây cọ mọc tự nhiên nên gấu, khỉ, đến trú ngụ, các loài chim lớn ăn quả cọ như nộc cộc, nộc ngách (phượng hoàng, chim mỏ sừng...) trước đây bay từng đàn hàng ngàn con, chim yểng cổ vàng cũng rất nhiều.
Bản Yên có nhiều khe suối nên lắm cá, nhiều tôm, cua, là nguồn thủy sản phong phú từ lâu đời cho dân khai thác..
Ngày xưa, vào bản Yên đồng bào thường có câu “Kháu bán Yên phá tín xúm lướt”. Có nghĩa là vào bản Yên phải đi bộ, đường sá đi lại khó khăn, đá núi, sỏi cào trơn trượt 39 chỗ qua khe, 42 chỗ lội vụng sâu, lội suối trèo non cả buổi, vào đến bản Yên bàn chân tụ máu!
Bây giờ bản Yên đã có đường cấp phối chạy qua vào đồn biên phòng Mường Mìn. Hàng ngày có xe tải vào mua lâm sản là gỗ, luồng, vầu, nứa của đồng bào khai thác. Bản Yên đã có điện lưới, có sóng điện thoại, sóng truyền hình đến với từng hộ dân. Đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân Bản Yên đã thực sự đổi thay.
2.3.12. Xã Sơn Thủy
2.3.12.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Vị trí địa lý xã Sơn Thủy: 
Phía đông và phía nam giáp giáp xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn; 
Phía tây giáp xã Na Mèo, huyện Quan Sơn và huyện Viêng Xay, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; 
Phía bắc tiếp giáp các xã Hiền Kiệt, xã Thiên Phú, xã Hiền Chung của huyện Quan Hóa.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Sơn Thủy theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 13.376,97ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 11.508,03ha.
Đất phi nông nghiệp: 271,63ha. 
Đất chưa sử dụng: 1.378,13ha.
Tổng dân số xã Sơn Thủy theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 3.352 người. Trong đó: nam giới 1.683 người, nữ giới 1.669 người; mật độ dân số 25 người/km2.
Xã Sơn Thủy trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 thuộc Mường Xia - Mường Chu Sàn tổng Hữu Thủy. Mường Chu Sàn là một trong những mường lớn của dân tộc Thái nằm ở khu vực biên giới phía tây của tỉnh Thanh Hóa (phía nam sông Mã từ Mường Chanh, huyện Mường Lát kéo dài đến mường Chự, huyện Quan Sơn và một phần mường Ca Da, huyện Quan Hóa).
Thực hiện Quyết định số 30-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 06 tháng 3 năm 1963, chia xã Sơn Thủy thành 2 xã là xã Sơn Thủy và xã Sơn Điện. 
Xã Sơn Thủy gồm có các bản: bản Muống; Tân Lập, Thanh Sơn, Cha Khót, Hiềng, Thủy Thành, Bo, Thủy Chung, Thủy Sơn, HTX Trung Tiến và Xuân Tiến.
Năm 1999, thực hiện Nghị định số 65/1999/NĐ-CP, ngày 25 tháng 08 năm 1999, xã Sơn Thủy lại tách thành hai xã Sơn Thủy và Na Mèo: “Xã Na Mèo thành lập trên cơ sở 12.195ha diện tích tự nhiên và 2.605 nhân khẩu của xã Sơn Thủy”. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, xã Sơn Thủy còn 13.175ha diện tích tự nhiên và 2.981 nhân khẩu.
Sơn Thủy hiện nay gồm 12 bản: Thủy Sơn, Chung Sơn, Xuân Thành, Thủy Thành, Thủy Chung, Khà, Mùa Xuân, Xia Nọi, Muống, Cóc, Hiết và bản Chanh. Bản Xia Nọi và Mùa Xuân là 2 bản của người Mông. Các bản còn lại chủ yếu là người Thái có xen kẽ một số người Kinh và người Mường
Sơn Thủy là một xã vùng cao giáp biên giới nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Vùng đất Sơn Thủy là nơi giao hòa giữa dòng suối Xia bắt nguồn từ nước bạn Lào, chảy róc rách theo các chân núi đá thơ mộng, trong đó có núi Lá Hoa, hang Bo Cúng nhập vào con sông Luồng ngay tại trung tâm mường Xia tạo nên vùng ngã ba Sơn Thủy hữu tình. 
Nơi ngã ba sông suối này là trung tâm của đất mường Chu Sàn. Từ đây, có con đường giao thông dọc theo biên giới từ Tén Tằn (huyện Mường Lát) sang sông Lò, ngược lại từ suối Yên sang Khằng, Khiết, Thiên Phủ, Hiền Kiệt, Hiền Chung (huyện Quan Hóa). Đây chính là tuyến đường nối các huyện phía tây của tỉnh Thanh Hóa hiện nay. Do vậy, vùng đất Sơn Thủy từ xa xưa đã được chọn là thủ phủ của mường Chu Sàn.
Địa hình của xã có nhiều đồi núi, khe, suối: Có dòng sông Luồng bắt nguồn từ Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo chảy theo hướng tây - đông, đoạn qua địa bàn xã Sơn Thủy cũ dài khoảng 18km. Sông Luồng có nhiều ghềnh thác hiểm trở, lưu lượng nước đoạn này ít hơn các đoạn hạ lưu.
Các sông suối: sông Luồng, suối Muống, suối Xiết, suối Lác, suối Luốc Chạng thuộc địa phận bản Xuân Thành.
Núi Pha Dùa, sông Luồng, suối Phay, suối Ho, suối Lý, suối Nong Vua, hang Pha Cáng, thuộc địa phận bản Chung Sơn.
Núi Pha Lài, Pha Ú, Pha Día, đồi Pom Có, Pom Tá Phát, Pom Día, hang Pha Ú, Pha Lài, suối Xia, suối Día thuộc địa phận bản Thủy Chung.
Pha Dùa, Pha Hen, Pha Phứng, Pha Chừn, đồi Pom Sối, sông Luồng, Huối Hen, hang Pha Hén, hang Dùa thuộc địa phận bản Thủy Sơn.
Núi Pha Muống, Pha Hang Cáp, Pha Ói, Pha Xứ Phướng, Pom Lăng Hườn, huối Xia, huối Lin thuộc địa phận bản Muống.
Núi Pha Xúi, Pha Lánh, pha Xa Lịch, Huối Cóc, Huối Luốc Tua, Hang Máy, thuộc địa phận bản Cóc. 
Núi Pha Sát, Pha Vái, Pha Lài, Pha Khí Linh, Pha Cày, đồi Pom Ối, Pom Khoài, hang Bo Cúng, Ta Mong, Co Láy, suối Xia, suối Tong, suối Vái thuộc địa phận bản Chanh. 
Núi Pha Đón, Pha Púng, Pha Xúi, Pha Hang Cáp, hang Pha Pung, Pha Ác, đồi Pom Mét, suối Xia thuộc địa phận bản Hiết. 
Núi Pha Hang Póng, Pha Khà, Pha Lúng Thúng, hang Lươm Lang, huối Xỉa, Vơ Hong, Khà, Cha Loi, Ta Cuội thuộc địa phận bản Khà. 
Núi Pha Khúa, Pha Lín Chí, Pha Vóc Mạy, hang Co Dùm, Huối Xia, Huối Khua, thuộc địa phận bản Xia Nọi.
Núi Pha Xa Láng, Pha Héo, Pha Khéo Mú, Pha Puốc, Pha Vắn, đồi Pom Vực, hang Hin Lệch, suối Ca Lóc, suối Na, suối Choi, suối Xa Còng thuộc địa phận bản Thủy Thành.
Sông Luồng, suối Xia là hai con sông, suối chính trên địa bàn Sơn Thủy. Ngoài ra còn có rất nhiều suối.
Suối Xia Lấp bắt nguồn từ Cụm Nặm Ngà, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào chảy vào Việt Nam, gặp Xia Nọi tại phía trên Xia Nọi khoảng 1km hợp thành suối Xia. Suối Xia chảy qua các bản Khà, Chanh, Hiết, Muống, Thủy Chung đổ ra sông Luồng. Đoạn chảy qua bản Chanh nó đi qua động Bo Cúng huyền diệu. Nước suối Xia trong veo, lưu lượng nước khá lớn. Do vậy mà suối có cá dốc, loại cá ưa sinh sống ở nước sâu.
Xã Sơn Thủy có nhiều phong cảnh đẹp như núi Pha Dùa, Pha Hen, Pha Úi, Pha Bó, Pha Bóc Ngoạng, động Bo Cúng, hang Dơi, hang Gấu, hang Càng Cói, hang Hổ... Pha Bóc Mạy; có các thác đẹp như thác 20 sải ở suối Sàng bản Na Mèo, Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo...
Vùng đất Sơn Thủy là thủ phủ của mường Chu Sàn trước đây, có đền thờ tướng quân Tư Mã Hai Đào. Hằng năm cứ đến 15/3 âm lịch, đồng bào thường tổ chức thắp hương cúng ngài và 5 năm một lần, huyện Quan Sơn tổ chức Lễ hội Mường Xia, lễ hội diễn ra từ ngày 13 đến 15 tháng 3 âm lịch.
Thiên nhiên ban tặng cho Sơn Thủy nhiều đồi núi hang động, sông suối với nhiều loài động vật thực vật phong phú. Các hang động ở Sơn Thủy rất đa dạng phong phú, nhiều cảnh đẹp, nếu được đầu tư đúng mức tương lai sẽ trở thành điểm du lịch sinh thái cộng đồng hấp dẫn cho du khách và tăng thêm thu nhập cho đồng bào địa phương. 
Dân cư xã Sơn Thủy gồm 4 dân tộc Thái, Mường, Kinh, Mông: dân tộc Thái, chiếm 79,7%; dân tộc Mông chiếm 19,8%; dân tộc Mường chiếm 0,24%; dân tộc Kinh, chiếm 0,16%.
Sơn Thủy là nơi cộng cư của nhiều dòng họ. Đó là các họ: Hà, Lữ, Len, Hoàng, Lương, Cao, Ngân, Lò, Phạm, Sung, Thao, Hơ, Chá, Gia, Lê, Vi...
2.3.11.2. Các bản thuộc xã Sơn Thủy
Bản Thủy Sơn (Na Tuồng)
Thủy Sơn trước đây gọi là bản Na Tuồng, là bản cửa ngõ của xã Sơn Thủy. Địa thế của bản có núi đồi, sông suối bao quanh, dân cư phân bổ thành hai nhóm, ngăn cách bởi con sông Luồng, nơi chân núi Pha Dùa. Ngoài ra còn có một nhóm sống tập trung bên xóm Na Tuồng, còn phần lớn ở Piềng Dùa nơi cửa ngõ của xã Sơn Thủy. 
Bản Thủy Sơn có vị trí địa lý: phía đông và phía nam giáp xã Mường Mìn; phía tây giáp bản Chung Sơn và Thủy Chung; phía bắc giáp bản Cóc.
Sau thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chính quyền xã đã tổ chức đầu tư thủy lợi, đắp đập làm mương lấy nước tưới tiêu cho ruộng Na Tuồng. Đầu năm 1959, chính quyền xã đã kêu gọi nhân dân trong toàn xã khai hoang mở rộng diện tích lúa nước. Vận động nhân dân đến khôi phục bản Na Tuồng. 7 hộ gia đình đã tình nguyện rời bản của mình đến Na Tuồng chung sức canh tác, cùng làm ăn sinh sống (bản Máy 3 hộ, 14 nhân khẩu, bản Muống 2 hộ, 9 nhân khẩu, bản Hiết 1 hộ, 7 nhân khẩu, bản Xuân Thành 1 hộ, 7 nhân khẩu).
Năm 1965, bản Na Tuồng sát nhập bản Hen thành HTX Thủy Sơn, có tổng cộng là 17 hộ, 99 nhân khẩu. Từ đó nhân dân HTX Thủy Sơn từng bước ổn định, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng phát triển. 
Năm 1969, thực hiện chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về việc xây dựng HTX bậc cao, HTX Thủy Sơn được sát nhập với HTX Chung Sơn thành HTX Đội 3, bản Na Tuồng thuộc HTX nông nghiệp Chung Sơn.
Năm 1990, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, HTX Chung Sơn lại chia tách thành 3 HTX: Chung Sơn, Thủy Chung và Thủy Sơn. Bản Na Tuồng nằm trong HTX Thủy Sơn.
Năm 1994, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, giải thể chế độ HTX cho phù hợp với cơ chế chính sách mới. Từ đó, HTX Thủy Sơn lấy tên là bản Thủy Sơn cho đến nay. 
 Bản Thủy Sơn trước kia chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nghiệp, nhưng từ khi Đảng và Nhà nước có chủ trương giao đất giao rừng cho hộ gia đình, người dân bản Thủy Sơn đã kết hợp làm nông với phát triển trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ và khai thác nứa, vầu, duy trì và phát triển các nghề truyền thống như: dệt thổ cẩm, chăn nuôi gia súc, gia cầm, những lúc nông nhàn thì chài lưới trên sông Luồng, suối Xia nên đời sống của bà con từng bước được cải thiện. 
Các dòng họ sinh sống lâu đời ở bản là họ Lò, Hà, Vi, Ngân, Lữ, Phạm của dân tộc Thái. Những năm gần đây bản đã có một số hộ người dân tộc Kinh, Mường đến nhập cư cùng làm ăn chung sống làm cho hoạt động giao lưu văn hóa của bản có thêm nhiều sắc thái phong phú, đời sống kinh tế cũng ngày càng được nâng cao. 
 Bản Chung Sơn (Máy hoặc Xia Tớ)
Bản Chung Sơn bao gồm Xia Tớ, Xia Cang hợp lại còn có tên là bản Máy (bản Cháy).
 Bản Chung Sơn tọa lạc dựa lưng vào núi Pha Dùa, trước mặt là sông Luồng: phía đông giáp bản Thủy Sơn; phía tây giáp bản Xuân Thành; phía bắc giáp bản Thủy Chung; phía nam giáp xã Mường Mìn, theo ranh giới tự nhiên là núi Pha Dùa. 
Từ 1962 đến 1990 là HTX Chung Sơn. Năm 1990, HTX Chung Sơn được chia tách thành 3 bản đó là bản Chung Sơn, Thủy Sơn và Thủy Chung.
Chung Sơn có 2 dân tộc Thái và Kinh cùng chung sống. Bản có các dòng họ Ngân, Vi, Hà, Lữ, Hoàng, Phạm và họ Nguyễn. Bà con sinh sống chủ yếu bằng nghề nông lâm nghiệp.
Bản Thủy Chung (Na Cò)
Bản Thủy Chung có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Chung Sơn; phía tây giáp bản Muống; phía nam giáp bản Thủy Sơn; phía bắc giáp bản Muống (Khu đất ranh giới).
Trước đây, vùng đất này có tên là Na Cò - Pom Cò. Đến năm 1989 được chia thành 3 bản: Thủy Sơn, Chung Sơn và Thủy Chung. Bản Thủy Chung có tên gọi từ đấy cho đến bây giờ.
Địa hình bản Thủy Chung có các núi, đồi: Pha Lài, Pha Ría, Pha U; Có suối Sẻ, suối Gồm và một số mương, mó nước.
Hiện nay, bản Thủy Chung có ba dân tộc cùng chung sống là Thái Mường và Kinh. Trong bản có 12 dòng họ chung sống bên nhau, một số dòng họ lớn như: họ Ngân, họ Phạm, họ Vi, họ Hà, họ Lữ. 
Người dân Thủy Chung sinh sống chủ yếu là trồng cây lúa nước, đồng thời trồng và khai thác lâm sản như luồng, vầu, nứa.
Bản Muống
Bản Muống có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Hiết; phía tây giáp bản Thủy Chung; phía nam giáp bản Cóc; phía bắc giáp Pha Ác.
Bản Muống xưa kia gọi là pọng Muống thuộc xã Hữu Xuyên, tổng Hữu Thủy. Pọng gồm có 3 bản: bản Muống, bản Hiết và bản Cóc. Năm 1962, gọi là HTX bản Muống. 
Theo người già trong bản kể lại, xưa kia do trong làng, đầu làng, cuối làng, bờ khe, bờ suối đều có rất nhiều cây xoài, tiếng Thái gọi là Có Muống nên đặt tên bản là bản Muống.
Người Thái bản Muống có các dòng họ chính: Ngân, Phạm, Lương, Lò, Lữ. Bản Muống là một bản của người Thái có truyền thống văn hóa lâu đời. Hiện nay, dân cư sinh sống chủ yếu dọc theo suối Xia. Đời sống của nhân dân chủ yếu dựa vào bằng nghề nông nghiệp lúa nước, làm nương rẫy, khai thác lâm sản. Nguồn cá, tôm, rong rêu dưới suối Xia trước đây rất dồi dào, nay đã khan hiếm đi nhiều. Hiện nay, đồng bào kết hợp sản xuất nông, lâm nghiệp với chăn nuôi gia súc gia cầm. Đời sống dân bản chưa giàu nhưng cuộc sống đã tương đối ổn định và khá hơn trước. Nhiều gia đình đã vươn lên làm giàu từ chính mảnh đất quê hương do tổ tiên gây dựng.
Bản Cóc
Trước năm 1945, bản Cóc thuộc mường Xia, xã Hữu Thủy, tổng Hữu Thủy. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Cóc thuộc xã Sơn Thủy.
Bản Cóc nằm ở phía đông xã Sơn Thủy, có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Sủa, xã Sơn Điện; phía tây giáp bản Muống, xã Sơn Thủy; phía nam giáp bản Thủy Sơn, xã Sơn Thủy; phía bắc giáp bản Chanh, xã Sơn Thủy.
Thời kỳ miền Bắc đi lên xây dựng CNXH, bản Cóc gia nhập HTX và nằm trong HTX bản Muống, bao gồm 4 bản: Muống, Cóc, Hiết, Chanh.
Bản Cóc là một bản đặc biệt khó khăn của xã Sơn Thủy, giao thông đi lại rất hạn chế. Bản cách trung tâm xã Sơn Thủy 4 - 5km. Hệ thống đường đất và phải đi qua suối khe hiểm trở. Địa hình đồi, núi cao và rừng sâu. Bản còn có một số hang động như: hang Lòng Dằm, hang Kia Nặm, hang Cáy Phớ.
Bản Cóc có hai con suối là suối Cóc và suối Ma Nàng. Suối Cóc có chiều dài khoảng 5 - 6km và suối Ma Nàng có chiều dài khoảng 2 - 3km. Suối Cóc bắt nguồn từ đất bản Sủa xã Sơn Điện đổ về bản và chảy ra suối Xia tại bản Muống. Dòng suối Cóc là nơi cung cấp nguồn nước chủ yếu tưới tiêu ruộng lúa cho bà con dân bản.
Bản Cóc đều là người dân tộc Thái. Người dân nơi đây sinh sống bằng nghề nông lâm nghiệp, trồng cây lúa nước và hoa màu như: ngô, khoai, sắn. Khai thác lâm sản: luồng, nứa, vầu và chăn nuôi nhỏ lẻ.
Trong bản có một số dòng họ lớn như: Họ Vi, họ Lương, họ Lữ, họ Hà, họ Lò, họ Phạm, họ Ngân. Họ Phạm ngày trước ở trung tâm Mường Xia và một số họ di cư ở khắp nơi về sinh sống.
Bản Hiết
Bản Hiết có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Cóc; phía tây giáp bản Muống; phía nam giáp bản Muống và bản Cóc; phía bắc giáp bản Muống và bản Chanh.
Bản Hiết cách trung tâm xã 4 km về phía đông bắc, giao thông đi lại khá thuận tiện. Trên địa bàn của bản có rất nhiều núi, đồi, sông suối, mương, mó.
Theo người già trong bản kể lại: ngày trước dân bản làm ra của cải nhưng không có sự cai quản chỉ đạo của Tạo bản nên cứ mỗi lần nghe tin các quan lại về thu thuế là cả làng lại kéo nhau đi trốn vào khu Pung San và Nặm Bo vì ở đây ít người biết đến. Lánh một thời gian họ lại về bản làm ăn sinh sống. Lúc này bản đang có tên là bản Kiết. Sau này, họ quyết định sống định cư tại bản và chịu mức đóng thuế và đi phu rất cao cho quan, tạo. Ngoài ra, dân bản còn bị ép đi phu và cống nộp sản phẩm làm ra, do sự áp bức oan ức đó dân bản đã đặt lại tên thành bản Xiết (có nghĩa tủi thân), một thời gian sau đổi tên là bản Na Sài, tiếp đến là Nà Dón rồi sau cùng đổi tên bản Hiết.
Hiện nay, đồng bào cư trú chủ yếu ở dọc hai bên đường cái, hình thành ba nhóm: nhóm 1 ở khu bản cũ, nhóm 2 ở khu vực Pom Mét và nhóm 3 ở khu vực Nà Dón. 
Bản Hiết có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Bản Hiết có nhiều dòng họ: Họ Lữ, họ Lương; họ Vi, họ Hà, họ Lò, họ Phạm, họ Lê, họ Nguyễn, họ Ngân. Nhân dân sinh sống chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Chanh
Bản Chanh có vị trí địa lý: phía đông giáp xã Thiên Phủ, xã Nam Động, Quan Hóa; phía tây giáp bản Khà; phía nam giáp bản Hiết; phía bắc giáp xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa.
Trước đây bản Chanh nằm trong bản Muống. Năm 1981, bản được tách thành một bản riêng. Bản Chanh có nhiều đồi, núi, suối, khe rất phức tạp.
Hệ thống núi ở bản Chanh có Phá Sát cao 2.000m; Phá Háng Cáp cao 2.220m; Phá Lá cao hơn 1.000m; Phá Lài cao 1.000m; Phá Vai cao 2.000m so với mực nước biển.
Các đồi như: Pù Ôi, Pù Khằng, có thung lũng: Lọng Mu Min, Lọng Nóng Xay, hang: Bo Cúng, Có Láy, Tà Mong. Các suối như: suối Xia, suối Vai, suối Tong.
Bản Chanh có hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường. Người Thái bản Chanh có các dòng họ: Vi, Hà, Lữ, Ngân, Lò, Lương, Len, Lộc. Các dòng họ chủ yếu là từ Quan Hóa di cư về đây sinh sống, riêng họ Lữ di cư từ Hòa Bình đến.
Người dân sinh sống chủ yếu là nghề trồng lúa nước, trồng rừng và khai thác rừng, chăn nuôi gia súc.
 Bản Khà
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Khà thuộc mường Xia, xã Hữu Thủy.
Bản Khà có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Chanh; phía tây giáp bản Xia Nọi và bản Mùa Xuân; phía nam giáp bản Thủy Thành; phía bắc giáp bản Ho, xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa.
Bản Khà nằm ở một thung lũng dọc theo suối Xia, xung quanh là đồi núi cao, trong đó có núi Phá Kha, Pom Cò, Pom Sà Luống, Pha Lông. Có suối Xia, suối Chá Lọi, suối Khà..., vị trí địa lý tách rời với các bản làng lân cận. 
Bản Khà có ba dân tộc cùng chung sống là Thái, Mường và Kinh. Bản có các dòng họ chính: Họ Hà, họ Lữ, họ Lò, họ Ngân. 
Là một bản dân cư chủ yếu là người dân tộc Thái nên mọi nét phong tục tập quán của bản đều đậm đà bản sắc văn hóa của người Thái.
Bản Xia Nọi
Bản Xia Nọi có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Mùa Xuân; phía tây giáp các bản Ho, Cháo, xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa; phía nam giáp bản Khà, xã Sơn Thủy; phía bắc giáp biên giới Việt - Lào.
Bản Xia Nọi chỉ có người Mông cư trú, tên Xia Nọi là do người Thái đặt tên từ xa xưa cho 2 nhánh của dòng suối Xia trong mát. Suối Xia có 2 nhánh. Nhánh lớn bắt nguồn từ Lào về Việt Nam, đồng bào Thái địa phương gọi là “Huối Xia tớp” (suối Xia lớn); nhánh nhỏ chảy theo hướng đông bắc - tây nam đổ về suối Xia lớn, ngọn suối Xia nhỏ vẫn thuộc đất Việt Nam. Đồng bào Mông từ Pù Nhi di cư đến năm 1989 có 10 hộ ở suối Xia nhỏ lập bản, đồng bào Thái gọi bản đó là bản Xia Nọi, đồng bào Mông cũng theo đó gọi tên cho bản mình. 
Bản có 9,2km đường biên với cột Mốc từ 320 - 323. Địa hình của bản có rất nhiều đồi núi cao và hiểm trở bao bọc. Trong bản có suối Xia, suối Khua, hang Khua.
Bản Xia Nọi phân thành hai nhóm hộ nằm dọc theo suối Khua và phía nam lối ra bản Khà. Các dòng họ trong bản là: Sung, Chá, Hà, Thao, Hơ.
Bản Mùa Xuân 
Bản Mùa Xuân có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Thủy Thành, bản Khà; phía tây giáp bản Ché Làu, xã Na Mèo và bản Hin Đăm (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào); phía nam giáp bản Thủy Thành; phía bắc giáp bản Xia Nọi.
Bản Mùa Xuân chủ yếu là người Mông sinh sống( ). Đồng bào từ Pù Nhi chuyển đến từ năm 1989 cùng với hai bản Ché Làu, Xia Nọi. 
Bản Mùa Xuân trước khi có người Mông đến ở, người Thái đặt tên là bản “Sa Lước”, nhưng bản hợp lại tan, chỉ từ khi đồng bào Mông đến ở thì mới ổn định đến hiện nay. Ở bản Mùa Xuân có một núi đá với nhiều loại cây nở hoa quanh năm, người Thái gọi núi đá có cây đó là “Pha Bóc Mạy” (núi lá hoa). Khi đồng bào Mông đến ở nhìn núi hoa đẹp như mùa xuân quanh năm nên đã đặt tên bản của mình là bản Mùa Xuân. Tên Mùa Xuân tươi trẻ, có sức sống, có địa danh núi đá “cây hoa” rực rỡ quanh năm với huyền thoại giữa Công chúa Việt Nam và Hoàng tử nước Lào.
Từ bản Mùa Xuân đến trung tâm xã Sơn Thủy 22km theo đường liên thôn, hoặc có thể đi ra Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo theo đường liên thôn Na Mèo - Mùa Xuân.
Bản Mùa Xuân có địa hình chủ yếu là đồi, núi cao, dốc đứng: đồi Pó Chinh cao 1.000m. Bản có suối Xia, suối Sa Lước, suối Tiên Chạy, suối Xia và suối Há Đai chảy dài 4km từ vành đai biên giới, mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát, nước rất trong và nhiều cá.
Bản Mùa Xuân có các dòng họ cùng chung sống đoàn kết là họ: Thao, Sung và họ Hơ.
Bản Xuân Thành (Xia Nưa)
Bản Xuân Thành có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Chung Sơn, xã Sơn Thủy; phía tây giáp bản Bo xã Na Mèo; phía nam giáp bản Chiềng xã Mường Mìn; phía bắc giáp bản Thủy Thành.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bản Xuân Thành thuộc Mường Xia, xã Hữu Thủy, sau Cách mạng thuộc xã Sơn Thủy.
Năm 1948, Pháp đem quân về đóng đồn ở bản, đến ngày 03 - 02 - 1950, bộ đội và du kích của ta tấn công giải phóng đồn. 
Bản Xuân Thành nằm về phía tây của xã Sơn Thủy, cách trung tâm xã 2 km. Bản có nhiều đồi, núi cao hiểm trở, vách đá dốc đứng, thung lũng nhỏ hẹp. Con sông Luồng chảy qua bản tạo nên một hệ thống suối dày đặc: suối Xiết, suối Chạng Nặm, suối Muống, suối Chu Khụ, suối Khua Lậc, suối Luốc Hay, suối Luốc Bâu, suối Ho, suối Ca Loóc. Có hai hệ thống hồ là: hồ Khua Lậc và hồ Luốc Hay.
Bản Xuân Thành được phân thành 4 xóm, nằm dọc theo sông Luồng với chiều dài 2km. Có 3 dân tộc cùng chung sống là Thái Mường và Kinh
Trong bản có nhiều dòng họ như họ: Phạm, Hà, Lương, Vi, Lữ, Hoàng, Cao, Ngân, Nguyễn, Mạc, Võ. Dòng họ Phạm chiếm phần lớn số hộ, số khẩu trong bản, ngoài ra các dòng họ khác là do lấy vợ, lấy chồng và một số họ di cư tụ tập về đây làm ăn sinh sống lập thành bản Xuân Thành.
Bản Thủy Thành (Pom Vực + Ca Loóc)
Bản Thủy Thành nằm ở phía tây xã Sơn Thủy. Có vị trí địa lý như sau: phía đông giáp bản Xuân Thành; phía tây giáp bản Sa Ná, xã Na Mèo và bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy; phía nam giáp bản Xuân Thành; phía bắc giáp bản Chung Sơn, bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy.
Bản Thủy Thành ngày nay, trước kia gọi là bản Ca Loóc, vì nhân dân cư trú không ổn định, lúc đi vào, lúc đi ra, tiếng Thái gọi là Ca Loóc Kháu, Ca Loóc Óc nên được gọi là bản Ca Loóc.
Vào năm 1960, có ba xóm là: Xóm Ca Loóc, xóm Pom Vực và xóm Hát Tó được lấy tên là HTX Thủy Thành. Đến năm 1963, sát nhập Xuân Tiến và Thủy Thành gọi là HTX Xuân Thành. Đến năm 1989, HTX Xuân Thành tách thành 2 HTX. Trong đó, xóm Ca Loóc và xóm Pon Vực lấy tên là HTX Thủy Thành. Từ năm 1991, giải thể HTX đến nay gọi là bản Thủy Thành.
Bản Thủy Thành với hai dân tộc cùng chung sống là Thái và Mường. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm nghiệp.
Bản Thủy Thành là một bản đặc biệt khó khăn của xã Sơn Thủy. Nằm cách trung tâm xã khoảng 4 km, giao thông đi lại hạn chế, nhiều đồi núi hiểm trở. Hệ thống giao thông toàn đường đất và phải đi qua sông Luồng. Địa hình có nhiều đồi, núi cao và hang động. Bản có 5 hang động lớn nhỏ, cách bản từ 1 - 4 km đó là Thắm Sa lốc, Thắm Ka Dếnh, Thắm Nghịu, Thắm Càng Coi, Thắm Kía, Thắm Sa Láng, Thắm Lum, Thắm Hang.
Hiện nay, ở bản Thủy Thành đồng bào cư trú thành hai xóm: xóm Ca Loóc và xóm Pom Vực; dân cư trong bản gồm 9 dòng họ chung sống cùng nhau, gồm các họ: họ Phạm, họ Hà, họ Vi, họ Ngân, họ Lữ, họ Lò, họ Hoàng, họ Lương, họ Mạc.
2.3.13. Xã Na Mèo
2.3.13.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xã hội 
Xã Na Mèo có vị trí địa lý: 
Phía đông giáp xã Sơn Thủy.
Phía tây giáp huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía nam giáp xã Mường Mìn và huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Phía bắc giáp xã SơnThủy.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Na Mèo theo số liệu đến ngày 31/12/2015 của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa là 12.744,16ha. Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: 11.158,40ha.
Đất phi nông nghiệp: 360,98ha.
Đất chưa sử dụng: 1.224,78ha.
 Tổng dân số xã Na Mèo theo số liệu Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa tính đến ngày 31/12/2015 là 3.458 người, trong đó nam giới 1.797, nữ giới 1,661; mật độ dân số 27 người/km2.
Dân cư bao gồm dân tộc Thái chiếm 79,38%; dân tộc Kinh chiếm 11,1%; dân tộc Mông chiếm 7,3%; dân tộc Mường chiếm 2%.
Trong số các dân tộc cư trú ở Na Mèo, dân tộc Thái có lịch sử lâu đời. Người Kinh lên định cư từ năm 1979, người Mường định cư từ năm 1986, người Mông chuyển từ Mường Lát đến từ năm 1989.
Các dòng họ trong xã gồm có: Họ Vi, họ Phạm, họ Ngân, họ Hà, họ Lữ, họ Lương, họ Lò, họ Hoàng, họ Thao, họ Hơ, họ Đỗ, họ Nguyễn, họ Mai, họ Lê, họ Gia.
Xã Na Mèo ngày xưa là đất thuộc xã Hữu Xuyên, tổng Hữu Thủy thuộc mường Xia. Thời Pháp thuộc, Na Mèo nằm trong xã Sơn Thủy. Sau thời kỳ chống Pháp đến thời kỳ chống Mỹ, Na Mèo vẫn là một bản thuộc xã Sơn Thủy. 
Thực hiện Nghị định số 65/1999/NĐ - CP ngày 25 tháng 8 năm 1999 “Thành lập xã Na Mèo thuộc huyện Quan Sơn trên cơ sở 12.195ha diện tích tự nhiên và 2.605 nhân khẩu của xã Sơn Thủy”. Xã Na Mèo chính thức có từ đây. 
Na Mèo thuộc mường Xia. Tên xã Na Mèo lấy tên gọi từ tên của một bản lớn nhất của xã - bản Na Mèo. 
Xã Na Mèo hiện nay được tổ chức thành 10 bản: Bản Na Mèo; bản Km83 (bao gồm xóm 87); bản Sộp Huối; bản Na Pọng; bản Cha Khót; bản Hiềng; bản Bo; bản Sa Ná; bản Son; bản Ché Làu.
Địa hình xã Na Mèo chủ yếu là đồi núi, rừng cây, sông suối, nguồn tài nguyên rừng rất phong phú, đa dạng. Trước đây, vùng đất này là địa bàn cư trú của nhiều loài động vật quý hiếm như hổ, báo, hươu nai, hoẵng, gấu, khỉ, sơn dương, nhím, các loài bò sát và các loài chim quí như công, trĩ, vẹt, tê tê... Trên rừng có rất nhiều loài thực vật như lát, dổi, vàng tâm, chò chỉ, táu, nghiến... cùng rất nhiều loài thực vật khác.
Núi, đồi, hang, sông suối trên địa bàn xã Na Mèo: núi Pha Bo kéo dài từ đầu bản Xuân Thành xã Sơn Thủy đến suối Bo ở bản Bo. Vì vậy, dân bản gọi là núi Pha Bo.
Núi Pha Đanh ở bản Sộp Huối. Pha Đanh nghĩa là núi đỏ. Khi mặt trời chuẩn bị lặn, ánh nắng chỉ còn chiếu trên các đỉnh núi cao, ánh nắng mặt trời chiếu vào mặt phía tây của ngọn núi tạo thành màu đỏ rực, nên người dân gọi là Pha Đanh.
Pha Hang Trùng, hang Trác ở bản Hiềng. Hang Trùng nghĩa là trong núi có hang động. Tương truyền rằng, ngày xưa, có nàng Công chúa tên Nàng Trành không may qua đời, họ tộc quá thương tiếc nên nhà vua đã ra chiếu chỉ cho người làm quan tài đặt vào hang Trùng, hang Trác mong muốn một ngày nào đó công chúa sẽ đầu thai trở lại. Hiện nay, trong hang Trùng, cỗ quan tài một bên vẫn còn nguyên vẹn. 
Hang Trác rất rộng, ngày xưa các hộ dân trong bản thường tản cư vào mỗi khi tránh giặc. 
Hang Bó ở bản Sa Ná là nơi tản cư của các bản Sa Ná, bản Son trong thời kỳ chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ.
Ngoài ra, Na Mèo còn có một số hang động khác như hang Pha Kiu Cánh, Pha Lọm, Pha Máy... 
Các ngọn đồi: đồi Pù Cút ở bản Sộp Huối. Pù nghĩa là dốc, Cút là loài cây dương xỉ. Pù Cút là đồi có nhiều loài cây dương xỉ mọc; đồi Ca Chặp ở bản Na Mèo. 
Sông suối: xã Na Mèo là nơi bắt nguồn của con sông Luồng. Hai dòng suối Xôi và suối Pùn bắt nguồn từ nước bạn Lào chảy vào địa phận Na Mèo hợp lại tại đó. Tiếng Thái “Chào” là “Tuộng”, qua năm tháng nói chệch đi là “Tuồng” người Kinh gọi là “sông Luồng”. Sông Luồng chảy dọc theo địa bàn xã. Từ Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo đến hết đất bản Bo sang địa phận xã Sơn Thủy...
Bên cạnh sông Luồng, Na Mèo có rất nhiều khe suối: suối Sàng, suối Tà Ngơn, suối Mèo, suối Khâm, suối Ca Men, suối Nà May (bản Na Mèo); suối Hó, suối Pu, suối Ha, suối Cài, suối Ông (bản Km 83); suối Cha Khót, suối Buôm, suối Pa (ở các bản Sộp Huối, Cha Khót); suối Đen, suối Khinh (bản Hiềng); suối Bo, suối Piêu, suối Xiết (bản Bo); suối Son, suối Xôm (các bản Sa Ná, bản Son).
Các dãy núi tập trung nhiều loại gỗ quý, là nơi sinh sống của các loài động thực vật có tác dụng giữ gìn nguồn nước phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và tưới tiêu cho đồng ruộng trên địa bàn xã. Sông, suối, núi rừng còn là nguồn cung cấp thực phẩm, nguyên liệu phục vụ cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Na Mèo là vùng đất có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú dồi dào, có thể phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm thành các trang trại lớn. Người dân Na Mèo có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi. Đây là thế mạnh của xã trong phát triển kinh tế, làm giàu ngay trên quê hương của mình. 
Na Mèo là một xã biên giới, có Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, là đường giao thương giữa Việt Nam với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, nên rất thuận lợi cho giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế, dịch vụ thương mại. Tỉ lệ rừng của xã còn khá cao, trữ lượng rừng tự nhiên còn từ 60 đến 70%, trong rừng còn nhiều gỗ quý, nhiều loại thảo dược quý hiếm, rất thuận lợi cho xã phát triển về lâm nghiệp, chế biến lâm sản; phát triển cây dược liệu, cung cấp nguồn nguyên liệu chữa bệnh cho nhân dân.
Chợ phiên Na Mèo họp vào sáng thứ 7 hàng tuần rất tấp nập đông vui. Các cơ quan như: Đồn Biên phòng, Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, Hải quan Na Mèo, trường tiểu học và trung học cơ sở được xây dựng khang trang cùng với cửa hàng thương nghiệp, bưu điện, khách sạn, nhà xưởng mọc lên làm tăng thêm cảnh sầm uất của phố núi vùng biên cương Tổ quốc.
2.3.13.2. Các bản thuộc xã Na Mèo
Bản Bo
Bản Bo nằm ở phía đông của xã Na Mèo. Bản có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Xuân Thành, xã Sơn Thủy; phía tây giáp bản Hiềng; phía nam giáp với Ban quản lý rừng phòng hộ Na Mèo; phía bắc giáp bản xa Ná.
Sông Luồng chảy từ bản Hiềng qua bản Bo rồi dọc xuống bản Xuân Thành của xã Sơn Thủy. Bản còn có núi Pha Bo, Pha Hang Chùng, đồi Pom Khắm, Pom Suối Xiết, Pom Có vá, Pom Na Nọi, Pom Ốc, Pom Suối Khinh, Pom Na Tạo. Suối thì có suối Bó, suối Xiết, suối Piêu và suối Khinh.    
Người dân sinh sống chủ yếu dựa vào trồng trọt và chăn nuôi.
Người dân bản Bo chủ yếu là người Thái (nguồn gốc trước kia thuộc dân mường Chu San, sau gọi là mường Xia). Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thuộc mường Xia, xã Sơn Thủy. Sau khi tách xã, là Bản Bo thuộc xã Na Mèo.
Bản Hiềng
Bản Hiềng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Bo; phía tây giáp bản Sộp Huối; phía nam giáp đội 2, Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo; phía bắc giáp bản Sa Ná.
Bản Hiềng được lập vào khoảng cuối thế kỷ thứ XIX. Theo người già kể lại, có một ông Tạo từ mường Quạ, Nghệ An đến khai phá lập làng ở Piềng Nà. Sau đó ông Tạo Quạ chuyển đi đâu không ai rõ. Đến khoảng năm 1926 - 1927, có gia đình nhà ông Hương Vạ (tức họ Lò ngày nay) từ mường Chánh (huyện Lang Chánh) di cư đến. Tiếp sau đó, có thêm nhà Hiến Vún họ Vi cũng chuyển đến. Được một thời gian họ lại chuyển đi. Sau này có 5 hộ họ Lương đi từ Mường Xôi (Lào) xuống đây làm ăn sinh sống và đặt tên bản là bản Hiềng và ở trên khu ruộng của bản Hiềng ngày nay. Cho tới năm 1973, thực hiện theo kế hoạch định canh, định cư của Nhà nước, nhân dân trong bản đã chuyển xuống nơi ở hiện nay và để lại chỗ cũ làm ruộng. 
Ở phía bắc bản Hiềng là một dải núi gồm 7 ngọn núi lớn nhỏ từ tây sang đông. Ngoài ra còn có rất nhiều đồi núi và piềng bãi. Bản Hiềng có con sông Luồng chảy qua dài khoảng 2 km và có tới 8 khe suối lớn nhỏ như: suối Len, suối Miệng, suối Ma, suối Khinh...
Nông nghiệp chiếm 65%, lâm nghiệp chiếm 35% thu nhập của nhân dân trong bản. Bản Hiềng có hai dân tộc Thái, Kinh cùng chung sống.
Hiện nay, bản Hiềng có các dòng họ: Họ Lương, họ Lò, họ Hà, họ Ngân, họ Phạm, họ Vi, họ Đỗ.
Bản Sa Ná
Bản Sa Ná được hình thành trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và thuộc mường Xia của xã Hữu Xuyên, tổng Hữu Thủy.
Bản Sa Ná có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Xuân Thành, bản Ca Loóc của xã Sơn Thủy; phía tây giáp bản Km 83, xã Na Mèo; phía nam giáp bản Hiềng, bản Bo; phía bắc giáp bản Mùa Xuân.
Bản Sa Ná ở phía tây nam có hang Pha Bo, hang Thắm Tạo Sài, giữa bản có con suối Son chảy dọc theo con đường cấp phối chảy về phía nam và tiếp giáp với sông Luồng ở bản Hiềng. Bản có diện tích tự nhiên là 766,8 ha. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm nghiệp.
Hiện nay, bản có 3 dân tộc Kinh, Mường và Thái, trong đó chủ yếu là người dân tộc Thái, có các dòng họ là họ Phạm, Lò, Vi, Lương, Hà, Ngân, Nguyễn. Các dòng họ này có nguồn gốc khác nhau di cư đến, từ nước bạn Lào sang và các huyện Cẩm Thủy, Thọ Xuân lên, cùng các bản khác như bản Son, bản Hiềng trong xã chuyển đến. 
Bản Son
Bản Son có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Sa Ná; phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía nam giáp bản Ché Làu, xã Na Mèo và bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy; phía bắc giáp bản Km 83, bản Na Mèo và bản Sộp Huối.
Dân cư trong bản đều là người dân tộc Thái. Người Thái bản Son có các dòng họ: Vi, Lữ, Lương, Hà, Lò, Ngân. Người dân bản Son sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp và lâm nghiệp. Nhìn chung đời sống còn nhiều khó khăn.
Bản Sộp Huối
Bản Sộp Huối nằm ở trung tâm xã Na Mèo. Phía đông giáp bản Hiềng và Km 76 Ban quản lý rừng phòng hộ Na Mèo; phía tây giáp bản Km 83 và bản Na Pọng; phía nam giáp bản Mìn, xã Mường Mìn; phía bắc giáp bản Sa Ná, bản Son.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ở vùng đất này dân bản sinh sống không ổn định, nay đây mai đó. Sau năm 1955, người dân khắp nơi đã tụ họp lại để cùng nhau xây dựng làng, bản. Lúc mới thành lập, bản Sộp Huối mới chỉ có 10 hộ, 68 khẩu. Hiện nay, trong bản có các dòng họ: Phạm, Ngân, Lò, Vi, Lương, Bùi, Nguyễn, Lữ, Hà.
Bản có con sông Luồng và có suối Cha Khót chảy qua. Dân bản canh tác trên các xứ đồng Chè Lum, Nà Sán, Suối Buôn.
Dân cư trong bản chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái. Người dân bản Sộp Huối sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và khai thác lâm nghiệp.
Bản Na Pọng
Bản Na Pọng có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Sộp Huối; phía tây giáp bản Cha Khót; phía nam giáp Tiểu khu 211 của Ban quản lý rừng phòng hộ Na Mèo; phía bắc giáp bản Km 83.
Dân cư trong bản chủ yếu là dân tộc Thái. Bản có các dòng họ: Vi, Phạm, Hà, Lữ, Lò, Bùi, Lương. Người dân làm ăn sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp và khai thác lâm thổ sản. 
Bản Cha Khót
Bản Cha Khót có vị trí địa lý: phía đông giáp bản Na Pọng, xã Na Mèo; phía tây giáp bản Láu Thông, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía nam giáp bản Yên; phía bắc giáp bản Km 83 (Sộp Cài).
Bản Cha Khót có núi Pom Bấu, Pha Móng; có các hang động như: hang Thắm, hang Dé, hang Thắm Quác và có con suối Cha Khót chảy qua bản. Cha Khót là một bản còn nhiều khó khăn, người dân sinh sống chủ yếu với nền kinh tế nông, lâm nghiệp. Diện tích đất nông nghiệp rất ít chỉ có 4,3 ha.
Bản hiện có 6 dòng họ cùng chung sống, làm ăn gắn bó bên nhau là các họ: Vi, Lò, Lữ, Hà, Lương. Phần lớn dân cư bản Cha Khót di cư từ xã Trung Hạ lên sinh sống. 
Bản Km 83 (Sộp Cài)
Bản Km 83: phía đông giáp bản Sộp Huối; phía tây giáp bản Na Mèo; phía bắc giáp bản Sa Ná, bản Son; phía nam giáp bản Na Pọng và bản Cha Khót.
Bản Km 83 được hình thành vào ngày 17 tháng 11 năm 1994, do Lâm trường Na Mèo (nay là Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Mèo, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa) thành lập theo dự án 327 của Chính phủ.
Bản Km 83 có con sông Luồng nằm phía trước bản chảy dọc theo ven đường Quốc lộ 217, từ phía tây chạy về phía đông tiếp giáp với bản Sộp Huối. Tại suối Cài thuộc bản 83 khoảng năm 1957 có cơ sở làm việc của Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Xu Pha Nu Vông đến ở và làm việc. Nay một số di tích như đường, hầm, hào vẫn còn.
Dân cư, bản Km 83 có 3 dân tộc Mường, Kinh và Thái, trong đó chủ yếu là người Thái. Bản có các dòng họ Phạm, họ Hà, họ Ngân, họ Vi, họ Nguyễn, họ Lữ, họ Hoàng, họ Lương, họ Lò. Người dân trong bản sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và lâm nghiệp.
Bản Na Mèo
Na Mèo là bản vùng cao biên giới tại Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, có từ lâu đời, tên bản cũng như truyền thuyết lập bản gắn với tên xã. 
Na Mèo là vùng đất heo hút, hẻo lánh, giáp biên giới Việt - Lào, nhưng có nhiều bãi bằng ở ven các con suối nên bà con đã đến khai hoang thành ruộng để trồng lúa nước. Vì là vùng heo hút xa xôi, vắng vẻ, rừng núi âm u, rậm rịt nên đây cũng là nơi trú ngụ của nhiều loài thú dữ như hổ, beo, gấu, lợn lòi. Đồng bào đã ghép hai từ chỉ đặc điểm tên gọi của bản. Na là ruộng, mèo có ý gọi hổ (cọp, hùm, beo), một cách nói lái, nói tránh động vật hung dữ của Chúa sơn lâm. Đây là vùng đất nhiều ruộng rẫy nhưng cũng lắm cọp beo.
Na Mèo còn được đồng bào giải thích theo một nghĩa khác: Na là ruộng, ruộng lấy nước suối Mèo về tưới nên gọi Na Mèo.
Bản Na Mèo có vị trí địa lý: phía tây giáp với bản Lán, bản Lơi, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía bắc giáp với bản Ché Làu, bản Son; phía nam giáp với bản Cha Khót.
Bản Na Mèo có diện tích tự nhiên là 174,7ha; bao gồm 5 dân tộc anh em và 26 dòng họ.
Bản Ché Làu
Ché Làu là một bản vùng cao biên giới, phía tây giáp với bản Hin Pén Na Mặn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Phía bắc giáp với bản Hin Đăm, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Phía đông giáp với bản Mùa Xuân xã Sơn Thủy. Phía nam giáp với bản Son và bản Na Mèo. 
Bản Ché Làu nằm trên đỉnh của dãy núi Xy Ny (núi Vượn), cao chừng 2.600m. Ché Làu cùng với Mùa Xuân và Xia Nọi xã Sơn Thủy là 3 bản người Mông của huyện Quan Sơn. Bản có đường biên giới dài 5 km kéo dài từ mốc giới G11 đến G12 tiếp giáp với 2 bản của huyện Viêng Xay, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Bản Ché Làu cách Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo (bản Na Mèo) về phía đông bắc khoảng 14km đi theo đường liên thôn Na Mèo - Mùa Xuân. Bản Ché Làu ở trong thung lũng tương đối rộng, là đầu nguồn của các khe nước dồn về suối Son, Sa Ná. Trên địa bàn của bản gồm nhiều ngọn núi thấp mấp mô tạo thành cảnh quan rất đẹp.
Trước khi người Mông đến ở (năm 1989) thì chưa có người đến lập bản ở đó. Tên gọi Ché Làu theo tiếng Mông “Hàu xua dế” có nghĩa là chè uống. Theo tiếng Thái là “Che lau” (chè uống), nhưng đồng bào Mông nói chệch từ “Che lau” thành “Ché làu”. Sở dĩ nói bản “Che Lau” (chè uống) vì đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết địa hình của bản rất phù hợp với cây chè. Chè trồng ở đó có hương vị thơm ngon, uống ngọt đậm đà. Ngày xưa người Thái các bản Sa Ná, bản Son, xã Sơn Thủy (nay là Na Mèo) đã từng lên đó làm rẫy lúa, ngô và trồng chè nên đồng bào gọi vùng đó là “Che Lau”, tên “Che Lau” là do người Thái đặt cho địa danh đó từ xa xưa. Hiểu một cách khác “Che lau” tiếng Thái có nghĩa là chè trồng ở trong rừng. Từ năm 1989, đồng bào Mông đến đây tìm đất và đến năm 1990 chính thức thành lập bản và đặt tên bản là Ché Làu...
2.4. DANH MỤC TÊN BẢN, XÃ, MƯỜNG Ở HUYỆN QUAN SƠN HIỆN NAY VÀ THỜI KỲ CHÂU QUAN HÓA
TT    Tên bản, xã hiện nay    Tên bản, xã, mường thời kỳ châu Quan Hóa
    Tên bản    Thuộc xã    Tên bản    Thuộc mường    Thuộc xã    Thuộc tổng
I        Trung Xuân            Trung Hạ    Cổ Nam
1    Cạn    Trung Xuân    Cạn    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
2    La    Trung Xuân    La    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
3    Mòn    Trung Xuân    Mòn    mường Chự    Hồi Xuân    Phú Lệ
4    Piềng Phố    Trung Xuân        mường Ca Da    Hồi Xuân    Phú Lệ
5    Muống    Trung Xuân    Muống    mường Ca Da    Hồi Xuân    Phú Lệ
6    Phú Nam    Trung Xuân    Phụn    mường Ca Da    Hồi Xuân    Phú Lệ
7    Phụn    Trung Xuân    Lum    mường Ca Da    Hồi Xuân    Phú Lệ
II        Trung Hạ        mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
8    Lợi    Trung Hạ    Lợi    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
9    Din    Trung Hạ    Din    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
10    Xày    Trung Hạ    Chiềng Xày    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
11    Chiềng    Trung Hạ    Chiềng Xày    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
12    Bá    Trung Hạ    Bá    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
13    Lang    Trung Hạ    Cha Lang    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
14    Xanh    Trung Hạ    Xanh    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
III        Trung Tiến        mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
15    Cum    Trung Tiến    Cum    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
16    Chè 
(Pa Chè)    Trung Tiến    Cum Hóc    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
17    Lầm    Trung Tiến    Lầm    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
18    Lốc    Trung Tiến    Lốc    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
19    Đe    Trung Tiến    Đe    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
20    Pọng    Trung Tiến    Pọng    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
21    Tong    Trung Tiến    Tong    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
22    Tiểu khu Km 22    Trung Tiến        mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
IV        Trung Thượng        mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
23    Bàng    Trung Thượng    Bàng    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
24    Máy    Trung Thượng    Máy    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
25    Bôn    Trung Thượng    Bôn    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
26    Khạn    Trung Thượng    Pù Khạn    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
27    Ngàm    Trung Thượng    Ngàm    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
28    Bách    Trung Thượng    Bách    mường Chự    Trung Hạ    Cổ Nam
V        Thị trấn Quan Sơn        mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
29    Khu 1    Thị trấn
Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
30    Khu 2    Thị trấn
Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
31    Khu 3    Thị trấn
Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
32    Khu 4    Thị trấn
Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
33    Khu 5    Thị trấn
Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
34    Khu 6    Thị trấn Quan Sơn    Lấm    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
VI        Sơn Lư        mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
35    Sỏi    Sơn Lư    Soi    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
36    Bìn    Sơn Lư    Bìn    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
37    Hẹ    Sơn Lư    Hẹ    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
38    Hao    Sơn Lư    Hao    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
39    Bon    Sơn Lư    Bon    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
40    Păng    Sơn Lư    Păng    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
VII        Sơn Hà        mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
41    Xum    Sơn Hà    Xum    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
42    Làu    Sơn Hà    Làu    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
43    Nà Sắng    Sơn Hà    Hạ    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
44    Nà Ơi    Sơn Hà    Hạ    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
45    Hạ    Sơn Hà    Hạ    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
46    Piềng Làng    Sơn Hà    Piềng Làng    mường Hạ    Tam Lư    Tam Lư
VIII        Tam Lư        mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
47    Piềng Khóe    Tam Lư    Sại    mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
48    Sại    Tam Lư    Sại    mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
49    Hậu    Tam Lư    Hậu    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
50    Muống    Tam Lư    Muống    mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
51    Tình    Tam Lư    Tình    mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
52    Hát    Tam Lư    Hát    mường Sại    Tam Lư    Tam Lư
IX        Tam Thanh        Mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
53    Pa    Tam Thanh    Pa    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
54    Cha Lung    Tam Thanh    Cha Lung    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
55    Phe    Tam Thanh    Phe    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
56    Kham    Tam Thanh    Kham    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
57    Bôn    Tam Thanh    Bôn    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
58    Ngàm    Tam Thanh    Ngàm    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
59    Piềng Pa    Tam Thanh        mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
60    Nà Ấu    Tam Thanh    Nà Ấu    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
61    Mò    Tam Thanh    Mò    mường Mò    Tam Lư    Tam Lư
X        Sơn Điện        mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
62    Tân Sơn    Sơn Điện        mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
63    Nhài    Sơn Điện    Dài Nưa    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
64    Na Nghịu    Sơn Điện    Dài Tớ    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
65    Na Lộc    Sơn Điện    Kòn Lộc    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
66    Xa Mang    Sơn Điện    Xa Mang    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
67    Ngàm    Sơn Điện    Ca Nhăng    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
68    Ban    Sơn Điện    Nà Hó    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
69    Bun    Sơn Điện    Bun    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
70    Na Hồ    Sơn Điện    Súa    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
71    Na Phường    Sơn Điện    Súa    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
72    Sủa    Sơn Điện    Súa    mường Mìn    Trịnh Điện    Hữu Sơn
XI        Mường Mìn        mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
73    Bơn    Mường Mìn    Bơn    mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
74    Luốc Làu    Mường Mìn    Chiềng Mìn    mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
75    Yên    Mường Mìn    Yên    mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
76    Mìn    Mường Mìn    Chiềng Mìn    mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
77    Chiềng    Mường Mìn    Chiềng Mìn    mường Mìn    Trịnh Sơn    Hữu Sơn
XII        Sơn Thủy        mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
78    Xuân Thành    Sơn Thủy    Xia Nứa    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
79    Thủy Thành    Sơn Thủy    Pom Vực (Ka Lóc)    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
80    Chung Sơn    Sơn Thủy    Xia Cang (Xia Tớ)    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
81    Thủy Chung    Sơn Thủy    Na Cò    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
82    Thủy Sơn    Sơn Thủy    Na Tuồng    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
83    Muống    Sơn Thủy    Muống    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
84    Hiết    Sơn Thủy    Hiết    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
85    Xia Nọi    Sơn Thủy        mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
86    Mùa Xuân    Sơn Thủy        mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
87    Khà    Sơn Thủy        mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
88    Cóc    Sơn Thủy    Cóc    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
89    Chanh    Sơn Thủy    Chanh    mường Xia    Hữu Thủy    Hữu Thủy
XIII        Na Mèo                
90    Na Mèo    Na Mèo    Na Mèo    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
91    Ché Làu    Na Mèo        mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
92    Bản Km 83    Na Mèo        mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
93    Cha Khót    Na Mèo    Cha Khót    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
94    Na Pọng    Na Mèo    Na Pọng    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
95    Sộp Huối    Na Mèo    Sộp Huối    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
96    Hiềng    Na Mèo    Hiềng    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
97    Sa Ná    Na Mèo    Sa Ná    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
98    Son    Na Mèo    Son    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
99    Bo    Na Mèo    Bo    mường Xia    Hữu Xuyên    Hữu Thủy
2.5. DÂN CƯ 
2.5.1. Sự hình thành cộng đồng dân cư
Huyện Quan Sơn thời xa xưa là vùng rừng núi đại ngàn, dân cư thưa thớt. Đấy cũng là cảnh quan chung của vùng núi cao phía tây Thanh Hóa. Ghi chép nhận xét về cảnh quan khu vực miền núi cao phía tây Thanh Hóa như R.Rober đã viết: “... Vùng này là một khối hỗn tạp đồi và núi không sao gỡ ra được, chen lấn nhau, chồng chéo lên nhau, xô đẩy nhau. Khi người ta trèo lên một đỉnh núi ngắm nhìn toàn cảnh trước mắt, người ta ngỡ rằng mình đang đứng trước một mặt biển trong cơn giận dữ và bất thần không động đậy, có những ngọn sóng bao phủ đầy cây cỏ dồi dào của miền nhiệt đới. Ở đó, có những cây cổ thụ đâm lên trời cao, có loài vượn bạc má thường hay dậy sớm nhảy nhót, kêu thét hoặc cuồng loạn đáp lại với mọi thứ tiếng vang vọng đến, có những đám dây leo chằng chéo ở đỉnh những cây to, rũ xuống thành hình vòng tròn hoa trang trí để rồi lại leo lên nữa... Những nơi khác là rừng rậm không ai có thể lọt vào nổi, gồm có cây và cỏ gianh chằng chịt, là nơi trú ẩn của loài cọp và lợn lòi. Thỉnh thoảng ta lại thấy cái màu trắng nhạt của một vách núi thẳng đứng nhô ra khỏi biển cây cỏ xanh tươi, có rất nhiều khe chạy dọc ngang khu núi chồng chéo, chảy theo những dòng nước nhỏ, khi thì chúng bẽn lẽn thì thào dưới chòm lá, khi thì chúng róc rách như xay thóc ở nơi có đá ghềnh, khi thì chúng gầm lên ở ngọn thác xé nước trên lòng suối đầy đá tảng. Đôi khi khe núi mở rộng ra, bọc lấy đất bằng rộng khoảng chừng một vài cây số vuông, chính ở đó là đồng ruộng và bên cạnh là làng và xóm”( ).
Qua những dấu vết cổ xưa, ta có thể thấy, con người đã có mặt ở vùng đất thuộc địa bàn huyện Quan Sơn từ rất sớm( ). Đặc biệt “sự có mặt trong lòng đất xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn một chiếc trống đồng loại III, vốn xưa nay được quan niệm như một dạng trống của người Miến Điện, thì nay quan niệm đó cũng cần được xem lại. Đây là trường hợp trống loại III được tìm thấy cùng với một số đồ đồng trong lòng đất như: nồi đồng, xanh đồng, chõ đồng,.. là những đồ đồng gia dụng quen thuộc của người Mường, người Thái xứ Thanh. Qua phát hiện này đã giúp cho các nhà khoa học đưa ra giả thiết về chủ nhân của trống loại III, có cả một tộc người nào đó ở vùng Quan Sơn, căn cứ vào những đồ đồng chôn cùng, có thể định niên đại cho trống này vào khoảng vài trăm năm cách đây”( ).
Cư dân trên địa bàn huyện Quan Sơn định cư trong những bản làng, dựng trên những sườn đồi, những gò cao ven sông suối. Quá trình định cư lập bản làng gắn liền với quá trình khai sơn phá thạch, chống lại thú dữ còn lưu lại dấu ấn trong những tên đồng, tên bãi, tên bản làng, ruộng nương.
Nền kinh tế dựa vào nông nghiệp, khai thác lâm thổ sản, kết hợp các nghề thủ công, cư dân các bản làng hình thành một thiết chế bản - mường. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thực hiện chủ trương của Chính phủ, các tỉnh đều bỏ cấp tổng, các bản làng xã nhỏ hợp nhất thành xã lớn và bỏ tên phủ, gọi chung là huyện. Tuy nhiên, trải qua những biến thiên lịch sử, đến ngày 18 tháng 11 năm 1996, huyện Quan Sơn mới chính thức được thành lập.
2.5.2. Quy mô, mật độ và cơ cấu dân số
Là vùng đất được khai phá từ sớm, nhưng đến năm 1996, huyện Quan Sơn mới chính thức là một đơn vị hành chính, Quan Sơn có quá trình phát triển dân cư qua nhiều biến động. Tài liệu ghi chép về số dân của huyện Quan Sơn qua các thời kỳ lịch sử không có nhiều, tuy vậy, căn cứ vào những nghiên cứu về quá trình hình thành cộng đồng dân cư ở Thanh Hóa và khu vực miền núi Thanh Hóa nói chung, vùng đất thuộc huyện Quan Sơn nói riêng cho thấy, con người định cư ở đây từ thời kỳ tiền sử.
Những thay đổi về địa giới hành chính qua các thời kỳ cùng với tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng đến tình hình dân số của huyện.
Thời điểm thành lập huyện (1996), Quan Sơn có 9 xã. Từ năm 2008, số đơn vị hành chính của Quan Sơn tăng lên thành 13 xã và ổn định cho đến nay.
Quan Sơn là huyện có diện tích lớn nhưng dân số có quy mô vào loại thấp ở tỉnh Thanh Hóa. Tính đến ngày 31/12/2015. Dân số của huyện là 37.139 người, trong đó phân theo giới tính là 18.884 nam và 18.255 nữ; phân theo thành thị, nông thôn là: thành thị 2.830 người, nông thôn: 34.309 người.
Quy mô dân số của các xã trong huyện có tăng qua các năm, thứ bậc cũng có thay đổi. Theo kết quả của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, dân số của huyện năm 2009 đạt 35.379 người, đến năm 2015 đạt 37.139 người, mật độ dân số năm 2015 là 40 người/km2. Hiện nay, theo kết quả của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, xã Sơn Điện là đơn vị có quy mô dân số lớn nhất là 4.117 người, tiếp theo là các xã Sơn Thủy 3.352 người, xã Tam Thanh 3.534 người, xã Trung Hạ 3.502 người, xã Na Mèo 3.458 người, Trung Xuân là xã có quy mô dân số thấp nhất với 1.738 người.
Bảng 6: Diện tích dân số, mật độ dân số năm 2015
TT    Xã, thị trấn    Số bản, Khu tính đến 31/12/2015    Diện tích    Dân số trung bình    Mật độ dân số
            (km2)    (người)    (người/ km2)
    Toàn huyện    99    926.625    37.139    40
1    Trung Xuân    7    49.084    1.738    35
2    Trung Hạ    7    34.730    3.502    101
3    Trung Tiến    8    40.054    2.968    74
4    Trung Thượng    6    56.179    2.267    40
5    TT Quan Sơn    6    8.443    2.830    335
6    Sơn Lư    6    45.572    2.410    53
7    Sơn Hà    6    88.964    1.831    21
8    Tam Lư    6    61.757    2.808    45
9    Tam Thanh    9    99.244    3.534    36
10    Sơn Điện    11    94.374    4.117    44
11    Mường Mìn    5    89.205    2.324    26
12    Sơn Thủy    12    131.578    3.352    25
13    Na Mèo    10    127.442    3.458    27
Bảng 7: Dân số trung bình phân theo xã, thị trấn
Đơn vị tính: Người
TT    Xã, thị trấn    2010    2011    2012    2013    2014    2015
    Toàn huyện    35.615    35.779    36.093    36.237    36.597    37.139
1    Trung Xuân    1.677    1.685    1.691    1.694    1.707    1.738
2    Trung Hạ    3.460    3.467    3.470    3.471    3.488    3.502
3    Trung Tiến    2.945    2.945    2.956    2.951    2.954    2.968
4    Trung Thượng    2.258    2.264    2.261    2.259    2.264    2.267
5    TT Quan Sơn    2.362    2.423    2.498    2.504    2.584    2.830
6    Sơn Lư    2.340    2.352    2.374    2.383    2.398    2.410
7    Sơn Hà    1.786    1,787    1,791    1,788    1,812    1,831
8    Tam Lư    2.654    2.648    2.662    2.669    2.730    2.808
9    Tam Thanh    3.432    3.443    3.455    3.462    3.504    3.534
10    Sơn Điện    3.975    4.002    4.041    4.086    4.117    4.117
11    Mường Mìn    2.208    2.218    2.264    2.320    2.326    2.324
12    Sơn Thủy    3.169    3.190    3.251    3.285    3.318    3.352
13    Na Mèo    3.349    3.355    3.379    3.365    3.395    3.458
Bảng 8: Dân số trung bình 2009 và 2015 phân theo xã, thị trấn và giới tính
Đơn vị tính: Người
TT    Xã, thị trấn    Tổng số năm 2009    Chia ra    Tổng số năm 2015    Chia ra
            Nam    Nữ        Nam    Nữ
    Toàn huyện    35.379    17.821    17.558    37.139    18.884    18.255
1    Trung Xuân    1.657    816    841    1.738    868    870
2    Trung Hạ    3.554    1.744    1.810    3.502    1.752    1.750
3    Trung Tiến    2.934    1.458    1.476    2.968    1.494    1.474
4    Trung Thượng    2.188    1.129    1.059    2.267    1.146    1.121
5    TT Quan Sơn    2.331    1.192    1.139    2.830    1.434    1.396
6    Sơn Lư    2.341    1.199    1.142    2.410    1.268    1.142
7    Sơn Hà    1.771    896    875    1.831    916    915
8    Tam Lư    2.654    1.294    1.360    2.808    1.398    1.410
9    Tam Thanh    3.375    1.667    1.708    3.534    1.793    1.741
10    Sơn Điện    3.937    1.992    1.945    4.117    2.164    1.953
11    Mường Mìn    2.208    1.115    1.093    2.324    1.171    1.153
12    Sơn Thủy    3.143    1.583    1.560    3.352    1.683    1.669
13    Na Mèo    3.286    1.736    1.550    3.458    1.797    1.661

Bảng 9: Dân số trung bình phân theo giới tính, thành thị, nông thôn
Đơn vị tính: Người
    2010    2011    2012    2013    2014    2015
Tổng số    35.615    35.779    36.094    36.237    36.597    37.139
Phân theo giới tính                        
Nam    17.914    17.990    18.129    18.176    18.553    18.884
Nữ    17.701    17.789    17.965    18.061    18.044    18.255
Phân theo thành thị nông thôn    35.615    35.779    36.093    36.237    36.597    37.139
Thành thị    2.362    2.423    2.498    2.504    2.584    2.830
Nông thôn    33.253    33.356    33.595    33.733    34.013    34.309

Quy mô dân số của huyện gần như rất ít biến động qua các năm, nhất là trong 5 năm gần đây, có xu hướng ổn định, tăng chậm, tỷ lệ gia tăng tự nhiên giảm mạnh, hiện nay chỉ còn 1,1%. Mặc dù tỷ lệ gia tăng tự nhiên không quá thấp nhưng quy mô dân số của huyện không tăng. 
Trong tổng dân số, có tới 92,6% dân số tập trung ở nông thôn với quy mô 34.309 người, dân số đô thị của huyện chỉ có 2.830 người tập trung chủ yếu ở thị trấn Quan Sơn - nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển hơn, tỷ lệ đô thị hóa của huyện vào loại thấp nhất toàn tỉnh (7,4% so với 14,7%) năm 2014. Đặc điểm này hiện tại phù hợp với cơ cấu kinh tế của huyện với ngành chủ đạo là nông - lâm nghiệp.
Quan Sơn là huyện miền núi có mật độ dân số thấp nhất tỉnh Thanh Hóa với 40 người/km2 năm 2015, mật độ của huyện chỉ bằng 1/8 mật độ trung bình của tỉnh. Đây là cũng đặc thù chung của các huyện miền núi, nơi có đất rộng nhưng dân cư thưa thớt. Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung đông ở các xã trung tâm (thị trấn Quan Sơn, xã Sơn Lư) và Đông Bắc (xã Trung Hạ, xã Trung Tiến), thưa thớt ở các xã phía tây 20 - 25 người/km2 (xã Mường Mìn, xã Na Mèo, xã Sơn Thủy). Tuy nhiên, sự chênh lệch phân bố dân cư trên địa bàn toàn huyện không lớn.
Nguyên nhân huyện có mật độ dân cư thưa thớt chủ yếu do điều kiện địa hình núi cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, nhiều nơi không có giao thông đi đến. Dân cư thưa thớt, thiếu lao động là một trong những trở ngại lớn trong khai thác tài nguyên của huyện, trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời gian tới.
Số người lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của huyện là 18,9 nghìn người, chiếm 81% dân số trong độ tuổi, tập trung gần như tuyệt đối trong lĩnh vực nông lâm thủy sản với 15,1 nghìn người, chiếm 80%, lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng không đáng kể với gần 700 người, chiếm 4% lực lượng lao động, lĩnh vực dịch vụ có số lượng lao động lớn hơn và có xu hướng tăng nhanh với quy mô hơn 3.000 người, chiếm 16%. Nhìn chung, cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế thể hiện tính chất của nền kinh tế huyện Quan Sơn vẫn thuần nông, thuần lâm.
Huyện Quan Sơn có cơ cấu dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào, sức khỏe tốt, dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn 63% với quy mô 23,3 nghìn người. Đây là nguồn cung cấp nhân lực quan trọng cho các ngành kinh tế của huyện, đặc biệt đối với ngành lâm nghiệp. Người lao động của huyện Quan Sơn có truyền thống chăm chỉ, cần cù chịu khó, có kinh nghiệm trong khai thác và trồng rừng, trồng lúa nương, chế biến lâm sản, làm nghề thủ công mỹ nghệ,... Tuy nhiên, trình độ học vấn của dân cư và lao động của huyện còn thấp. Tỷ lệ người lao động nông thôn có khả năng lao động chưa qua đào tạo, không có chứng chỉ chuyên môn của huyện cao hơn mức trung bình toàn tỉnh, đến năm 2011 là 92,8% (trong khi cả tỉnh là 88,3%), tỷ lệ người lao động có trình độ đại học cao đẳng trở lên đạt 7,7%. Đây là một khó khăn lớn đối với huyện trong quá trình hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế. 
Là huyện có nhiều thành phần dân tộc, trong đó người Thái chiếm tỷ lệ lớn nhất 81,0%, người Kinh 9,1%, người Mường 7,4%, người Mông 2,3%, dân tộc khác 0,2%; tính đa dạng về thành phần dân tộc là lợi thế cho sự phát triển văn hóa, du lịch song cũng là những khó khăn cho sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc về trình độ dân trí và trình độ lao động sản xuất.
Các dân tộc ở Quan Sơn có truyền thống đoàn kết, yêu nước, có nhiều nét văn hóa đặc sắc và kinh nghiệm canh tác trên đất dốc. Tuy nhiên, có sự chênh lệch về trình độ khoa học kỹ thuật giữa các dân tộc trong huyện, đặc biệt là tính năng động, nhạy bén và thích nghi cao trong cơ chế thị trường, khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như tính năng động trong hoạt động sản xuất. Từ góc nhìn dân tộc học, thông qua nghiên cứu khảo sát, còn có thể nhận thấy một số nhân tố tộc người có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế trên địa bàn Quan Sơn. Đó là tập quán sản xuất tự cấp tự túc, tâm lý của người quen sống vào rừng núi, từng có một quá trình biến thiên trong lịch sử gắn bó với kinh tế khai thác, săn bắt, hái lượm. Người Thái, người Mường và phần lớn các dân tộc thiểu số từ bao đời đã sống dựa vào rừng. Rừng như là một sự hào phóng của thiên nhiên, cung cấp cho con người gần như đầy đủ của một cuộc sống tự cấp, tự túc. Vì vậy, Quan Sơn cần có giải pháp đột phá để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, thu hút nhân tài làm động lực cho sự chuyển biến mạnh mẽ kinh tế - xã hội của huyện.

Chương 3. LỊCH SỬ
3.1. VÙNG ĐẤT QUAN SƠN TỪ THỜI TIỀN SỬ ĐẾN THẾ KỶ X

Theo cứ liệu lịch sử cùng với việc phát hiện di chỉ núi Đọ( ), núi Nuông, núi Quan Yên (huyện Yên Định) có niên đại cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm qua dấu vết cư trú của người tiền sử đã chứng minh Việt Nam là một trong những quê hương đầu tiên của loài người. Thời kỳ này, cũng như huyện Quan Hóa, huyện Quan Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc thù do ở vùng núi cao, mùa hè mát, mùa đông ấm áp không bị giá buốt, được phân kỳ địa chất thuộc thế Pleistocen, còn gọi là thế Canh Tân. Từ khi người tiền sử bắt đầu sinh sống ở đây thì địa hình miền Tây Thanh Hóa đã gần giống với địa hình ngày nay, chỉ có bờ biển thì có lúc vào, lúc ra tùy theo các đợt biển tiến hay biển lùi. 
Đến cuối thời đại đồ đá cũ, trên một địa bàn rộng lớn ở Bắc Việt Nam nhất là vùng Tây Bắc từ Lai Châu, Hòa Bình đến Thanh Hóa, các nhà khoa học đã tìm thấy dấu tích của các bộ lạc nguyên thủy cư trú trong các hang động, mái đá gần sông suối cách ngày nay chừng 30.000 đến 11.000 năm. Về mặt phân kỳ khảo cổ, đây thuộc hậu kỳ đồ đá cũ, nơi tìm thấy dấu tích của các bộ lạc đầu tiên là xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Do đó giai đoạn này còn được gọi là văn hóa Sơn Vi. 
Trên đất Thanh Hóa, cho đến nay địa bàn phân bố của văn hóa Sơn Vi đã được tìm thấy ở nhiều di chỉ thuộc miền Tây, Tây Bắc thuộc các huyện Cẩm Thủy, Bá Thước, Thạch Thành và cả ở một số huyện đồng bằng như Yên Định, Hà Trung... Trong không gian lịch sử, văn hóa gần với Quan Sơn, dấu vết văn hóa Sơn Vi rõ nét nhất là Mái Đá Điều (xã Hạ Trung, huyện Bá Thước) và hang Con Moong (xã Thành Yên, huyện Thạch Thành) cũng đã được phát hiện và khai quật. Đặc biệt, hang Con Moong, Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 2367/QĐ - TTg ngày 31/12/2015 xếp hạng Di tích Quốc gia Đặc biệt, tiến tới xây dựng hồ sơ di sản văn hóa thế giới. 
Di chỉ hang Con Moong được phát hiện từ năm 1975 và đã qua 5 lần khai quật. Đáng kể nhất là đợt khai quật năm 2014 do Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Viện Hàm lâm Khoa học Liên bang Nga thực hiện. Trong đó lớp sâu nhất thuộc văn hóa Sơn Vi ở độ sâu từ 6,8 - 9,5m có niên đại cách ngày nay khoảng 40 đến 60 ngàn năm. Tuy nhiên, vào giai đoạn này, người tiền sử ở hang Con Moong sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, săn bắt và hái lượm là phương thức kiếm sống duy nhất. Căn cứ vào khối lượng các loài nhuyễn thể, cho thấy người nguyên thủy ở thời kỳ này ngoài nguồn thức ăn do săn bắt, hái lượm đưa lại, việc khai thác đánh bắt các loài thủy sản là nguồn sống quan trọng của họ. Người Con Moong khi ấy đã sử dụng khá nhiều hòn cuội bằng đá quắc zít đập thành những công cụ hình múi cam phục vụ cho đời sống thường ngày. 
Sau văn hóa Sơn Vi trên đất Thanh Hóa, người nguyên thủy bước vào thời kỳ đồ đá mới với các giai đoạn văn hóa Hòa Bình, Đa Bút. Từ văn hóa Sơn Vi đến văn hóa Hòa Bình( ) diễn ra trên đất Thanh Hóa là một quá trình phát triển liên tục tại chỗ. Đến nay ở Thanh Hóa đã tìm thấy 31 di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình trong đó có 18 di chỉ do nhà khảo cổ học người Pháp M.Colani phát hiện từ những thập niên 20, 30 của thế kỷ XX và chủ yếu tập trung ở khu vực miền Tây của tỉnh, đó là các huyện Bá Thước, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc. Nếu như chủ nhân của văn hóa Sơn Vi cư trú trong các hang động, mái đá, núi đá vôi, các đồi gò hoặc ven theo các thềm sông cổ thì người thuộc văn hóa Hòa Bình cư trú trong các hang động hoặc mái đá. Theo kết quả khai quật năm 2014 tại hang Con Moong, chúng ta biết người thời kỳ này sống cách ngày nay từ 13.000 đến 17.000 năm. 
Qua những cứ liệu thu được từ các đợt khai quật khảo cổ của các khoa học, chúng ta biết phương thức kinh tế chủ đạo của con người thời kỳ này chủ yếu vẫn là săn bắt và hái lượm. Song, do cư trú trong hang động, mái đá gần kề sông suối, con người thời kỳ này cũng đã khai thác thủy sản như thời kỳ trước đó nhưng mở rộng hơn rất nhiều. Mặt khác, do áp lực dân số ngày càng gia tăng, người ta đã đi khá xa nơi cư trú để kiếm ăn, đồng thời làm nảy sinh nền nông nghiệp sơ khai qua dự trữ cây quả do hái lượm thu được. Đó cũng là nguyên nhân để nghề đan, nghề gốm ra đời mà các nhà khảo cổ đã thu được trong các tầng văn hóa. Từ những phát triển di chỉ cư trú của người thuộc văn hóa Hòa Bình ở các huyện liền kề với Quan Sơn cũng như miền Tây Thanh Hóa, chúng ta hoàn toàn tin rằng sẽ tìm thấy đặc trưng văn hóa này ở vùng đất Quan Sơn trong tương lai không xa. 
Tiếp theo thời đại đồ đá, nhân loại bước sang thời đại đồ đồng. Tuy chỉ tồn tại vài ngàn năm so với thời gian hàng triệu năm của thời đại đồ đá, nhưng con người đã đạt được những thành tựu rực rỡ trên nhiều lĩnh vực của đời sống. 
Trên đất Thanh Hóa, khu vực cơ bản của bộ Cửu Chân trong vương quốc Văn Lang của các Vua Hùng đã tiến vào thời đại đồng thau và sơ kỳ đồ sắt cách ngày nay chừng 4.000 năm lịch sử với sắc thái văn hóa địa phương riêng biệt. Thành tựu nghiên cứu của giới khoa học hàng trăm năm qua cho thấy, diễn trình lịch sử thời kỳ này trải qua 4 giai đoạn phát triển liên tục qua các chặng đường tương ứng với các nền văn hóa: Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng. Quá trình sinh sống của con người thời đó đã để lại những di tích khảo cổ trên cả ba vùng địa lý của Thanh Hóa: vùng núi, đồng bằng và ven biển. Các nhà khảo cổ đã phân kỳ cho thời đại Hùng Vương ở Thanh Hóa theo các giai đoạn: Cồn Chân Tiên - Đông Khối - Quỳ Chử - Đông Sơn. Trong mỗi giai đoạn tuy mức độ biểu hiện đậm nhạt khác nhau nhưng miền núi Thanh Hóa luôn có mặt các nhóm cư dân với những hoạt động không kém phần sôi động. 
Buổi đầu thời đại đồ đồng, cùng với giai đoạn Cồn Chân Tiên ở đồng bằng, văn hóa Hoa Lộc ở ven biển, miền Tây Thanh Hóa đã là địa bàn tụ cư của người Việt cổ. Trong các hang Thẩm Hai, Thẩm Tiên (thuộc huyện Thường Xuân, Thanh Hóa) giáp với Nghệ An, các nhà khảo cổ đã tìm thấy di chỉ cư trú của con người thời kỳ này qua các di vật họ để lại. Quá trình sinh sống của họ đã để lại một tầng văn hóa dày từ 20 - 30cm chứa đựng công cụ bằng đá và những mảnh gốm vỡ. Kỹ thuật chế tác đồ đá của nhóm cư dân này đã đạt tới trình độ khá cao. Đó là những chiếc rìu, đục bằng đá được mài nhẵn, mặt cắt ngang có hình chữ nhật. Tất cả đều được chế tác từ loại đá kết cấu hạt mịn như những công cụ tìm thấy ở tầng văn hóa các di chỉ cùng thời ở đồng bằng Thanh Hóa. Trong các di vật mà người thời này để lại, các nhà khoa học đặc biệt chú ý tới đồ gốm. Đó là những đồ đựng có miệng loe dày, vai xuôi. Có loại có chân đế, có loại đáy bằng. Loại gốm đáy bằng rất ít gặp trong các di tích cùng thời ở nước ta. Người thời đó đã biết làm đẹp cho đồ đựng của mình bằng cách tạo nên những hình trang trí khắc vạch theo những đồ án không thống nhất. Đó là hoa văn các đường song song chạy thành băng hoặc hoa văn hình chữ S khá sinh động, chứng tỏ tư duy nghệ thuật của họ đã khá cao. Trong các hang động nói trên, người ta còn tìm thấy khá nhiều vỏ ốc suối, đó là dấu vết của hoạt động hái lượm. Tuy nhiên, nông nghiệp trồng lúa đã trở thành một ngành kinh tế chủ đạo. Trong các thung lũng bằng phẳng, màu mỡ quanh nơi cư trú, cư dân thời kỳ này đã sử dụng những chiếc rìu đá, những chiếc gậy nhọn phát cây và trổ lỗ tra hạt. Môi trường sống và điều kiện địa lý tương ứng khiến chúng ta nghĩ rằng, người Việt cổ thời đó rất có thể đã có mặt, tuy nhiên hãy còn thưa thớt. 
Đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn cách ngày nay khoảng trên dưới 3.000 năm, một Nhà nước của người Việt cổ mới thực sự ra đời. Các Vua Hùng đã chia nước thành 15 bộ, Thanh Hóa thuộc bộ Cửu Chân, bao gồm cả Quan Sơn khi ấy. Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam là một nền văn hóa khảo cổ được phân bố trên một địa bàn rộng lớn gần khắp miền Bắc Việt Nam. Vì vậy ở nước ta, không có nền văn hóa khảo cổ thuộc thời đại đá mới và thời đại kim khí nào có thể so sánh được với tính chất quy mô độc đáo của nền văn hóa Đông Sơn. Trên khắp Thanh Hóa đã tìm thấy hàng trăm di tích, 136 trống đồng loại I thuộc văn hóa Đông Sơn và hàng trăm hiện vật phát triển lẻ tẻ trên phạm vi cả tỉnh. Văn hóa Đông Sơn được lấy tên một địa điểm lần đầu tiên phát hiện ra nó thuộc làng Đông Sơn, phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa vào năm 1924 do các nhà khảo cổ người Pháp xác định. Sự phân bố đậm đặc của các di tích Đông Sơn ở vùng đồng bằng, trung du đã phần nào phản ánh tính làm chủ của người Việt cổ ở Thanh Hóa với những làng định cư lâu đời hàng ngàn năm như Đông Sơn, Quỳ Chử...
Miền núi Thanh Hóa tại các huyện Ngọc Lặc, Thạch Thành, Thường Xuân, Cẩm Thủy... đã phát hiện được di chỉ cư trú, những nhóm đồ đồng và trống đồng thuộc văn hóa Đông Sơn. Chứng tỏ vào thời kỳ Hùng Vương người Việt cổ đã có mặt ở các vùng đất này và kinh tế sản xuất đã chiếm giữ vai trò chủ đạo. 
Một trong những hiện vật tiêu biểu đã tìm thấy trong lòng đất Quan Sơn đó là trống đồng được phát hiện ở Trung Hạ. Đây là trống đồng loại I(1), đến nay ở miền núi Thanh Hóa chỉ mới tìm thấy ở Quan Sơn, Quan Hóa, Cẩm Thủy... với số lượng không nhiều. 
Trống đồng được phát hiện ở Trung Hạ vào năm 1986. Đường kính mặt trống: 47,5cm, đường kính chân trống: 45cm, chiều cao 32,2cm, cân nặng 11kg, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Thanh Hóa. Chính giữa mặt trống là ngôi sao 12 cánh mập được xen kẽ bằng hoa văn hình học. Phía ngoài các cánh sao là vòng tròn có 12 chim hạc bay theo chiều ngược kim đồng hồ. Phía ngoài cùng là 4 khối tượng cóc, bố cục cân đối cũng theo hướng ngược kim đồng hồ. Tang và thân trống là những dải hoa văn hình người hóa trang hình chim cách điệu, xen lẫn những họa tiết hình răng cưa, vạch ngắn song song, hình lông công. Trống đồng được phát hiện tại Trung Hạ được xác định niên đại thuộc giai đoạn cuối của văn hóa Đông Sơn vào khoảng thế kỷ I - II Scn. 
Việc phát hiện trống đồng tại Trung Hạ đã góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu về văn hóa Đông Sơn trên đất Thanh Hóa cũng như quá trình sinh tụ của người Việt cổ trên vùng đất này. Đó còn là bằng chứng sinh động chứng minh Quan Sơn là một huyện có lịch sử văn hóa truyền thống lâu đời, đóng góp tích cực cho lịch sử dân tộc trong các giai đoạn tiếp theo. 
Từ cuối thời kỳ văn hóa Đông Sơn đến thế kỷ thứ X, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Quan Sơn đã trải qua quá trình gian khổ đấu tranh chống lại âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc, bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc. Từ những điểm tụ cư có từ các giai đoạn trước, phạm vi cư trú được mở rộng cùng với văn hóa, có những bước phát triển mới trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. 
Điều hết sức độc đáo trong đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của người Quan Sơn thời kỳ này là đã phát hiện được 3 chiếc trống đồng mà theo phân loại của F.Heger thuộc trống loại II. Loại trống này đã có mặt ở một số địa bàn khác nhau của tỉnh Thanh Hóa nhưng tập trung chủ yếu là ở miền núi tại các huyện Ngọc Lặc, Lang Chánh, Quan Hóa, Quan Sơn... 
Tại Quan Sơn đã tìm thấy trống đồng loại II ở các xã: Mường Mìn, Sơn Thủy, Tam Lư, Trung Xuân. Nhìn chung, trống loại II có mặt trong cộng đồng dân cư người Mường, đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trống vẫn được đồng bào sử dụng như một nhạc cụ trong lễ tết, hội hè. Trống đồng còn được nhắc đến trong các sử thi, mo Mường. Một số họa tiết hoa văn trống đồng loại II còn gặp lại trong trang trí trang phục của phụ nữ Mường. Do tính phổ biến của loại hiện vật độc đáo này trong đời sống người Mường nên nhiều nhà khoa học gọi là trống Mường. 
Năm 1999, người ta đã phát hiện được trống đồng tại bản Bơn, xã Mường Mìn. Một chiếc trống còn tương đối nguyên vẹn. Trống có đường kính mặt 43cm. Chính giữa có hình ngôi sao không rõ tia giống như hình hoa sen nhiều cánh. Thân trống được trang trí hoa văn hình cánh sen xen lẫn hoa cúc cách điệu. Mặt trống có 3 khối tượng cóc quay cùng chiều kim đồng hồ được phân bố đều nhau. Đây là chiếc trống có trang trí độc đáo bởi các trống đồng cùng loại đã tìm thấy thường có 4 khối tượng cóc quay ngược kim đồng hồ. Có thể đây là cách quan niệm về vũ trụ của đồng bào dân tộc vùng cao Thanh Hóa. Hiện tượng độc đáo, khác biệt này đang được các nhà khoa học nghiên cứu. 
Trống đồng được phát hiện trong lòng đất được phát hiện vào năm 2008 tại xã Sơn Thủy. Trống có đường kính mặt 50,1cm, chiều cao 29,5cm, đã bị vỡ một mảnh phần chân do khai quật. Mặt trống hình mặt trời 8 tia mảnh. Xung quanh mặt trống là những băng hoa văn hình trám lồng, những dải mây cuộn sinh động. Mặt trống có 3 khối tượng cóc chạy ngược kim đồng hồ. Tang và lưng trống cũng được trang trí bằng những vòng hoa văn trám lồng, mây cuộn. Trống có 4 đôi quai gắn giữa phần tang và thân trống. 
Năm 2007 tại bản Piềng Khóe, xã Tam Lư đã phát hiện chiếc trống đồng, có đường kính mặt 40,5m, chiều cao 24,4cm. Mặt trống có hình mặt trời 8 tia mảnh và những hoa văn lá sồi kép; trám lồng, hoa đồng tiền xen lẫn cánh sen. Trống có 3 khối tượng cóc quay ngược chiều kim đồng hồ. Tang và thân trống cũng được trang trí bằng những họa tiết hoa văn trám lồng, hoa đồng tiền và cũng được gắn 4 đôi quai giữa tang và thân trống. 
Từ những trống đồng phát hiện ở Quan Sơn, cho thấy trống đồng loại II là kết quả phát triển tiếp nối sau trống đồng Đông Sơn mà chủ nhân của nó là những người Việt cổ sống ở miền núi trong quá trình phân hóa Việt - Mường diễn ra suốt ngàn năm Bắc thuộc của dân tộc ta. 
Điều đặc biệt thú vị là năm 2010, tại hang Hòm, bản Muống thuộc xã Trung Xuân, người dân đã phát hiện được một chiếc trống đồng có hình dáng lạ cùng một số dụng cụ bằng đồng như: nồi đồng, niếng đồng. Trống đồng này có đường kính mặt 47,5cm, cao 38cm, tang và thân bị thủng một phần. Trống có dáng trên to, thuôn dài và hơi loe về phía chân trống, nhìn khá thanh thoát. Chính giữa mặt trống có hình mặt trời 8 tia mảnh. Các vòng hoa văn là những dải băng hình học, hình bông lúa xen kẽ người hóa trang lông chim cách điệu, hình chim xen kẽ bông hoa 5 cánh tròn. Mặt trống có 4 khối tượng cóc chạy ngược chiều kim đồng hồ, khoảng cách đều nhau. Tang và thân trống cũng được trang trí bằng những vòng hoa văn hình học. 
Theo các nhà khoa học, đây là chiếc trống loại III theo phân loại của F.Héger duy nhất tìm thấy ở Thanh Hóa. Khi nghiên cứu những chiếc trống đồng cùng loại ở Việt Nam và Đông Nam Á, có người cho rằng trống có liên quan đến các tộc người thuộc ngữ hệ Môn Khơ Me là chính và một ý kiến khác cho rằng đây là loại trống liên quan đến các tộc người nói tiếng Tày Thái là chính. Trống có niên đại khoảng thế kỷ VI. Theo F.Héger trống đồng loại III là trống Shan do người Karen ở vùng Shan (Đông bắc Miến Điện) chế tác nên còn gọi là trống Shan. 
Theo nhà nghiên cứu Trịnh Sinh, sự có mặt trong lòng đất xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn một chiếc trống đồng loại III, vốn xưa nay được quan niệm như một dạng trống của người Miến Điện, thì nay quan niệm đó cũng cần xem lại. Qua phát hiện này đã giúp cho các nhà khoa học đưa ra giả thiết về chủ nhân của trống đồng loại III, có cả một tộc người nào đó ở vùng Quan Sơn(1).
Như vậy, từ việc phát hiện các trống đồng cổ trên đất Quan Sơn và qua các di vật của người nguyên thủy như: rìu đá, mai đá (Sơn Điện), mũi giáo hóa thạch, xương động vật (thuộc thời kỳ đá mới) cùng với những công cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt hàng ngày làm bằng đồng (thuộc thời đại đồng thau) ta có thể nhận định: cách ngày nay hàng vạn năm các cư dân Việt cổ đã sinh sống dọc triền sông Mã, sông Luồng, sông Lò.
3.2. VÙNG ĐẤT QUAN SƠN TỪ THẾ KỶ X ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX
Xứ Thanh trước khi vương triều Lý được xác lập là một trong những vùng đất có vị thế địa - chính trị quan trọng trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Vùng đất đôi bờ sông Mã là nơi có lịch sử phát triển lâu đời và liên tục. Những nền văn hóa cổ hình thành, phát triển và tỏa sáng trên vùng đất này đã góp phần vào quá trình tạo dựng văn hóa, văn minh dân tộc. 
Thế kỷ X - XIV, lịch sử Thanh Hóa nói chung cũng như lịch sử vùng đất Quan Sơn nói riêng có những biến động quan trọng theo dòng chảy của lịch sử dân tộc. Quan Sơn được ví như là vùng đất “phên dậu” của tỉnh Thanh Hóa bởi vị trí chiến lược quy định. Vì vậy, thời kỳ lịch sử này, người Quan Sơn luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên cường, dũng cảm, sát cánh cùng các triều đại phong kiến chống lại giặc ngoại xâm và các thổ ty, lang đạo tham lam, độc ác, bảo vệ vững chắc bờ cõi biên giới của quê hương.
Thế kỷ X, vùng đất Cửu Chân - xứ Thanh có vai trò quan trọng trong việc hình thành lực lượng cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán và Tống, giành độc lập dân tộc, đưa đến sự ra đời các vương triều Ngô - Đinh - Tiền Lê và nhà Lý. 
Thời kỳ này, hào trưởng vùng Dương Xá (vùng ngã ba sông Mã - sông Chu) - Dương Đình Nghệ phát triển thế lực. Tại làng Giàng (xã Thiệu Dương, huyện Đông Sơn nay thuộc Tp. Thanh Hóa), ông đã xây dựng thành trung tâm kháng chiến của cả nước. Con gái họ Dương hai đời là Hoàng hậu triều Ngô triều Đinh và Tiền Lê, ông đã chiêu mộ được những vị tướng tài là Ngô Quyền (sau này là con rể ông) và Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Hào trưởng họ Dương đã thu nạp hào kiệt bốn phương, xây dựng lực lượng, từ Châu Ái tiến ra Giao Châu tấn công thành Đại La, đánh đuổi quân xâm lược Nam Hán.
Năm 931, cuộc kháng chiến của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Dương Đình Nghệ đã thắng lợi hoàn toàn, bọn đô hộ Nam Hán bị quét sạch ra khỏi bờ cõi nước ta. Nền độc lập dân tộc từ nhà họ Khúc chuyển sang Dương Đình Nghệ. Ông tự xưng là Tiết độ sứ, cử Đinh Công Trứ làm thứ sử Hoan Châu, Ngô Quyền làm thứ sử Châu Ái.
Tháng 4 năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn, một viên tướng dưới quyền là hào trưởng Phong Châu hãm hại. Ngô Quyền con rể Dương Đình Nghệ đã đem quân từ Châu Ái ra Giao Châu giết chết Kiều Công Tiễn và sau đó đánh tan quân Nam Hán xâm lăng ở trận Bạch Đằng lịch sử (938).
Sau chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng (năm 938), đánh bại quân xâm lược Nam Hán, giành độc lập cho đất nước, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa. Đánh giá về chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, nhà sử học Lê Văn Hưu viết: “Tiền Ngô vương có thể lấy quân mới hợp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoàng Thao, mở nước xưng Vương, làm cho người phương Bắc không dám sang nữa, có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy”( ).
Lịch sử Thanh Hóa cũng khẳng định: “Với chiến thắng Bạch Đằng năm 938, cuộc đấu tranh suốt 33 năm (905 - 938) với hai cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán (năm 931 và năm 938), đã hoàn thành trọn vẹn và triệt để sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong chiến công vĩ đại đó, nhân dân Châu Ái đã đóng góp một phần không nhỏ. Cùng với quân dân cả nước, quân dân Châu Ái đã tập hợp xung quanh Ngô Quyền làm nên trận thủy chiến đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta mà dư âm còn vang vọng đến ngàn thu”( ). 
Đất và người Châu Ái đã góp phần tạo ra bước ngoặt quan trọng, cắm cột mốc lớn trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử dân tộc hồi thế kỷ X: “chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ hơn nghìn năm của triều đại phong kiến Trung Quốc, mở ra một kỷ nguyên mới, độc lập lâu dài và phát triển rực rỡ của đất nước”( ). 
Cuối thế kỷ X, sau khi vương triều Ngô sụp đổ, xứ Thanh là địa bàn của sứ quân Ngô Xương Xí - một trong 12 sứ quân lúc bấy giờ.
Ngô Xương Xí đã lui về vùng đồi núi Bình Kiều (thuộc huyện Triệu Sơn ngày nay) xây dựng lực lượng với hy vọng lập lại cơ đồ mà người cha (Ngô Quyền) đã tạo dựng. Ông đã chọn vùng đất Bình Kiều để xây dựng căn cứ( ). Thành Bình Kiều được đắp bằng đất, hình vuông, mỗi chiều 180m, quanh thành có hào sâu bao bọc. Mặt thành rộng 2m, cao 2m, chân rộng từ 3 đến 4m. Thành có 4 cửa và 4 góc thành đều có cồn đất cao, giữa thành có một ụ đất làm cột cờ, diện tích khoảng 2m2. Tại Bình Kiều, Ngô Xương Xí được các hào trưởng và nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ trong việc xây dựng thành lũy( ).
Đây là thời kỳ đất nước rơi vào tình trạng loạn “thập nhị sứ quân” của các thế lực cát cứ với các toan tính riêng. Trong thời kì loạn 12 sứ quân, Châu Ái có 3 dòng họ có thế lực mạnh về kinh tế, chính trị, chiếm giữ 3 vùng đất chiến lược là:
Họ Dương (Dương Đình Nghệ): phát triển thế lực, chiếm giữ vùng đất phía nam Ngã Ba Bông (nơi sông Chu gặp sông Mã) mà trung tâm là vùng Dương Xá (xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, ngày nay thuộc Tp. Thanh Hóa).
Họ Lê (Lê Lương): vùng giáp Bối Lý, hữu ngạn sông Chu (vùng đất phía tây huyện Thiệu Hóa).
Họ Ngô (Ngô Xương Xí): như đã trình bày lực lượng của Ngô Xương Xí là một trong những sứ quân có thế lực mạnh, địa bàn hoạt động rộng và được sự ủng hộ của nhiều hào trưởng trong vùng.
Cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ XI cũng là thời kỳ sứ quân “vùng đất cờ lau” Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, thiết lập triều Đinh, lập nên nước Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Xứ Thanh là nơi cận kề với kinh đô Hoa Lư. Nguồn nhân tài, vật lực từ châu thổ sông Mã đã tác động, ảnh hưởng mạnh đến nhà Đinh, điển hình là một số nhân vật như Lê Hoàn (Thập đạo tướng quân), Ngô Chân Lưu (Khuông Việt đại sư), Lê Lương (hào trưởng xứ Thanh) và đặc biệt là Thái hậu Dương Vân Nga. Nhận thức đúng vị thế của Châu Ái, Đinh Bộ Lĩnh đã chủ động vào xứ Thanh, tìm gặp các thủ lĩnh quân sự và chấp nhận làm con rể họ Dương( ). Sự ủng hộ từ các thế lực ở Châu Ái đã tạo điều kiện cho họ Đinh thiết lập vương triều trên đất Hoa Lư.
Vương triều Đinh sụp đổ, năm 980 Lê Hoàn vốn là Thập đạo tướng quân dưới triều Đinh đã thiết lập vương triều Tiền Lê.
Lê Đại Hành là vị vua tài giỏi nhưng những người kế vị không đủ tài đức nên không giữ nổi vương triều. Sự sụp đổ của nhà Tiền Lê có nhiều nguyên nhân nhưng “loạn cung đình” được xem là điều kiện cốt tử dẫn đến sự ra đời vương triều Lý.
Lý Công Uẩn người châu Cổ Pháp - Bắc Ninh, là vị hoàng đế khai sáng vương triều Lý và quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La để “mưu việc lớn”. Thanh Hóa tuy xa kinh đô nhưng triều Lý rất quan tâm đến vùng đất Châu Ái.
Từ sau chiến thắng Bạch Đằng (năm 938) đến những thập niên đầu của “kỷ nhà Lý”, tình hình kinh tế - xã hội vùng đất huyện Quan Sơn nói riêng, Châu Ái nói chung là thời kỳ có nhiều biến động.
Từ thời Đinh, “man” Cử Long nổi loạn, mặc dù Lê Hoàn đã thân chinh đem quân đánh dẹp. Sử cũ cho biết: năm Tân Sửu (1001), Lê Hoàn đích thân đi dẹp giặc Cử Long. Tướng giặc trông thấy Lê Hoàn giương cung bắn, lần thứ nhất thì tên rơi, lần thứ hai thì cung gãy nên giặc sợ mà rút. Lê Hoàn đưa thuyền đuổi theo, giặc mai phục hai bên sông bắn tên, con Đinh Tiên Hoàng tử trận. Lê Hoàn kêu trời, thúc quân đột chiến, giặc thua.
Tài liệu để lại cho biết: thời Lý, nơi này có một số vụ bạo loạn với những mức độ khác nhau. Không ít lần hoàng tử, thậm chí là vua phải thân chinh đánh dẹp mới yên ổn. Các địa phương xảy ra bạo loạn như: Cử Long, giáp Đản Nãi, Ngũ Huyện Giang... đã được tác giả Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: Cử Long( ) thuộc tổng Cự Lữ. Sông Mã chảy từ huyện Bá Thước xuống Cẩm Thủy; đoạn chảy qua Cửa Hà, qua tổng Cự Lữ rất hiểm trở: một bên vách núi dựng đứng, một bên là bờ sông cao được gọi là “ngách cùng”. Đây là địa bàn của đồng bào dân tộc thiểu số (ít hiểu biết, dễ bị kích động...). Một số thủ lĩnh người địa phương ỷ vào địa thế hiểm trở, lợi dụng thổ dân, đã nổi dậy chống lại các vương triều. Theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì dân Cử Long chắc là dân Mường thuộc các huyện miền Bắc và Tây Bắc Thanh Hóa.
Thời Lý, “man” Cử Long nhiều lần nổi loạn chống lại triều đình khiến vua hoặc hoàng tử nhà Lý phải thân chinh đến nơi rừng thiêng nước độc. Sự kiện này được sử cũ chép như sau: năm Tân Hợi, Thuận Thiên năm thứ 2 (năm 1011), tháng 2, vua thấy giặc Cử Long ở Ái Châu hung hăng dữ tợn, trải hai triều Đinh, Lê (Tiền Lê) không thắng nổi, đến nay càng dữ mới đem quân đi đánh, đốt bộ lạc, bắt kẻ đầu sỏ đem về, giặc ấy bèn tan( ).
Năm Kỷ Tỵ (năm 1029), dân giáp Đản Nãi( ) nổi loạn. Tháng tư, vua thân chinh dẹp yên. Năm Ất Hợi (năm 1035), Ái Châu có loạn, tháng 10 Thái Tông thân chinh xử tội mục trưởng Ái Châu... Năm 1043, tháng Giêng, châu Ái có loạn, vua sai Thái tử Khai Hoàng Vương làm Đô thống Đại nguyên soái đi đánh châu Ái( ). Năm Canh Dần (năm 1050), dân giáp Long Trì thuộc Giang Ngũ Huyện (vùng đất hợp lưu sông Mã, sông Chu và sông Cầu Chày) làm loạn( ).
Chính sử không cho biết nhiều về cơ cấu hệ thống quản lý ở trấn Thanh Hóa thời Lý, nhưng qua các nguồn sử liệu có thể nhận thấy: ở châu Ái, hào trưởng, châu mục có vai trò rất quan trọng. Đứng đầu châu Ái là châu mục; trong các vùng, các làng xã, hào trưởng vẫn có vai trò nhất định( ).
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước từ thế kỷ X - XV, nhân dân Thanh Hóa nói chung trong đó có nhân dân vùng đất Quan Sơn nói riêng đã có những đóng góp đáng kể về nhân tài vật lực cho cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên và đánh giặc Cử Long ở miền núi xứ Thanh.
Đến đầu thế kỷ XV, sự kiện lịch sử tác động lớn tới lịch sử nước nhà nói chung, lịch sử Thanh Hóa và khu vực miền Tây tỉnh Thanh Hóa nói riêng giai đoạn này chính là khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh.
Lam Sơn - nơi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa có tên nôm là làng Cham, nằm bên tả ngạn sông Chu (hiện nay thuộc Thọ Xuân, Thanh Hóa). Về địa thế, đó là nơi giao tiếp giữa đồng bằng và miền núi, thuận lợi khi lực lượng còn non yếu, có thể thủ hiểm chống vây quét. Nhưng một khi lực lượng đã lớn mạnh, có thể từ đó tiến xuống làm chủ những vùng đất rộng, người đông. Về cư dân, ở đây đã tập hợp và đoàn kết nhiều tộc người. Nhiều tướng lĩnh Lam Sơn có nguồn gốc từ những tộc người thiểu số khác nhau như Mường, Thái hoặc Tày. Linh hồn của cuộc khởi nghĩa là Lê Lợi. Năm 1416, Lê Lợi và 18 người bạn thân thiết đã tổ chức Hội thề Lũng Nhai, nêu cao quyết tâm đoàn kết diệt giặc, đặt cơ sở cho sự hình thành lực lượng nòng cốt lãnh đạo khởi nghĩa. Đầu năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, tự xưng là Bình Định Vương, truyền hịch kêu gọi nhân dân đứng lên cứu nước. Tham gia đánh giặc Minh với Lê Lợi, ở vùng mường Mìn, Quan Hóa có ông Lò Khằm Yên (Tạo Lá Dốn) dẫn quân từ Lào sang. Trận đầu tiên ông giải phóng đồn Pom Giới, một đồn lớn của quân Minh ở bản Luốc Làu, bản Chiềng, mường Mìn.
Sau mười năm “nếm mật nằm gai”, khởi nghĩa Lam Sơn đã giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 29 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, đặt Quốc hiệu là Đại Việt.
Trong 6 năm đầu hoạt động ở miền Tây Thanh Hóa, cũng như các huyện Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, vai trò của Quan Sơn trong khởi nghĩa Lam Sơn là không thể phủ nhận. Tác giả Hà Văn Thương sau nhiều năm điền dã, khảo cứu thực địa và sử liệu đã cung cấp những tư liệu vô cùng quý báu về đất và người Quan Sơn trong cuộc khởi nghĩa của Bình Định Vương Lê Lợi:
Đối với khu vực miền núi Thanh Hóa, nghĩa quân Lam Sơn không chỉ hoạt động ở khu vực Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh mà cả huyện Quan Hóa (cũ), nhất là khi nghĩa quân gặp nhiều khó khăn. Trước sự bao vây tấn công của quân Minh và sự hy sinh cao cả vì nghĩa lớn của Lê Lai để cứu chủ, Lê Lợi lui quân dọc theo sông Luồng về vùng Sơn Điện, Sơn Thủy (Quan Sơn ngày nay). Để cho Lê Lợi rút về nơi an toàn, các tướng quân Lê Sát, Lê Hào và Chu Kha Lài( ) đã tổ chức mai phục quân Minh ở nhiều nơi, trận đánh tiêu biểu là tại hang Đi (tức hang Phi ngày nay). Trận đánh diễn ra ác liệt, lúc đầu nghĩa quân Lam Sơn thắng, đánh lui quân Minh. Nhưng sau khi nghĩa quân rút về vùng Sơn Thủy để bảo vệ chủ tướng thì quân Minh kéo đến tàn sát nhân dân trong vùng.
Sau khi đến Sơn Thủy, Lê Lợi đã cho quân xây dựng khu vực này thành khu vực phòng thủ vững chắc. Lấy núi Pha Hén và núi Pha Dùa làm cổng chính:
Phá Hén cặp Phá Dùa cái cầu khúa lạn,
Tàng páy kháu xặp lọng lái linh lái tàng,
Tàng khoáng kháu xám ba luông quáng
(Nghĩa là: Núi Hén và núi Dùa bắc cầu qua lại, lối đi vào lắm ngả, nhiều khe, đường vào bên trong rộng hơn ba sải). Hay “Lái sợ mộc dứn óm banh hụa, sợ múa dứn óm banh đáo, cắm táo pưới óm liêng quạng quạng” (Nghĩa là: Nhiều thợ mộc (lính cầm gậy) canh gác vòng ngoài, thợ múa (lính giỏi võ) đứng gác vòng trong, cầm gươm giáo đi vòng quanh vung múa). (“Mộc” trong trường hợp này là người canh gác mà tay cầm gậy, nỏ; Múa là người canh gác tay cầm gươm, giáo).”Mốt mự khá xịp chạng ệt ngai, khá sao khoai ệt pứa, cân páy ma dong lan bí bứa...” (nghĩa là: Một ngày thịt mười voi làm bữa sáng, hai mươi trâu làm bữa trưa, người đi lại như đàn bươm bướm trắng... tức là quân rất đông). Cũng có khi ở khu vực Pha Dùa diễn ra cảnh thanh bình: ”Phú án sứ liếp le đống quáng, phú tán chụ nơ thắm he phá; Chu Kha Lài ngắm đú viếc ngan chớ quáng” (Người đọc truyện dưới tán cây rừng, trai gái tỏ tình nơi chân núi, Chu Kha Lài suy ngẫm biết bao chuyện lớn, lòng bao dung xem dân chúng diễn ra đời thường)( ). 
Trong gia phả họ Hà có ghi: Hà Thị Cai liều mình cứu chủ. Khi quân Minh rượt đuổi, Lê Lợi có nguy cơ bị bắt, Hà Thị Cai đã bày mưu cho Lê Lợi lên sàn nhà nằm giả vờ bị sốt rét, quân lính thì chạy qua suối đi vào phía trong, một số mai phục quanh nhà, còn bản thân Hà Thị Cai thì giả vờ đang giặt váy áo. Khi quân Minh đến hỏi: Có thấy ai chạy qua đây không? Bà Cai thản nhiên trả lời: Có, chúng chạy qua suối kia. Vừa nói, bà vừa chỉ vào suối trước nhà. “Trong nhà có ai không?”. Bà Cai trả lời ngay: “Có thằng con tôi đang bị sốt rét nặng”. Quân Minh kiểm tra thấy người nằm trong chăn run bần bật, nên chúng bỏ đi. Trên cơ sở liên kết các phần trong một số bài mo, bài khặp, Hà Văn Thương đưa ra ý kiến: suối kia có thể là suối Xia. Tại bản Chanh, xã Sơn Thủy, có một hang động tên là Thắm Bo Cúng (hang Mỏ Tôm) có chiều rộng tại cửa hang hơn một mét, càng vào sâu càng rộng, có nơi đến 40m, còn chiều sâu gần 1.000m. Trong dân gian có câu: “Chu Kha Lài (Lò Khằm Ban) phấu púa tý nơ đống quáng, tang páy khấu sặp lạn háng thắm láng lúng” (nghĩa là: Tướng chân lông canh gác bảo vệ vua ở nơi rừng già, đường đi vào hang động đôi khi lạc lối), (Chu Kha Lài là một trong những vị tướng cùng Lê Lợi chống quân Minh). Tại bản Muống, xã Sơn Thủy, nhân dân còn đào được cả trống đồng, xanh bốn quai mà trong truyền thuyết nói rằng nghĩa quân dùng xanh để nấu nước, luộc thịt, nấu cơm cho quân ăn.
Sau khi nghiên cứu kỹ khu vực xã Sơn Thủy, Lê Lợi đã cho một bộ phận xuống canh gác nhất cử nhất động của quân giặc tại khu vực Pha Lò (Sơn Lư) dọc theo sông Lò còn bộ phận chỉ huy thì trú tại hang Su Lú - động Nang Non. “Háng Su Lú tón tang sợc Hán, Háng dú pháng phái nặm Mo án táng páy, khứn háng đáy cái đáy muối chưa ệt me... (Động Su Lú đón đường giặc Hán (giặc nhà Minh); hang lớn ở bên kia sông Lò, lên hang phải bắc thang lấy dây rừng làm cái).
Trong bài ca Mừng Xuân của dân tộc Thái mường Ca Da khi nói về Lam Kinh có đoạn: Nung hót Sân Lam Kinh tăng hánh Bái Thượng/ Mớ cón nặn cặp mớ dam hứng/ Mé mương nị tướng nhớ hôm quấn/ Miếng đín nị tướng Lê hôm cú/ Tánh sợc Minh xịp pí chắng lá/ Khá sợc Hán xịp mua chắng xá/ Quấn bính púa Lê lái pí, lái bướn dác cha lứa khó/ Cân hán chánh chớ hụ báu lái/ Khấu min hớ quấn kín lái chơ báu khắn/ Sợc tón óm banh hụa, tón túa lái phướng/ Phương khấu lái tón tang lái chặn/ Khúng ná háng ấu bạy tón khá quấn hâu tán ơi!/ Nhơ ớn phạ bán hớ long sướng/ Quấn bính hâu hặc sướng cắn chú mương chớ pọm./ Pí cặp nọng long huốm chớ điếu/ Nọng chai yếu Lê Lai tháy cháu/ Ệt dá bá cháu bá tạo tướng nhớ hôm bính/ Tánh sợc Minh lái văn Lê Lai thức ná/ Chạng cặp mạ lái mú liên tái/ Sợc Minh ngắm Lê Lai mén cân pha nha cháu/ Khấu nắm bá Lê Lợi thức ná lê tái/ Kháu chắng ma bái quấn, bái bính hố hiu túa túng...”( ).
Nghĩa là: Nơi đây, tướng lớn gọi bạn/ Tướng tài dựng binh/ Đánh giặc Minh mười năm mới thắng/ Đánh giặc Hán mười mùa mới xong/ Nhiều năm đánh giặc long đong/ Gom người, gom giáo không hoài lòng dân/ Giặc bao vây nhiều tầng, nhiều lớp/ Chúng đón đường nhiều hướng, nhiều phương/ Ơn Trời ban giúp lòng thương/ Trên dưới một lòng chung đường đấu tranh/ Em trai yêu Lê Lai ra sức tung hoành/ Phá vây giặc Hán tan tành nhiều phương/ Lê Lai trúng mũi tên thường/ Giặc Minh tưởng đó Lê Lợi chính thân/ Chúng reo hò vang động trời đất/ Tưởng Lam Sơn sập đất từ đây/ Vua Lê chết yểu nơi này/ Quân Nam tan tác từ rày khó thu (thu quân)...( )
Sự hy sinh của Lê Lai đã tạo ra sự chủ quan, thỏa mãn trong quân Minh, bởi chúng đã nghĩ là Lê Lợi không còn sống. Chính yếu tố này làm cho Lê Lợi có thời gian để lui quân lên vùng núi non, hiểm trở ở vùng mường Mìn, mường Xia và có kế hoạch chiêu mộ quân. Một trong những tướng lĩnh thông thạo địa hình, phong tục tập quán, có ảnh hưởng lớn trong vùng là các tướng: Lê Sát, Lê Hào và nhất là Chu Kha Lài. Họ ra sức tuyển binh, luyện tập và khi nghĩa quân đủ lớn thì cuộc hành quân vào Nghệ An mới bắt đầu. Nghĩa quân đi đến đâu cũng được nhân dân che chở. Rồi nghĩa quân lớn dần, đủ sức phản công. Khi đó quân Minh mới biết là mình bị lừa, nhưng đã muộn( ). Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn phát triển thành cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, giành lại độc lập dân tộc, thu phục được nhân tâm, được đông đảo quần chúng nhân dân trong và ngoài tỉnh ủng hộ.
Ẩn sau lớp huyền thoại xung quanh vùng đất Quan Sơn và khởi nghĩa Lam Sơn, có thể nhận thấy những dấu ấn lịch sử phản ánh về vùng đất này đã có những đóng góp không nhỏ đối với cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của Anh hùng dân tộc Lê Lợi và Quan Sơn là một trong những địa bàn hoạt động quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn.
Về tướng quân Khằm Ban, (Chu Kha Lài) ông là nhân vật lịch sử. Dù chưa tìm thêm được những nguồn tư liệu mới về ông nhưng có thể khẳng định: Khằm Ban là một vị tướng giỏi của mường Ca Da (vùng đất thuộc huyện Quan Hóa cũ), giữ vai trò quan trọng và có đóng góp đáng kể trong khởi nghĩa Lam Sơn( ). Hiện nay, tại vùng đất mường Ca Da vẫn còn đền thờ tướng quân Khằm Ban. Lễ hội tại đền thờ vị tướng của khởi nghĩa Lam Sơn là một trong những lễ hội lớn của huyện Quan Hóa và các khu vực lân cận.
Đến thế kỷ XVI (những năm 1570 - 1575) trong cuộc chiến giữa hai thế lực Trịnh - Mạc, ven đôi bờ sông Mã vùng tả ngạn sông Mã từ châu Quan Da và châu Tàm (nay là các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Cẩm Thủy) và vùng hữu ngạn sông Mã từ đầu nguồn các huyện Lôi Dương, Nông Cống (nay là các huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống) đều trở thành chiến trường ác liệt và mất gần hết về tay quân Bắc triều (quân Mạc lúc bấy giờ). Nhân dân Thanh Hóa nói chung, nhân dân vùng đất Quan Hóa (Quan Sơn hiện nay) sống trong tình cảnh khó khăn phải xiêu tán, chạy loạn, ruộng đất bỏ hoang, nhiều người chết đói.( )
Vào thế kỷ XVIII, bọn Phỉ từ nước Lào tràn sang miền Tây Thanh Hóa cướp phá, xâm lấn châu Quan Da và châu Tàm. Trước hành động dã man tàn bạo của quân thù, người ở Bàn Đào mường Khô Hai Đào đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi thổ phỉ giành lại đất đai. Sau đó ông và các con trai cùng nghĩa quân tổ chức phòng thủ vùng biên giới. Ông đã được chúa Trịnh ban tước Hoa Quận công và phong chức Tư Mã trấn ải biên cương( ). Ông đóng đại bản doanh ở mường Xia (xã Sơn Thủy) và mất tại đó. Hiện nay ở bản Chung Sơn, xã Sơn Thủy có đền thờ Tư Mã Hai Đào.
Trong những năm 30, 40 của thế kỷ XVIII, khi chế độ phong kiến nhà Hậu Lê mục ruỗng và sự phân chia quyền lực cát cứ sâu sắc trong nội bộ triều đình giữa Vua Lê - chúa Trịnh; đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, các cuộc khởi nghĩa nông dân đồng loạt nổi lên. Trong bối cảnh lịch sử rối ren ấy, Lê Duy Mật, Lê Duy Quy con vua Dụ Tông Duy Đường (1706 - 1729) và Lê Duy Chúc con vua Hy Tông Duy Hợp (1676 - 1705) cùng một số triều thần Phạm Công Thế, Vũ Thược, Lại Thế Tế mưu đồ khởi binh cướp kinh thành, lật đổ họ Trịnh khôi phục triều Lê nhưng kế hoạch bị bại lộ, phái Duy Mật và đồng bọn tìm cách trốn thoát và tìm lên miền thượng du và vùng Tây Nam ẩn náu. Tại đây dựa vào lòng oán hận của nhân dân, đặc biệt là những người nông dân nghèo khổ là người Kinh, người Mường, người Thái, Lê Duy Mật đã đưa cuộc chính biến thành một cuộc khởi nghĩa nông dân thực sự.
Sau nhiều lần tấn công quân triều đình, từ địa bàn miền núi phía tây, Duy Mật đã mở rộng địa bàn hoạt động ra Hưng Hóa, Sơn Tây nhưng cuối cùng nghĩa quân của Duy Mật bị quân triều đình truy đuổi phải rút quân về động Cổ Nam.( )
Căn cứ vào các nguồn sử liệu cho biết vùng đất Quan Hóa (cũ), Quan Sơn hiện nay có vị trí chiến lược quan trọng, được thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa chọn làm nơi ẩn náu, tập hợp nghĩa quân.
3.3. QUAN SƠN TỪ ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1930
Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, thiết lập nên vương triều Nguyễn - triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, tồn tại trong 143 năm và sụp đổ hoàn toàn với sự kiện vua Bảo Đại thoái vị (năm 1945).
Thời kì nhà Nguyễn trị vì có nhiều biến động. Căn cứ vào diễn trình lịch sử, các nhà sử học đã chia thời kì này thành hai giai đoạn với cột mốc là năm 1858. Từ năm 1858 trở về trước là giai đoạn các vua nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức) toàn quyền điều hành và xây dựng quốc gia theo kiểu Nho giáo. Từ năm 1858 trở về sau (1945), nhà Nguyễn từng bước rơi vào khủng khoảng, mặt khác, phải đối phó với cuộc xâm lăng của thực dân Pháp. Sự kiện đáng lưu ý trong giai đoạn này là người đứng đầu triều đình Huế đã lần lượt kí với thực dân phương Tây các bản Hiệp ước Hác-măng (1883), Pa-tơ-nốt (1884), chính thức biến Việt Nam thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Tương ứng với mỗi giai đoạn, tỉnh Thanh Hóa nói chung, huyện Quan Sơn nói riêng đều có sự biến động sâu sắc, toàn diện về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa...
Năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã có một số điều chỉnh về mặt hành chính. Qua đó, Phú Xuân (Huế) được chọn là kinh đô, vùng đất tương đương với Bắc Bộ ngày nay được gọi là Tổng trấn Bắc Thành. Bộ máy quan lại triều đình được cơ cấu thành 6 bộ: Lại - Hộ - Lễ - Binh - Hình - Công với chức năng và nhiệm vụ khác nhau.
Năm 1804, vua Gia Long ra chỉ dụ dời trấn thành Thanh Hóa từ làng Dương Xá (xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa nay là thành phố Thanh Hóa) về làng Thọ Hạc (huyện Đông Sơn nay thuộc thành phố Thanh Hóa), gọi là Hạc Thành. Thời kỳ này Thanh Hóa gồm có 4 phủ: Hà Trung, Thanh Đô, Tĩnh Gia và Thiệu Thiên, 16 huyện: Tống Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Nga Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn, Quảng Xương, Thọ Xuân, Đông Sơn, Yên Định, Quảng Bình, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc, Lôi Dương và Thụy Nguyên và 3 châu: Quan Da, Lang Chánh và Tàm. Đứng đầu các phủ, huyện lần lượt là tri phủ và đồng tri phủ, tri huyện và huyện thừa. Vùng đất Quan Sơn lúc này thuộc châu Quan Da, phủ Thanh Đô và châu Lang Chánh, phủ Thọ Xuân.
Việc châu Quan Da được đổi thành Quan Hóa gắn liền với cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng. Theo đó, người đứng đầu nhà Nguyễn bỏ đơn vị tổng trấn, đồng thời thành lập đơn vị tỉnh thay cho dinh, trấn cũ. Theo Trương Hữu Quýnh, tác giả Đại cương Lịch sử Việt Nam thì: nhà Nguyễn đã chia đất nước thành 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên (trực thuộc Trung ương). Đứng đầu tỉnh là tổng đốc (mỗi người phụ trách từ 2 đến 3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (cấp dưới tổng đốc, phụ trách 1 tỉnh). Giúp việc có bố chánh sứ ty lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; án sát sứ ty lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh. Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm và thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn... Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng( ).
Đối với khu vực miền núi, vua Minh Mạng: “thực hiện nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829, ông bãi bỏ chế độ thế tập của các thổ ty (các tù trưởng của dân tộc thiểu số) mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương làm Thổ tri các châu, huyện. Sau đó (năm 1835), Minh Mạng còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinh nắm giữ để khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi. Tuy nhiên, do phản ứng của người dân địa phương, vua Tự Đức sau đó đã bãi bỏ chế độ lưu quan”(2).
Đối với Quan Sơn, trong cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng, năm 1829, nhà vua đã hợp nhất châu Quan Da với châu Tàm thành châu Quan Hóa. Người đứng đầu bộ máy hành chính cấp “châu” được gọi là tri châu. Lúc này, Quan Sơn thuộc châu Quan Hóa với những đặc trưng về bộ máy cai trị của các châu huyện miền núi cả nước. Năm 1835 (Minh Mệnh thứ 6), triều đình Huế bỏ chế độ thổ quan, thay bằng chế độ lưu quan. Các châu: Quan Hóa, Lang Chánh đặt chế độ châu lưu quan. Các huyện: Thạch Thành, Cẩm Thủy, Quảng An đặt chế độ lưu quan.
Đơn vị hành chính dưới cấp “châu” là các bản (đối với người Thái), mường (đối với người Mường). Đứng đầu các bản, mường lần lượt là Phìa, Tạo. Theo Địa chí Thanh Hóa, “trước năm 1945 ở miền núi Thanh Hóa có khoảng 37 bản, mường của người Thái, người Mường có khoảng 38 mường lớn(3) và nhiều chòm bản các tộc người thiểu số khác như: Khơ mú, Dao, Mông.
Nhìn chung, nhà Nguyễn với những sách lược trị quốc an dân lạc hậu, lỗi thời đã khiến tiềm lực đất nước suy yếu rất nhiều. Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã cay đắng thốt lên: “Lệ thuế hơi nặng, dân lấy làm khổ”. Thuế khóa, lao dịch nặng nề khiến nửa cuối thế kỷ XIX, khởi nghĩa nông dân nổ ra ở nhiều nơi.
Tại miền núi phía tây Thanh Hóa, một số thổ ty, lang đạo ở Quan Hóa (bao gồm cả vùng đất thuộc huyện Quan Sơn hiện nay), Lang Chánh, Cẩm Thủy đã nổi dậy, lãnh đạo nhân dân chống bọn tham quan. Trong đó, đáng chú ý là cuộc nổi dậy của nhân dân lao động châu Quan Hóa. “Quân khởi nghĩa đã giết chết tri châu Quan Hóa, mở rộng cuộc khởi nghĩa ra khắp miền Tây Thanh Hóa”( ). Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa sớm bị triều đình Huế đàn áp.
Nhìn chung, những thập niên đầu của “kỷ nhà Nguyễn”, vùng đất châu Quan Hóa chứng kiến khá nhiều biến động: Năm Minh Mạng thứ 17, tức năm 1836, Quách Tất Công, Quách Tất Đạt nổi lên liên kết với thủ lĩnh người Mường là Phạm Thúc Liêm ở Cẩm Thủy, Lang Chánh tôn Lê Duy Hiển làm minh chủ. Cuối năm này, nghĩa quân đã đánh Hồ Quân (châu lỵ Quan Hóa) giết tri châu Hồ Tố Thiện. Cũng tại châu Quan Hóa, một nhóm khác là Quách Phúc Thanh, Đinh Kim Bảng, Phạm Công Nho, Hồ Công Kim, Phạm Bá Nho đã khởi nghĩa vây Hồi Xuân, bắt giết tri châu Tô Danh Cẩn. Cuộc khởi nghĩa lan rộng đến các vùng Lôi Dương, Thụy Nguyên, Nông Cống. Để đối phó, triều đình đã cử Trương Đăng Quý phối hợp với tổng đốc Thanh Hóa, Sơn Tây đem quân đi đánh dẹp rất vất vả. Phải hai năm sau (năm 1838), khi Lê Duy Hiển bị bắt về kinh, cuộc “nổi loạn” tạm lắng( ).
Trong khi kinh tế - xã hội Việt Nam đang ngày một khủng hoảng và suy vi trầm trọng, nền “văn hóa bút nghiên phương Đông” lại phải đối mặt với “văn hóa đại bác phương Tây” và “trong cuộc đụng độ lịch sử này... dân tộc Việt Nam phải sống trong cảnh nô lệ đầy tủi nhục đến gần một thế kỷ”( ).
Cuộc khủng hoảng sâu, rộng về nhiều mặt của nhà Nguyễn đã đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm. Trong bối cảnh rối ren đó, xã hội Việt Nam đã xuất hiện hai “dòng cứu nước”: dòng kháng chiến và dòng canh tân.
Người đứng đầu chủ trương kháng chiến là Tôn Thất Thuyết. Mặc dù sự chuẩn bị chưa thật sự đầy đủ nhưng ông quyết định chủ động tấn công thực dân Pháp để giành thế chủ động. Tuy nhiên, trước sự phản công mạnh mẽ của đối phương, Tôn Thất Thuyết buộc phải đưa vua Hàm Nghi rời cung điện. Trên đường xuất bôn, Tôn Thất Thuyết đã lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, hai lần hạ chiếu Cần vương vào ngày 13/7/1885, tại Tân Sở - Quảng Trị và ngày 20 tháng 9 cùng năm (tại sơn phòng Ấu Sơn - Hương Khê - Hà Tĩnh. Chiếu Cần vương tập trung vào hai nội dung: tố cáo dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và kêu gọi văn thân, sỹ phu cả nước nổi dậy đánh đuổi thực dân, bảo vệ quê hương, đất nước.
Hưởng ứng chiếu Cần vương, phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp đã bùng lên mạnh mẽ ở nhiều địa phương. Thanh Hóa là một trong những địa phương có phong trào phát triển mạnh mẽ nhất, đã hình thành các đội nghĩa quân của Tống Duy Tân và Cao Điển, Đinh Công Tráng và Phạm Bành. Trong phong trào Cần Vương chống Pháp, Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm của phong trào với cuộc khởi nghĩa Ba Đình. Cuộc khởi nghĩa với căn cứ Ba Đình đã trở thành mẫu mực trong việc xây dựng chiến tuyến phòng ngự khiến người Pháp hết sức e ngại: “Trong chiến dịch 1886 - 1887, cuộc công hãm Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân lực nhất và làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhất”( ). 
Nhân vật lịch sử được xem là người đặt nền móng cho phong trào Cần vương ở Thanh Hóa là Trần Xuân Soạn. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa còn không ít các nghĩa sỹ yêu nước hoạt động tại các khu vực khác như: Nguyễn Phương (Nông Cống), Tống Duy Tân (Vĩnh Lộc), Nguyễn Đôn Tiết (Hoằng Hóa), Hoàng Bật Đạt (Hậu Lộc). Phong trào còn có sự tham gia của các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số như Cầm Bá Thước (người Thái), Hà Văn Mao (người Mường), hoạt động tại khu vực miền núi Thanh Hóa.
Trong phong trào Cần vương ở Thanh Hóa, không thể không ghi nhận sự đóng góp của đồng bào các dân tộc khu vực miền núi phía tây tỉnh Thanh Hóa (bao gồm cả vùng đất Quan Sơn nói riêng và châu Quan Hóa nói chung). Đóng góp của người dân nơi đây thể hiện trên nhiều phương diện mà cụ thể là trong cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh.
Căn cứ Hùng Lĩnh được xây dựng năm 1886 - khá muộn so với các cuộc khởi nghĩa khác( ) - trên vùng đất thuộc huyện Vĩnh Lộc, sau khi hai căn cứ: Ba Đình và Mã Cao thất thủ. Thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa là Tống Duy Tân cùng Cao Điển và Cầm Bá Thước.
Năm 1886, Đinh Công Tráng giao cho Tống Duy Tân và Cao Điển tìm cứ điểm xây dựng căn cứ nhằm hỗ trợ cho căn cứ Ba Đình. Tống Duy Tân đã lựa chọn cứ điểm Phi Lai( ) ở huyện Hà Trung, ngoài ra, ông còn lập một cứ điểm khác tại quê nhà là Hùng Lĩnh( ) - vùng đất thuộc huyện Vĩnh Lộc, nơi thượng nguồn sông Mã.
Năm 1887, phong trào Cần vương ở Thanh Hóa bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội, chiến khu Ba Đình, Mã Cao nối tiếp nhau thất thủ, các thủ lĩnh của phong trào hoặc anh dũng hy sinh (các trường hợp Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng), hoặc tự sát để bảo toàn khí tiết (Hà Văn Mao, Phạm Bành...). Riêng Trần Xuân Soạn tìm đường sang Long Châu (Quảng Tây - Trung Quốc)( ). Tình thế hiểm nghèo lúc bấy giờ đã khiến Tống Duy Tân đi một nước cờ táo bạo: dựa vào địa bàn miền núi tỉnh Thanh Hóa và các nghĩa sĩ yêu nước người dân tộc thiểu số để tiếp tục duy trì cuộc khởi nghĩa. Tống Duy Tân đã đem quân ngược dòng Mã Giang, xây dựng một trung tâm kháng chiến mới: căn cứ Hùng Lĩnh (Vĩnh Lộc - Thanh Hóa).
Dưới sự chỉ huy của Tống Duy Tân cùng hai cộng sự Cầm Bá Thước và Cao Điển, từ căn cứ Hùng Lĩnh, nghĩa quân đã phát triển lực lượng và tạo ảnh hưởng lớn lao đến các địa phương lân cận. Tại châu Quan Hóa (cũ) - bao gồm cả vùng đất Quan Sơn ngày nay, một thủ lĩnh người Mường là Hà Văn Nho cũng đã nổi dậy chống Pháp. Thủ lĩnh Hà Văn Nho đã có sự liên hệ với những thủ lĩnh của khởi nghĩa Hùng Lĩnh. Giữa hai bên đã có sự hợp đồng tác chiến nhất định.
Được sự ủng hộ và có sự liên kết với các cuộc khởi nghĩa trong tỉnh (Tôn Thất Hàn - Nông Cống, Hà Văn Nho - châu Quan Hóa) và ngoài tỉnh (Đốc Ngữ - vùng hạ lưu sông Đà, Phan Đình Phùng - vùng Nghệ An, Hà Tĩnh), khởi nghĩa Hùng Lĩnh đã gây cho Pháp những thiệt hại đáng kể về quân sự mà điển hình nghĩa quân đã đập tan âm mưu thăm dò của trưởng đồn ở Nông Cống là Thiếu úy Morfond cùng 4 lính Pháp và 20 lính khố xanh, ngày mùng 8 tháng 10 năm 1889, Morfond và 4 lính Pháp, 4 lính khố xanh tử trận.
Sau thắng lợi này, nghĩa quân Hùng Lĩnh còn nhiều lần đụng độ với quân Pháp. Trận đánh nào nghĩa quân Hùng Lĩnh cũng anh dũng kiên cường chiến đấu nhưng do lực lượng quá chênh lệch (thủ lĩnh Tống Duy Tân phải nhiều lần rút lui để bảo toàn lực lượng), khởi nghĩa Hùng Lĩnh suy yếu dần. Tống Duy Tân bị địch bắt ngày 4 tháng 10 năm 1892, khởi nghĩa Hùng Lĩnh xem như chính thức chấm dứt( ).
Sử sách không chép nhiều về Hà Văn Nho, chỉ biết rằng ông còn được gọi là Cai Nho người tổng Thiết Ống, là người trực tiếp xây dựng cơ sở kháng chiến tại mường Kỷ. Tuy nhiên, từ căn cứ Mường Kỷ, Hà Văn Nho đã phát triển cơ sở ra các địa phương lân cận trong đó vùng đất Quan Hóa (cũ) được Hà Văn Nho lựa chọn làm địa bàn chiến lược.
Hoạt động yêu nước của Hà Văn Nho trên vùng đất châu Quan Hóa (gồm ba huyện: Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát hiện tại) không được đề cập nhiều trong chính sử song căn cứ vào diễn biến khởi nghĩa Hùng Lĩnh, có thể khẳng định: Hà Văn Nho đã tập hợp được một lực lượng đáng kể, chủ yếu là quần chúng và nhân dân lao động Quan Hóa đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp, góp một phần không nhỏ vào phong trào Cần vương ở Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX.
Sau khi khởi nghĩa Hùng Lĩnh bị dập tắt, phong trào Cần vương ở Việt Nam tiếp tục được duy trì đến năm 1896 và chấm dứt bằng thất bại của khởi nghĩa Hương Khê.
Mặc dù không đi đến thắng lợi cuối cùng nhưng phong trào Cần vương vẫn là một điểm sáng đáng được ca ngợi trong lịch sử chiến đấu vì độc lập dân tộc và bảo vệ tổ quốc của sĩ phu và nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào ghi nhận những tấm gương quả cảm, chiến đấu quên mình, bất chấp những cuộc đàn áp tàn khốc, đẫm máu của kẻ thù. Trong đó, không thể không ghi nhận và đánh giá cao sự phát triển của phong trào ở Thanh Hóa.
Phong trào Cần vương ở Thanh Hóa phát triển trên cả diện rộng lẫn chiều sâu với quy mô ngày càng toàn diện, lớn mạnh. Phong trào thu hút đông đảo nhân dân lao động và sĩ phu yêu nước trong tỉnh, cả ở đồng bằng, miền biển cũng như miền núi. 
Nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn tự hào vì cha anh đã tích cực hưởng ứng phong trào Cần vương, tự nguyện tham gia kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Hà Văn Nho, Hà Văn Mao - những người con ưu tú của vùng rừng núi Thanh Hóa. Nối tiếp truyền thống yêu nước của các thế hệ đi trước những người con ưu tú của vùng đất Quan Sơn lại tiếp tục rèn trí, luyện tài, tập hợp lực lượng quần chúng để chuẩn bị bước vào thời kỳ mới đấu tranh chống lại bọn thực dân phong kiến.
Những năm đầu thế kỷ XX, sau khi phong trào Cần vương bị thất bại ở Thanh Hóa, đã xuất hiện những cuộc vận động yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản. Những nhà thơ yêu nước tiến bộ trong tỉnh như: Nguyễn Xứng, Nguyễn Soạn, Nguyễn Lợi Thiệp... đã vận động nhân dân ủng hộ các phong trào yêu nước như: phong trào chống thuế Trung kỳ (1908); phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục... Tuy nhiên, chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn các phong trào cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đều lần lượt thất bại do chưa có đường lối cách mạng đúng đắn.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra bước ngoặt quyết định đối với quá trình phát triển của cách mạng dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước ở nước ta đầu thế kỷ XX.
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời có ý nghĩa vô cùng to lớn, là “một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử nước ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và có đủ sức lãnh đạo cách mạng”( ).
Với đồng bào các dân tộc Quan Sơn nói chung, dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa và cả nước nói chung, Đảng khẳng định: lực lượng đấu tranh của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn... Phải nỗ lực tổ chức quần chúng lao động các dân tộc ấy vào Đảng, Công hội, Nông hội, Phản đế liên minh... Cần tổ chức và chỉ đạo công nông và các tầng lớp lao động khác trong các dân tộc thiểu số bênh vực quyền lợi hàng ngày của họ. Kịch liệt chống các sách lược áp bức và bóc lột của đế quốc, vua quan, các bọn lãnh tụ và tù trưởng, các quan lang, lý hào trong các dân tộc thiểu số, liên lạc vận động giải phóng trong các dân tộc thiểu số với những nhiệm vụ cách mạng phản đế và điền địa Đông Dương”( ). 
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã tác động mạnh mẽ tới phong trào yêu nước ở các địa phương trong cả nước, trong đó có Thanh Hóa. Dưới lý tưởng của Đảng, ngày 25 tháng 6 năm 1930, tại làng Hàm Hạ (xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn), chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở tỉnh Thanh Hóa được thành lập. Tiếp đến là Chi bộ Thiệu Hóa (ngày 10 tháng 7 năm 1930), chi bộ Thọ Xuân (ngày 22 tháng 7 năm 1930)( )...
Ngày 29 tháng 7 năm 1930, tại xã Yên Trường (huyện Thọ Xuân) diễn ra Hội nghị thành lập tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa. Tại Hội nghị, các đại biểu đã thống nhất được nhiều chủ trương quan trọng như: xây dựng các tổ chức Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Thanh niên cộng sản đoàn, Phụ nữ giải phóng xuất bản báo “Tiến lên” làm cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập có ý nghĩa rất lớn trong diễn trình lịch sử tỉnh Thanh Hóa, từ đây, nhân dân Thanh Hóa đã có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng mà trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa để giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau khi hoàn thành công cuộc bình định trên đất Thanh Hóa và dập tắt phong trào Cần vương, thực dân Pháp chính thức đặt chân lên đất Quan Hóa (trong đó có cả vùng đất Quan Sơn hiện nay). Kẻ thù thực dân đã thông qua chính quyền phong kiến phản động, bù nhìn của Việt Nam để điều hành và kiểm soát mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nhằm thực hiện âm mưu bóc lột, vơ vét tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của nhân dân nơi đây.
Để chống lại bọn thực dân và thổ ty, lang đạo độc ác, tham lam, một số cuộc đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ đã lẻ tẻ nổ ra. Người dân Quan Sơn đã yêu cầu tầng lớp thống trị bãi bỏ các hình thức đi phiên hầu, phục dịch, đấu tranh đòi tư liệu sản xuất... Tuy các cuộc đấu tranh này chưa trở thành phong trào nhưng những chuyển động này đã khẳng định “bước chuyển” mạnh mẽ trong tư tưởng của đồng bào các dân tộc Quan Sơn.
3.4. QUAN SƠN TỪ NĂM 1930 ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Giai đoạn này, huyện Quan Sơn chưa tách thành đơn vị hành chính (cấp huyện) độc lập, do vậy lịch sử huyện Quan Sơn gắn liền với những chuyển biến kinh tế, chính trị, văn hóa huyện Quan Hóa( ).
Tổ chức xã hội ở Quan Hóa lúc này lần lượt là mường, pọng, bản (mường Mò, mường Sại, mường Ca Da, mường Lát). Đứng đầu mường, pọng, bản là quan lang (còn gọi là Tạo mường, Tạo pọng, Tạo bản), rồi đến Tạo cai, sau đó đến Mụ mường, Mụ cai, Hó Luống, Hó Cáng, Chá Hươn, Chá Ngan( )... Tạo mường là người chủ độc nhất và tuyệt đối trong mường. Những chức vụ quan trọng nhất đều trong tay họ lang nắm giữ. Trước kia các thổ ty phần lớn đều thuộc một số dòng họ cai quản.
Về đơn vị hành chính, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Quan Hóa có 8 tổng, 21 mường, gồm: mường Ca Da, mường Ánh, mường Le, mường Páng (tổng Phú Lệ); mường Lát, mường Lý, mường Ái, mường Chiềng Công (tổng Lực Canh); mường Tuồng, mường Chự (tổng Cổ Nam); mường Pùng, mường Xim, mường Chanh (tổng Quang Chiểu); mường Sại, mường Mò, mường Hạ (tổng Tam Lư); mường Xia, mường Cha (tổng Hữu Thủy); mường Mìn (tổng Hữu Sơn); mường Khằng, mường Khiết (tổng Đặc Kiệt)( ).
Như vậy, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các đơn vị hành chính huyện Quan Sơn hiện nay có 4 tổng, 7 mường gồm: Tổng Cổ Nam (mường Chự) nay gồm các xã Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng, Trung Tiến( ); tổng Nam Lư (gồm mường Hạ, mường Sại, mường Mò) nay gồm các xã: Sơn Lư; thị trấn Quan Sơn, Sơn Hà, Tam Lư, Tam Thanh; tổng Hữu Sơn (có Mường Mìn) nay là các xã: Mường Mìn; Sơn Điện; tổng Hữu Thủy (gồm Mường Xia, mường Cha) nay là các xã Sơn Thủy, Na Mèo( ).
Bộ máy phong kiến độc quyền ở Quan Hóa lúc này gồm: tri châu, chánh tổng, lý trưởng, hương hạ, hương kiểm, hương dịch, tạo pọng, quan bản, xã góp. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), vua xuống dụ, đặt các thổ ty dưới quyền kiểm soát của các chánh tổng, thực chất là sự hợp pháp hóa vai trò của thổ ty tập trung quyền lực vào chính trung ương. Trong khi đó, từ tổng đến các làng, bản, chúng còn thiết lập một hệ thống kiểm soát nghiệt ngã. Đứng đầu hệ thống này là viên đại lý người Pháp thường gọi là Quan Đại dưới đó là các đội lính và đội ngũ cha cố trong nhà thờ. Tòa Đại lý Quan Hóa đóng tại Hồi Xuân trực tiếp cai quản bộ máy phong kiến quan lang và thông qua bọn này để thực hiện các chính sách bóc lột, đàn áp dân lành. Được thực dân Pháp dung túng chính quyền phong kiến và bọn thổ ty lang đạo mặc sức lộng quyền, Chúng tự mệnh danh là “Con trời” thuộc “lớp thượng đẳng” có quyền cai trị “lớp hạ đẳng”( ).
Thực dân Pháp còn tích cực truyền giáo. Thiên chúa giáo đã xuất hiện trên vùng đất này, nhiều nhà thờ được mọc lên. Cùng với đội ngũ thầy mo, thầy cúng, phù thủy đông đảo, đời sống tinh thần của nhân dân Quan Sơn nói riêng, Quan Hóa nói chung luôn bị che phủ bởi những thế lực siêu nhiên. Từ năm 1876, sau cuộc tấn công Bắc Kỳ lần thứ nhất, thực dân Pháp đã dựng một số nhà thờ tại Quan Hóa như: nhà thờ Chiềng Din (thuộc xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn hiện nay); Hua Tâu (xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa), Xia Cang (xã Sơn Thủy).
Song song với các hoạt động này, thực dân Pháp còn cấu kết với thổ ty, lang đạo và bộ máy phong kiến quan liêu, bóc lột nhân dân lao động đến cùng cực.
Dưới ách áp bức bóc lột hà khắc của thực dân, phong kiến, đời sống của nhân dân các dân tộc Quan Hóa vô cùng đói khổ. Đó là chưa kể đến đời sống kinh tế của đồng bào các dân tộc nơi đây còn rất thấp kém, gần như hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, đa số đồng bào dân tộc đều quen và giữ tập quán du canh, du cư; công cụ lao động không được cải tiến. Nhiều nơi nhân dân không biết cày bừa và sử dụng trâu, bò làm sức kéo, không biết dùng phân bón và làm thủy lợi. Tất cả đều làm bằng cơ bắp của con người, mùa màng được hay mất hoàn toàn lệ thuộc và thiên nhiên. Bị đói khổ, bệnh tật, người dân Quan Hóa (bao gồm cả Quan Sơn hiện tại) còn bị những luật lệ cổ hủ hàng bao đời nay trói buộc, như: cờ bạc, ma chay, đình đám, cung phụng, hầu hạ và làm tớ cho lang đạo, càng đẩy người dân địa phương vào cảnh tối tăm tủi nhục( ).
Từ sau cao trào dân chủ 1936 - 1939, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân các dân tộc, báo hiệu một thời kỳ mới trong lịch sử các dân tộc thiểu số. 
Từ cuối năm 1940 đến đầu năm 1941, trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình cách mạng thế giới và trong nước, những người Cộng sản Thanh Hóa chủ trương thành lập chiến khu cách mạng từ Tây - Bắc đến Đông - Nam chủ yếu là vùng rừng núi và bán sơn địa Thanh Hóa. Đây là thời cơ tốt để nhân dân các dân tộc miền núi đóng góp sức lực của mình cho cách mạng( ). Đến cuối năm 1941, tại 6 châu miền núi (Như Xuân, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước và Quan Hóa) đã bắt đầu hình thành những đốm lửa cách mạng. 
Những tư tưởng cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hóa đã truyền bá rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân lao động ở miền xuôi cũng như miền ngược, thức tỉnh tinh thần dân tộc và ý thức giai cấp của quảng đại quần chúng đang sống nghẹt thở dưới ách thống trị của đế quốc phong kiến. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa nói chung Quan Sơn nói riêng đã vùng dậy mạnh mẽ nhanh chóng hòa vào không khí cách mạng đang hừng hực dâng cao trong cả nước.
Trong không khí sôi nổi, hào hùng của Mùa thu tháng Tám, tại tỉnh Thanh Hóa, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ Thanh Hóa đã quyết định phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Lệnh Tổng khởi nghĩa của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh được phát đi trong đêm 18 rạng ngày 19 tháng Tám năm 1945. Chỉ vài ngày sau (21 tháng Tám năm 1945), nhân dân thành phố Thanh Hóa, các huyện miền xuôi và hai huyện Thạch Thành, Cẩm Thủy đã thành lập được chính quyền dân chủ nhân dân. Ngày 23 - 8 - 1945, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa - Lê Tất Đắc đã đọc bản Tuyên bố, công bố chương trình hành động của Việt Minh. 
Với các châu, huyện miền núi Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa chủ trương: “Không thể tiến hành giành chính quyền như các huyện miền xuôi. Cần có sách lược khôn khéo mềm dẻo, đánh lui từng bước, giành thắng lợi từng bộ phận, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Đi đôi với quá trình tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho quần chúng để quần chúng tự đứng lên làm chủ vận mệnh của mình”( ). 
Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa đã triệu tập đội ngũ tri châu miền núi, tuyên bố xóa bỏ hệ thống chính quyền cũ. Ủy ban đã giải thích cho các tri châu về đường lối của Đảng, của Hồ Chủ tịch về thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và việc thành lập chính quyền cách mạng mới. Ủy ban khẳng định sẵn sàng sử dụng những lang đạo, thổ ty có tinh thần yêu nước. Sau khi hiểu rõ về đường lối, chủ trương của Đảng, ý thức rõ về phong trào cách mạng đang lên, tri châu các châu Thường Xuân, Ngọc Lặc... đã tự nguyện từ bỏ chính quyền cũ. 
Diễn biến cách mạng ở khu vực miền núi Thanh Hóa lúc này vẫn rất phức tạp. Do bản chất ngoan cố, hiếu thắng, tri châu Bá Thước là Hà Công Thắng đã đưa tay sai xuống huyện Cẩm Thủy, kết bè đảng với tri huyện Cẩm Thủy (Sầm Văn Kim) chống lại cách mạng. Sau khi Sầm Văn Kim bỏ trốn, Hà Công Thắng đã chiếm huyện đường, xưng là “Huyện trưởng”.
Tuy nhiên, phong trào cách mạng ở Thanh Hóa lúc này phát triển rất mạnh. Lực lượng cách mạng các huyện Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc sau khi hạ đồn Phong Ý đã tấn công vào huyện lỵ Cẩm Thủy. Tháo chạy khỏi Cẩm Thủy, Hà Công Thắng cùng tay chân đã kéo về Điền Lư (Bá Thước), tiếp tục dụ dỗ thổ ty, lang đạo chiếm châu lỵ Tân Hóa. Nhằm khống chế vùng rừng núi phía Tây, Hà Công Thắng đã tấn công châu Quan Hóa, bắt trói Phạm Bá Ngọc - Tri châu Quan Hóa. Những hoạt động quấy phá của Hà Công Thắng đã gây cho cách mạng không ít tổn thất, việc thành lập chính quyền ở châu Tân Hóa gặp nhiều khó khăn.
Trước tình hình đó, Đảng bộ Thanh Hóa đề ra chủ trương: “Trước mắt, cán bộ phải ra sức tuyên truyền giác ngộ cho đồng bào thiểu số nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với chế độ mới, để họ tự đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Đồng thời phải phân hóa, lôi kéo những thổ ty, lang đạo nhỏ, ít phản động đứng về phía nhân dân, đấu tranh vạch mặt bọn tri châu, thổ ty, lang đạo ngoan cố, phản động; buộc chúng phải giao lại chính quyền cho lực lượng cách mạng”( ). 
Sự chỉ đạo khôn khéo song không khoan nhượng của Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa đã đưa đến thắng lợi cuối cùng. Tháng 10 năm 1945, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời châu Tân Hóa chính thức thành lập.
Cuối tháng 9 năm 1945, Đoàn Cán bộ của tỉnh Thanh Hóa do đồng chí Tuần Dũng phụ trách đã có mặt ở Quan Hóa. Cũng trong thời gian này, Tỉnh ủy cử một đơn vị Vệ quốc đoàn lên Quan Hóa phối hợp với nhân dân trấn áp những hoạt động phá hoại của bọn phản động, bảo vệ chính quyền, duy trì an ninh trật tự.
Các đồng chí Tuần Dũng, Lê Đình Sự đã tổ chức Hội nghị hiệp thương ở Hồi Xuân (phố huyện Quan Hóa hiện nay). Tham dự Hội nghị có đại biểu các xã và các mường trong huyện. Tại Hội nghị này, đồng chí Tuần Dũng đã vạch trần thủ đoạn lừa bịp của Hà Công Thắng, đồng thời phổ biến chủ trương cách mạng của Đảng đến nhân dân Quan Hóa. Các đại biểu đã rất phấn khởi và tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, vào Chính phủ. Mọi người đồng tâm tuyên bố xóa bỏ bộ máy chính quyền của Hà Công Thắng và thành lập Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Quan Hóa gồm các ông: Phạm Bá Ngọt (Chủ tịch), Lê Đình Sự (Phó Chủ tịch) cùng một số ủy viên. Đồng chí Tuần Dũng được Hội nghị cử làm Cố vấn. Đây là sự kiện có ý nghĩa rất trọng đại: lần đầu tiên chính quyền cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng được thành lập ở Quan Hóa( ).
Ngày 3/10/1945, Ủy ban Cách mạng lâm thời huyện Quan Hóa đã ra mắt nhân dân. Ủy ban đã cử cán bộ về các xã, mường thành lập chính quyền nhân dân. Ban Việt Minh, Ban Bình dân học vụ, Ban Công an, Ban Quân sự, Ban Tăng gia sản xuất... lần lượt được thành lập. Từ đó Ủy ban xúc tiến việc thành lập các đoàn thể chính trị như: Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ lão cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc...
Đến tháng 11 năm 1945, nhìn chung, công việc xây dựng chính quyền cách mạng, lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng ở Quan Hóa về cơ bản đã hoàn thành. 
3.5. QUAN SƠN TRONG THỜI KỲ 1945 - 1995
3.5.1. Quan Sơn trong thời kỳ xây dựng hậu phương và trực tiếp chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Thời kỳ này, ở Quan Hóa (bao gồm cả vùng đất huyện Quan Sơn ngày nay), âm mưu chống lại Đảng, chống lại cách mạng của bọn lang đạo ngày càng trắng trợn và điên cuồng. Mặc dù bên ngoài chúng vẫn lấy tư cách là người đại diện cho nhân dân liên hệ với cán bộ của Đảng, tiếp nhận chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ, nhưng thực chất bên trong, bọn lang đạo tìm đủ mọi cách để chống lại. Cụ thể là khi Đảng ta có chủ trương phát động “Tuần lễ vàng” và “Tuần lễ đồng”, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, khắc phục khó khăn trước mắt, bọn phản động đã trắng trợn xuyên tạc chủ trương đúng đắn của Đảng, xúi bẩy quần chúng, khống chế người đi quyên góp, khi thấy không thể lung lạc được sự nhiệt tình và sự kiên định của đông đảo nhân dân, chúng lại tìm cách biển thủ số vàng và đồng mà nhân dân đã quyên góp. Thái độ thù địch điên cuồng của chúng còn thể hiện trắng trợn trong dịp Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (ngày mùng 6 tháng 1 năm 1946). Trước và trong ngày bầu cử, bọn phản động lồng lộn phá rối. Chúng tung tin đồn nhảm reo rắc tâm lý nghi kỵ, nói xấu Đảng và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ở nhiều nơi, chúng dọa nạt cử tri, làm rối loạn trật tự trị an xung quanh bàn bỏ phiếu, khống chế những phần tử tích cực. Rốt cục, những âm mưu phá hoại cuộc Tổng tuyển cử của chúng đã bị thất bại, hơn 80% cử tri trong toàn huyện đã tham gia bỏ phiếu( ).
Phong trào cách mạng ở Quan Hóa thời kì này gặp muôn vàn khó khăn: Chính quyền non trẻ có lúc bị tê liệt hoàn toàn. Bọn thổ ty, lang đạo đã lợi dụng danh nghĩa chính quyền cách mạng quấy phá ở từng cơ sở xã, mường. Các tổ chức quần chúng thành lập chưa được củng cố đã bị địch thao túng. Lực lượng vũ trang địa phương vừa mới ra đời đã bị chúng lợi dụng, làm suy yếu và biến thành một đội quân phục dịch hầu hạ chúng... Một số không ít những người bị sa ngã trước lời dụ dỗ đường mật và sự đe dọa trắng trợn của kẻ thù.
Trong hoàn cảnh hết sức nghiêm trọng và phức tạp ấy, cán bộ, chiến sỹ và những quần chúng đã giác ngộ cách mạng vẫn không hề nao núng và chùn bước, họ đã vượt qua gian khổ, thách thức khắc nghiệt, kiên trì bám dân, giải thích, vận động quần chúng giữ vững đội ngũ trong các tổ chức, thực hiện đầy đủ chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ. Nhân dân các dân tộc Quan Sơn đã hưởng ứng nhiệt tình cuộc vận động của Đảng và Bác Hồ. Ngay sau khi được nghe cán bộ giải thích mục đích, ý nghĩa cuộc vận động “Tuần lễ vàng”, đông đảo nhân dân đã mang đến trao tận tay cán bộ và chiến sỹ ta những vật dụng có giá trị như nồi, xanh, vàng, bạc... 
Các phong trào, hành động diệt giặc đói, giặc dốt cũng được triển khai trên diện rộng và đạt được những thành tích nhất định.
Sau này cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã quyết định thành lập Ủy ban Thượng du và cử cán bộ các huyện miền xuôi lên chỉ đạo xây dựng chính quyền ở 6 châu miền núi. Ngày 4 tháng 4 năm 1947, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 41SL, thành lập Ủy ban Hành chính đặc biệt Thượng du tỉnh Thanh Hóa để giúp Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Thanh Hóa giải quyết các công việc ở 6 châu thượng du, động viên dân chúng tăng gia sản xuất và phát triển bình dân học vụ, tổ chức nhân dân kháng chiến.
Tháng 6 năm 1947, bọn địch đưa 100 tên, trong đó có 15 tên Pháp từ nước Lào sang tăng cường cho đồn Hồi Xuân, mở rộng phạm vi chiếm đóng. Nắm được âm mưu của địch, Ban Quân sự huyện Quan Hóa trực tiếp chỉ huy đơn vị dân quân du kích xã Hồi Xuân phục kích địch ở Na Ca Sắm và Kéo Háng Hen (xã Nam Xuân huyện Quan Hóa)( ) với quyết tâm phá tan cuộc hành quân chi viện của chúng. Với chiến thuật phục kích bất ngờ, dân quân xã Hồi Xuân đã tiêu diệt 2 lính Pháp, 31 lính ngụy và làm bị thương một số tên khác, cánh quân địch tiếp viện cho đồn Hồi Xuân bị bẻ gãy hoàn toàn. Thắng lợi này rất có ý nghĩa đối với đồng bào các dân tộc Quan Hóa, Quan Sơn góp phần động viên, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến, đồng thời càng tăng cường thêm niềm tin vào khả năng diệt địch, thắng địch bằng vũ khí thô sơ.
Tháng 7 - 1947, nắm được thông tin địch tổ chức một cuộc càn quét trên tuyến đường từ đồn mường Xia (xã Sơn Thủy)( ) đến đồn Pọng Nưa (xã Hiền Kiệt, Quan Hóa), lực lượng du kích xã Thiên Phủ (Quan Hóa) đã chủ động chặn đánh địch, diệt 6 lính Pháp.
Nhận thấy rõ vị trí chiến lược quan trọng của các huyện thượng du Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ I (tháng 2 năm 1948) đã ra Nghị quyết về công tác Thượng du và nêu quyết tâm “Thượng du thắng là Thanh Hóa thắng”( ).
Đầu tháng 7 năm 1947, đồng chí Đặng Việt Châu, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Thanh Hóa đã có mặt tại Quan Hóa để kiểm tra tình hình và chỉ đạo chiến đấu. Chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng vũ trang của tỉnh đã phối hợp với dân quân các xã Hồi Xuân, Nam Xuân, Phú Nghiêm, Nam Động, sử dụng cách đánh nghi binh, bao vây, tiêu diệt đồn Hồi Xuân. Ngày 11/8/1947, địch đã phải rút chạy khỏi Hồi Xuân. Sau sự kiện lịch sử oanh liệt này, Ủy ban kháng chiến tỉnh đã quyết định thành lập Ban dân quân Thượng du do Ủy ban Kháng chiến - Hành chính trực tiếp lãnh đạo. Phong trào xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có bước chuyển biến mới: huyện Quan Hóa đã có 1 trung đội chủ lực tập trung, ngoài ra còn có Đại đội Cầm Bá Thước; mỗi xã trong huyện có 1 đơn vị du kích tập trung và mỗi bản đều có thôn đội( ).
Huyện Quan Sơn (hiện tại) trở thành địa điểm chiến lược thời điểm này: sau khi tháo chạy, địch co cụm về phía Tây, lập thêm đồn trại Vạn Mai (Hòa Bình), mường Xim, Pom Cút, mường Lát, mường Xia và Na Mèo, nuôi dưỡng ý đồ tấn công vào vùng tự do Thanh Hóa, chia cắt quan hệ kháng chiến giữa Việt Nam với nước Lào.
Để thực hiện mưu đồ ấy, địch nhanh chóng xây dựng đội ngũ tay sai đắc lực làm chỗ dựa để nắm dân, kiểm soát đất đai, rừng núi, biến các xã, bản phía tây huyện Quan Hóa (bao gồm hầu hết địa phận huyện Quan Sơn ngày nay) thành “thánh địa” bất khả xâm phạm. Phạm Bá Thơ - tên tay sai được thực dân Pháp nuôi dưỡng, dạy dỗ, chỉ bảo, đã hăng hái lập bè đảng, cấu kết với Lò Khâm Thi và một số tên phản động ở Sầm Nưa (Lào) chuẩn bị cho việc thành lập xứ Thái tự trị. Ở những nơi chiếm đóng, địch bắt nhân dân ta xây dựng đồn bốt, trại lính, hầm hào kiên cố. Trong mỗi vị trí chiếm đóng, chúng thường xuyên duy trì lực lượng từ 60 đến 100 tên. Đi đôi với việc xây dựng đồn lũy, chúng ráo riết dồn dân lập ấp, thực hiện chính sách bình định tàn khốc. Ở đồn Pọng Nưa (xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa ngày nay), chúng bắt gần 100 gia đình dời làng, bản, đến tập trung quanh đồn. Ở mường Xia, chúng cưỡng ép dân thành lập 3 khu: khu Tân Lập có hơn 30 hộ, khu Pom Vực có hơn 30 hộ và khu làng Muống có 10 hộ. Ở những nơi này, bọn Pháp đã chỉ đạo tay sai ở địa phương lập hộ tịch, hộ khẩu và kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của nhân dân; đồng thời từng bước khôi phục bộ máy thống trị cũ từ xã đến làng, bản; đưa những tên tay sai đắc lực nhất lên nắm quyền hành. Khi bộ máy chính quyền phản động được dựng lên, cả “thầy” lẫn “tớ” đều ra sức bóc lột nhân dân. Nhiều làng bản trở nên xơ xác, tiêu điều. Chúng kìm kẹp nhân dân, người dân nào bị tình nghi lập tức bị chúng bắt lên đồn tra tấn hết sức dã man. Không chỉ có vậy, chúng còn dụ dỗ những người nhẹ dạ cả tin, khuyên họ từ bỏ hàng ngũ cách mạng ( ).
Ở những vùng giáp ranh, địch thường xuyên mở những cuộc càn quét quấy rối, thẳng tay chém giết đồng bào vô tội, trong đó có cả người già, đàn bà và trẻ em. Chúng ngang nhiên đốt nhà, cướp của, hãm hiếp phụ nữ. Ngoài ra, địch còn tìm mọi cách mua chuộc cán bộ của ta, nói xấu Đảng, Nhà nước, ca ngợi Pháp, ca ngợi Bảo Đại. Nham hiểm hơn, ở các nơi giáp ranh này, địch dùng bọn thổ phỉ trá hàng, để đưa tay chân vào các tổ chức Đảng, chính quyền nhằm phá hoại tận gốc lực lượng kháng chiến. Trên các tuyến đường thủy, địch tổ chức từng toán phục kích, đánh úp thuyền, mảng, phá hoại kho tàng của kháng chiến.
Được sự hậu thuẫn của thực dân, Phạm Bá Thơ và Lò Khâm Thi đã lập ra cái gọi là “Liên bang Thái tự trị” nhằm kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, chia rẽ lực lượng kháng chiến. Đáng tiếc là không ít quần chúng thiếu hiểu biết đã tin vào luận điệu xảo quyệt của địch, vì vậy, không lâu sau, “Liên bang Thái tự trị” đã biến thành “Liên bang Thái Bắc - Trung Việt” hoạt động trên phạm vi rất rộng lớn, từ Tây - Bắc Nghệ An đến Thanh Hóa, lên Sơn La, Hòa Bình và suốt dọc biên giới Việt - Lào( ).
Nhằm chủ động đối phó với âm mưu của địch, đầu năm 1948, Tỉnh ủy Thanh Hóa quyết định thành lập Ban miền Tây, cử 200 cán bộ dày dặn kinh nghiệm thay mặt Tỉnh ủy và Ủy ban Kháng chiến - Hành chính tỉnh Thanh Hóa trực tiếp lãnh đạo công cuộc kháng chiến ở miền Tây tỉnh Thanh Hóa. Trung đoàn 77 quyết định điều 3 đại đội: Đại đội 138, Đại đội 72 và Đại đội 78 tăng cường lên Quan Hóa, Bá Thước(2).
Ngay sau khi được thành lập, Ban miền Tây đã cử đoàn cán bộ gồm 8 đồng chí (Nguyễn Hoàn, Trần Đảng, Trương Đạc, Phạm Minh Do(3), Bùi Văn Cây, Trương Ngọc Quế, Nguyễn Xuân Hải và Nguyễn Xuân Kỳ) lên Quan Hóa hoạt động. Tình hình huyện Quan Hóa lúc này đang có nhiều phức tạp. Một số người có tư tưởng dao động đã cấu kết và chấp nhận làm tay sai, chỉ điểm cho địch. Để ứng phó với tình hình, ngày 5/3/1948, Đoàn cán bộ đã thành lập Chi bộ 53 Quan Hóa, do đồng chí Nguyễn Hoàn làm Bí thư, đồng chí Trần Đảng làm Phó Bí thư. 
Ngay sau khi thành lập, Chi bộ 53 đã có kế hoạch “bám dân, “bám bản”, kiên trì giải thích cho nhân dân hiểu rõ chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, vạch trần những luận điệu xuyên tạc và thủ đoạn bịp bợm, mỵ dân của bọn phản cách mạng, tố cáo và phán xét bọn phản bội. Nhiệm vụ không kém phần quan trọng đối với cán bộ, đảng viên Chi bộ 53 là vạch rõ thực chất của tổ chức “Liên bang Thái” cùng các tổ chức cấp dưới: “Ủy ban bình định”, “Chiến khu con đỉa”, “Quân đội Thái tự do”. Không chỉ có vậy, Chi bộ 53 đã dựa vào những phần tử tích cực, tổ chức cho quần chúng tham gia các phong trào thi đua kháng chiến, khôi phục và củng cố các đơn vị dân quân du kích và các đoàn thể cứu quốc( ). Kết quả là Chi bộ 53 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra: tư tưởng quần chúng nhân dân từng bước được ổn định; những cơ sở trước đây bị bọn phản động thao túng, lợi dụng nay được củng cố lại; một số phần tử phản động giấu mặt bị loại khỏi bộ máy lãnh đạo của huyện.
Quan Hóa lúc này tạm thời hình thành hai vùng: Vùng tạm chiếm bao gồm các xã ven biên giới Việt - Lào (gồm nhiều xã của huyện Quan Sơn hiện tại), do địch khống chế; Vùng tự do có Đoàn cán bộ công tác Miền Tây của tỉnh Thanh Hóa chỉ đạo hoạt động. Đoàn võ trang tuyên truyền công tác Miền Tây Liên khu III, sau khi làm việc với Ban miền Tây Thanh Hóa, đã để lại một lực lượng nhỏ ở vùng tự do phối hợp với cán bộ Ban miền Tây, còn lại phần lớn đưa về vùng địch tạm chiếm, hoạt động ngay trong lòng địch. Tại vùng địch tạm chiếm, đa số người dân chưa hiểu rõ bản chất của địch, chưa nhận thức đúng về cách mạng. Bởi vậy, nhiệm vụ của các chiến sĩ võ trang là rất nặng nề. Tuy nhiên, họ không nề hà gian khổ, hiểm nguy, lặn lội đến từng gia đình, thân mật trò chuyện với người già, gần gũi với trẻ nhỏ, giúp dân sinh hoạt. Ý chí cách mạng chói ngời của các chiến sĩ vũ trang đã thuyết phục được đa số nhân dân, từ chỗ không muốn tiếp xúc với cán bộ, chiến sỹ ta, nhiều đồng chí đã tạo được niềm tin, được nhân dân quý mến như người thân trong gia đình. Đây là thắng lợi rất quan trọng của cách mạng; từ chỗ thờ ơ, lạnh nhạt với kháng chiến, nhân dân đã chủ động tìm đến cán bộ, chiến sỹ, che chở, đùm bọc và tạo mọi điều kiện cho đơn vị hoạt động. Nhờ đó công tác củng cố cơ sở, xây dựng và phát triển lực lượng đã thu được kết quả nhất định.
Sự hiện diện của Đoàn Vũ trang tuyên truyền Liên khu III và Ban miền Tây đã góp phần thúc đẩy phong trào thi đua ái quốc phát triển mạnh trên địa bàn huyện Quan Hóa. Khí thế cách mạng của đồng bào các dân tộc Quan Hóa sôi nổi hẳn lên. Ngay khi Trung ương Đảng có chủ trương mở cuộc vận động mua “công trái kháng chiến”, nhân dân Quan Hóa đã hưởng ứng tích cực. Hàng trăm gia đình cán bộ, chiến sỹ dân quân du kích đã gương mẫu đi đầu. Kết quả là chỉ sau một thời gian ngắn, đồng bào các dân tộc Quan Hóa đã mua được 50.000 đồng và 20 tạ gạo( ).
Tháng 10 năm 1948, Ban miền Tây Thanh Hóa tổ chức Hội nghị tại Bá Thước để kiểm điểm kết quả công tác, đúc rút kinh nghiệm. Hội nghị này có sự tham dự của đại biểu đơn vị võ trang tuyên truyền công tác Miền Tây Liên khu III. Hội nghị đã thông qua Nghị quyết thành lập Hội kháng chiến gọi tắt là “H.K.C” để tập hợp giáo dục và rèn luyện những người kiên trung, ưu tú tạo điều kiện cho công tác kết nạp đảng viên trong huyện.
Được sự hướng dẫn, tổ chức của Ban miền Tây và đơn vị võ trang tuyên truyền Liên Khu III, lực lượng dân quân du kích địa phương đã phát triển nhanh chóng về mọi mặt. Ở huyện Quan Hóa đã có một trung đội gồm 97 người, được trang bị 1 khẩu súng trường, 50 quả lựu đạn, 11 quả mìn và 20 súng hỏa mai, vừa làm nhiệm vụ luyện tập quân sự, vừa tăng gia sản xuất tự túc một phần lương thực. Từng xã đều có đơn vị du kích tập trung 40 - 50 người. Có thể nói rằng, sau một thời gian tích cực hoạt động, Đoàn Cán bộ Ban miền Tây và Đoàn Võ trang tuyên truyền Liên khu III đã xây dựng được một lực lượng võ trang địa phương đông đảo, hình thành hệ thống chặt chẽ từ huyện đến cơ sở. Đến tháng 6 năm 1949, toàn huyện Quan Hóa có 1.509 chiến sỹ dân quân du kích, được trang bị 156 súng hỏa mai, súng kíp, 509 quả mìn và lựu đạn, 30 quả bom. Song song với việc tập luyện, sẵn sàng chiến đấu, lực lượng vũ trang Quan Hóa còn tham gia sản xuất trên diện tích 3 mẫu ruộng, gieo được 200 thúng lúa rẫy.
Thực hiện chủ trương của Đảng, các đảng viên trong Chi bộ 53 đã tổ chức tuyên truyền giác ngộ những quần chúng tích cực để kết nạp vào Đảng. Đến cuối năm 1949, toàn huyện có 2 chi bộ (Phú Lệ và Thiên Phủ), 7 tổ đảng với 42 đảng viên.
Để thống nhất chỉ đạo phong trào cách mạng Quan Hóa, ngày 28 - 3 - 1950, Tỉnh ủy Thanh Hóa ủy nhiệm cho Ban miền Tây ra quyết định thành lập Đảng bộ huyện Quan Hóa. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện lâm thời gồm 5 đồng chí do đồng chí Trần Đảng làm Bí thư kiêm chính trị viên Huyện đội. Tỉnh ủy đã giao cho Ban Chấp hành lâm thời chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất.
Sau khi ra đời, Đảng bộ lâm thời huyện Quan Hóa đã bắt tay ngay vào hoạt động, thúc đẩy phong trào cách mạng của địa phương tiến lên một bước mới. Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ lâm thời Quan Hóa, bộ đội chủ lực đã phối hợp chặt chẽ với dân quân du kích xã Sơn Thủy, Sơn Điện, Tam Chung, Quang Chiểu tấn công địch ở một số địa điểm như: mường Xia, mường Lát gây cho địch nhiều tổn thất, đẩy chúng vào thế đối phó bị động.
Tháng 4 năm 1951, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quan Hóa lần thứ nhất khai mạc trọng thể tại chòm Muống (xã Trung Xuân, thuộc huyện Quan Sơn hiện nay). Về dự Đại hội có 30 đại biểu là những chiến sĩ cách mạng và đại diện nhân dân các dân tộc Quan Hóa. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 7 đồng chí, đồng chí Trần Đảng được bầu làm Bí thư Huyện ủy( ).
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy, đồng bào các dân tộc Quan Hóa, Quan Sơn đã tích cực hưởng ứng 3 cuộc vận động lớn do Đảng, Bác Hồ phát động:
Cuộc vận động bán lúa khao quân của Hồ Chí Minh (tháng 8 năm 1949), toàn huyện đã bán được 150 tạ thóc.
Cuộc vận động ủng hộ bộ đội địa phương và góp quỹ đảm phụ quốc phòng - huyện thu được 155 tạ thóc. Nhiều nơi, nhân dân còn ủng hộ cả gia cầm, gia súc; quyên góp cho Quỹ đảm phụ quốc phòng 144.110 đồng.
Cuộc vận động mua Công trái Quốc gia (tháng 12 năm 1950), toàn huyện mua được 1.556 phiếu loại A với số tiền là 1.489.000 đồng( ).
Từ sau chiến thắng Biên giới thu đông năm 1950 đến đầu năm 1951, những cuộc đấu tranh chính trị, tố giác và phát giác bọn Việt gian phản động đã diễn ra quyết liệt ở các xã Trung Thành, Phú Lệ (thuộc huyện Quan Hóa), Trung Hạ (thuộc huyện Quan Sơn hiện nay), Hồi Xuân (thuộc huyện Quan Hóa). Quần chúng đã phát hiện ra nhiều tổ chức và hang ổ của bọn phản động; những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất cũng bị quần chúng phát giác và bị loại trừ khỏi Đảng. Nhờ đó, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với cách mạng được củng cố, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của nhân dân được tăng cường. Đó cũng là nguyên nhân quan trọng tạo nên sức mạnh, góp phần đập tan những cuộc càn quét của địch( ). 
Song song với những trận đánh địch càn quét, quân dân Quan Hóa còn liên tiếp mở nhiều cuộc tiến công táo bạo vào tận sào huyệt của bọn phản động. Trong cuộc vận động tiễu phỉ đợt một, huyện Quan Hóa được tỉnh xác định là địa bàn trọng điểm gồm các xã: Tam Lư, Sơn Thủy (thuộc huyện Quan Sơn ngày nay), Hiền Kiệt (huyện Quan Hóa ngày nay). Chỉ trong vòng hơn ba tháng, phần lớn bọn phản động, phỉ, ngụy đã bị phát giác và vây bắt. Tháng 10 năm 1952, dân quân du kích xã Hồi Xuân bao vây và bắt gọn bọn phỉ ở chòm Mướp. Cuối năm 1952, nhiệm vụ tiễu phỉ ở Miền Tây Thanh Hóa nói chung và Quan Hóa nói riêng nhìn chung đã thắng lợi. Địa bàn miền núi được xây dựng vững chắc, chuẩn bị mọi điều kiện phục vụ các chiến dịch. Tình hình trị an vùng biên giới từng bước ổn định, nhân dân các dân tộc trong huyện phấn khởi, yên tâm sản xuất và phục vụ kháng chiến( ).
Trong chiến dịch Thượng Lào năm 1953, các huyện Bá Thước, Quan Hóa, Lang Chánh là những vị trí chiến lược trên đường mòn chi viện cho chiến trường nước bạn Lào. Với tinh thần “giúp nhân dân nước bạn Lào là tự giúp mình”, tỉnh Thanh Hóa đã huy động 99.897 dân công dài hạn, 41.703 dân công ngắn hạn, 2.000 xe đạp thồ, 180 con ngựa thồ, 8 ô tô, 1.300 thuyền phục vụ chiến dịch; cung cấp cho nhân dân Lào 8.000 tấn gạo, 6.000 tấn muối, 1.000 con dao, 3.100 chiếc rìu, 5.000 chiếc thuổng; cùng nhân dân tỉnh Nghệ An giúp nước bạn 1.000 tấn lương thực, 15.000 xếp giấy. Trong chiến dịch này, Thanh Hóa đã vận chuyển vượt kế hoạch 1.200 tấn hàng hóa, đảm bảo 70% nhu cầu của chiến dịch( ).
Kết thúc chiến dịch, nhân dân Thanh Hóa đã được Bác Hồ trao tặng cờ “Phục vụ tiền tuyến khá nhất”, trong thành tích chung ấy có đóng góp không nhỏ của đồng bào các dân tộc huyện Quan Hóa (bao gồm cả vùng đất Quan Sơn hiện nay).
Những ngày cuối tháng 4 năm 1954, chiến trường Điện Biên Phủ diễn ra rất ác liệt; kẻ thù trong cơn giãy chết càng điên cuồng hơn. Vì vậy, trong khi chúng ta đang tập trung sức lực phục vụ tiền tuyến, Tỉnh ủy Thanh Hóa vẫn chú trọng đến mặt trận trấn áp bọn phản cách mạng đang chờ thời cơ nổi loạn phá hoại. Tỉnh ủy chủ trương phát động đợt tiễu phỉ trừ gian đợt 2. Các đồng chí Lê Công Oánh và các chiến sỹ của Ty Công an lại tiếp tục lên đường. Tỉnh cũng huy động thêm hai Đại đội bộ đội địa phương 188 và 136 lên Quan Hóa bảo vệ biên giới và phối hợp với chiến sỹ an ninh trấn áp bọn phản cách mạng. Đoàn cán bộ tiễu phỉ trừ gian của huyện Quan Hóa do đồng chí Nguyễn Xuân Lâm, Huyện ủy viên, chính trị viên huyện đội phụ trách( ).
Ngày 7/5/1954, Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng, đã cổ vũ phong trào quần chúng tiễu phỉ trừ gian tiến lên mạnh mẽ. Tháng 8 năm 1954, là đỉnh cao của những đợt truy quét đó và được đánh dấu bằng các đợt tiễu phỉ trừ gian sau: 
 - Ngày 4/8/1954, đánh vào vị trí bản Kiên, Hua Nua, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và truy kích địch lên mường Chắt, thu nhiều vũ khí và quân dụng.
- Ngày 6/8/1954, tấn công bản Ánh, nơi ẩn náu của gần 100 tên phỉ, bắt sống 9 tên, thu 14 súng, tiêu diệt 1 tên.
- Ngày 9/8/1954, đánh 2 trận vào gần bản Khắt, diệt và làm bị thương 50 tên, buộc 60 tên ra hàng.
- Ngày 12/8/1954, bắt 27 tên, thu 21 súng trường, 3 súng trung liên, 2 tên ra hàng mang theo 1 trung liên, 1 tiểu liên, 1 súng trường.
- Ngày 18/8/1954, đánh vào Sốp Phưa, trước sự tấn công của ta, địch đã chủ động rút vào rừng nhưng quân ta tiếp tục bao vây, 20 tên địch đã ra hàng, mang theo 60 súng trường, 2 trung liên. Tiếp đó, quân ta còn đánh vào mường Pao, bắt và quy hàng 300 tên, mang theo 300 súng các loại. Ở Sầm Tớ, quân ta gọi hàng 200 tên. Tên chỉ huy căn cứ mường Pao là Thoong Văn bị bắt sống( ). 
Mặc dù phải thường xuyên đương đầu với bọn phản cách mạng, nhân dân các dân tộc Quan Hóa với truyền thống lao động cần cù và tinh thần yêu nước tha thiết, đã phấn đấu đến mức cao nhất để đóng góp cho các chiến trường như: Tây Bắc, Thượng Lào, chiến dịch Điện Biên Phủ và làm tròn nhiệm vụ quốc tế với nước bạn Lào.
3.5.2. Quan Sơn trong thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)
Cũng như các giai đoạn 1930 - 1945; 1945 - 1954, trong cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, huyện Quan Sơn chưa tách thành đơn vị hành chính (cấp huyện) độc lập, do vậy lịch sử huyện Quan Sơn gắn liền với những chuyển biến kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của huyện Quan Hóa.
Giai đoạn 1954 - 1960
Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ công nhận độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Căm-pu-chia; đồng thời mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam.
Vào thời điểm này, huyện Quan Hóa có 12 xã, gồm 184 chòm lớn, 524 chòm nhỏ. Dân số 33.562 người, trong đó người Kinh: 740 người; Mường: 181 người; Thái: 24.827 người. Mọi( ) 5.807 người; Mông: 1.235 người; Dao: 304 người; Khơ Mú: 160 người; Hoa kiều: 250 người; Lào kiều: 95 người. Ruộng đất có 1.698 mẫu 6 sào, bình quân mỗi khẩu 7 thước, rẫy có 3.239 mẫu. 
Về chính trị, cuối năm 1955 ở các xã: Tam Lư, Quang Chiểu, Tam Chung đã có 34 gia đình gồm 155 khẩu dịch cư sang các xã giáp biên giới Lào. Tay chân do địch cài cắm lại dụ dỗ một số phần tử xấu đánh phá mương, phai (ở Hồi Xuân, Phú Lệ, Phú Nghiêm), chém giết trâu, bò, thả trâu bò ăn mạ của đồng bào; đốt phá nhà cửa của nhân dân (riêng xã Tam Chung có 6 vụ); chúng còn dùng nước sôi ngâm giống để chống phá cải tiến kỹ thuật sản xuất của ta...
Về kinh tế, do tác động của chiến tranh nên ruộng đất bị bỏ hoang nhiều, đồng thời với kỹ thuật canh tác vô cùng lạc hậu cho nên năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi đều rất thấp kém. Tình hình nạn đói cuối năm 1954 đầu năm 1955 chưa giải quyết được. Giữa năm 1956, khi đội “vận động đoàn kết sản xuất” vừa rút đi thì bọn phản động lập tức trở lại hoạt động. Chúng ra sức chống phá làm ảnh hưởng tới thành quả cách mạng nhân dân mới giành được. Bên cạnh đó, vụ đông năm 1955 lại rét đậm, số đồng bào vùng cao biên giới không chỉ bị đói còn thiệt mạng vì rét. Bên cạnh đó, đội ngũ thầy mo, thầy cúng ra sức lừa bịp nhân dân bằng các hủ tục cúng bái, “trừ ma” lạc hậu.
Về văn hóa xã hội: lúc này ở Quan Hóa có 3 ngôn ngữ: chữ Quốc ngữ (chưa nhiều người biết); chữ Thái (chủ yếu là người Thái); chữ Hán của người Mán, người Dao khiến việc trao đổi, giao tiếp rất khó khăn. Toàn huyện có 9/12 xã có trường học. Đồng bào vùng cao như dân tộc Khơ Mú có 10 người biết đọc bập bẹ, người Mông vào thời điểm này mới bắt đầu tổ chức lớp. Cả huyện chỉ có 288 học sinh từ lớp 1 trở lên( ). 
Trước tình hình đó, trung tuần tháng 7 năm 1955, Ủy ban Hành chính tỉnh mở Đại hội để triển khai phong trào thi đua sản xuất chống đói ở 7 huyện Thượng du. Đại hội đã xây dựng đề án và thảo luận kế hoạch đẩy mạnh sản xuất miền núi. Đại hội đề ra phương châm cơ bản:
 - Kết hợp giải quyết đời sống cho nhân dân trước mắt, hiện nay với việc kiến thiết lâu dài.
 - Tận dụng mọi khả năng về trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng để cải thiện đời sống cho đồng bào.
 - Xây dựng quan điểm “ăn của rừng phải nuôi rừng”. Chủ trương sản xuất cụ thể với từng vùng. Đại hội chỉ rõ:
Thứ nhất, ở vùng thấp (các dân tộc: Thái, Mường, hoạt động kinh tế chính là lúa ruộng, làm rẫy trồng hoa màu và chăn nuôi trâu, bò, gà vịt; lâm thổ sản có gỗ, tre, luồng, nứa; nghề phụ phổ biến là nghề dệt) phải tập trung tăng vụ nhằm phát triển lúa Nam Ninh. Ngoài ra, trên các ruộng cao phải trồng ngô, khoai, kê, sắn. Đồng thời đẩy mạnh chăn nuôi trâu, bò. Đàn gia súc phải có người chăn dắt, có chuồng, mùa rét chuồng phải khô, cho ăn đầy đủ, đảm bảo lượng gia súc nuôi sống phải đạt tỉ lệ 75%.
Thứ hai, ở vùng cao (các dân tộc: Khơ Mú, Dao, hoạt động kinh tế chính hàng năm là ngô và lúa rẫy, thủ công nghiệp kém phát triển) phải phát triển các hoa màu có sẵn như: ngô, sắn, trồng gối lúa để chống đói. Ngoài ra cần chú ý mua lâm sản; chú trọng nguồn lúa cứu đói vào tháng ba, tháng tư và tháng bảy, tháng tám. Vận động người dân không nên phát rẫy tập trung liền khu quá nhiều vì sẽ gây ra tình trạng đất trống đồi trọc, hạn hán và lũ quét. Khai thác kết hợp với bảo vệ lâm sản rừng như: rừng sa nhân, rừng có củ nâu, rừng có nhiều gỗ tốt. Tuy nhiên, canh tác trên rẫy là sự canh tác thô sơ, lạc hậu, đời sống vẫn bấp bênh cần chuyển hướng đồng bào về làm ruộng hay định canh nhưng không cưỡng bức.
Thứ ba, với vùng đồng bào sống về rẫy du canh (chủ yếu là khu vực cư trú của đồng bào Mông, thu hoạch chính là ngô, trồng lúa rẫy, chăn nuôi lợn, gà nhiều; nghề phụ có nghề dệt, nghề rèn và trồng thuốc phiện) cần tập trung giải quyết lương thực, nguồn nước sinh hoạt và trang phục. Đồng thời trồng thêm nhiều hoa màu và phát triển trồng lúa mì, mạch, củ lỗ... giải quyết việc tiêu phụ sản phẩm, đồng thời khuyến khích phát triển chăn nuôi.
Thứ tư, cần phục hồi nghề dệt vải lanh để tự túc trang phục.
Thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế do Trung ương đề ra, từ sau Đại hội, tại 7 huyện Thượng du, một mặt, Đảng bộ động viên đồng bào các dân tộc tích cực khai hoang phục hồi phát triển sản xuất, mặt khác động viên các tầng lớp nhân dân tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Với những nỗ lực của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc, về cơ bản, đến cuối năm 1955, Quan Hóa đã khắc phục được nạn đói, được giữ Cờ luân lưu do có thành tích “vượt khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, trấn áp địch”, các xã: Hiền Kiệt, Sơn Thủy( ) được tặng Bằng khen.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 và 7 (khóa II) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã phát động đồng bào các dân tộc trong tỉnh thi đua sản xuất, tích cực hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện các mục tiêu cải tạo và xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Tỉnh ủy Thanh Hóa trong chương trình sản xuất đã chọn 12 xã làm điểm chỉ đạo, trong đó riêng Quan Hóa có 8 xã là: Tam Chung, Quang Chiểu, Hiền Kiệt, Trung Thành, Thiên Phủ, Sơn Thủy, Tam Lư, Trung Hạ (một số xã nay thuộc huyện Quan Sơn). Mỗi xã trọng điểm được ưu tiên 7 cán bộ tăng cường của tỉnh. Huyện ủy đã tổ chức cho nhân dân học tập nội dung cơ bản của cuộc vận động, thành lập ở mỗi xã một đội “đoàn kết sản xuất”. Đến tháng 5 năm 1956, Đoàn cán bộ của Tỉnh sau khi ổn định tình hình đã rút khỏi địa phương, phong trào khai hoang, phục hóa được Đảng bộ huyện và các chi bộ xã chủ động đẩy mạnh trên toàn địa bàn( ).
Sau 3 năm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (từ năm 1955 đến năm 1957), sản xuất nông nghiệp của huyện Quan Hóa được phục hồi . Trong khi chưa có điều kiện phát triển công nghiệp, Huyện ủy đã chủ trương khuyến khích phục hồi và phát triển các ngành nghề thủ công nghiệp. Ban miền Tây, Huyện ủy đã tìm những người có tay nghề giỏi ở các chòm, bản động viên tiếp tục sản xuất những nông cụ cầm tay, do đó các lò rèn ở vùng cao biên giới được mở lại. Một số nghề truyền thống như dệt vải lanh, đồ mộc, làm giấy... từng bước hoạt động trở lại.
Cùng với việc tăng gia sản xuất, Huyện ủy Quan Hóa còn phát động nhân dân làm đường giao thông. Tỉnh ủy chỉ đạo thi công tuyến đường 217A (Thanh Hóa - Na Mèo) - đây là một trong những tuyến giao thông quan trọng nhất của huyện Quan Sơn ngày nay. Cán bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện đã tham gia rất tích cực, góp phần nhanh chóng thông xe tuyến đường dài 92 km nối liền Việt Nam với nước bạn Lào. Ngoài ra các xã đã chú ý sửa chữa, mở rộng các đường liên thôn, liên bản, liên xã.
Các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế cũng được quan tâm và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Thực hiện chủ chương của Tỉnh ủy và Ban Cán sự miền Tây, tháng 1 năm 1958, Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ II chính thức khai mạc tại Pom Co Hương, bản Khằm, xã Hồi Xuân (cũ)( ). Tham dự đại hội có 95 đảng viên từ 6 chi bộ xã và 2 chi bộ cơ quan.
Năm 1958, sản xuất nông nghiệp bị thiên tai đe dọa, hạn hán kéo dài, đói kém ở vùng biên giới rất trầm trọng nhưng nhân dân Quan Hóa đã nỗ lực phấn đấu, hạn chế được một phần thiệt hại do thiên tai gây ra. Cùng với phong trào đổi công, hoạt động của ngành Thương nghiệp cũng có chuyển biến theo hướng đẩy mạnh bán lẻ, hạn chế bán buôn, đảm bảo một số lượng lớn hàng hóa cần dùng cho nhân dân. Các tổ bán hàng ở Tam Lư được thành lập, các tổ ở Tam Chung, Nam Động, Sơn Thủy được cung cấp thêm hàng hóa... Nhờ đó, thị trường đã được bình ổn.
Về văn hóa - xã hội, phong trào bình dân học vụ được đẩy mạnh hơn, phong trào vệ sinh phòng bệnh cũng có những bước tiến mới, người dân đã tự giác đi tiêm phòng. 
Tháng 4 năm 1959, Hội nghị lần thứ 16 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã ra Nghị quyết về hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc. Đối với các địa phương miền núi, ngày 28/8/1959, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 156 - CT/TW về việc tiến hành “Cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ”. Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, ngày 21 tháng 9 năm 1959, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã triệu tập Hội nghị cán bộ chủ chốt của 7 huyện miền núi để quán triệt tư tưởng. Các cấp ủy đảng đã nhận thức đúng đắn đây là cuộc cách mạng sâu sắc và toàn diện nhằm xóa bỏ triệt để quan hệ xã hội cũ, xác lập quan hệ sản xuất mới, đưa nhân dân các dân tộc từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tỉnh ủy đã chọn 4 xã trong đó có xã Sơn Thủy (Quan Hóa)( )để làm thí điểm, đồng thời điều động cho các huyện miền núi 200 cán bộ, kết hợp với Ban Cán sự Miền Tây và các cấp ủy địa phương tiến hành thực hiện.
Trên cơ sở nắm vững những khó khăn, thuận lợi và đặc điểm dân tộc ở Quan Hóa, Tỉnh ủy đã xác định tư tưởng chỉ đạo trong cuộc vận động: Nâng cao giác ngộ giai cấp, giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, làm cho mọi người phân biệt rõ hai chế độ, phân rõ ranh giới giữa địa chủ và nông dân, giữa lao động và bóc lột, nâng cao cảnh giác, phân biệt bạn - thù, đề cao khí thế của bần, cố nông và trung nông lớp dưới. Quán triệt tư tưởng đó, Huyện ủy Quan Hóa đã nêu cao tinh thần cách mạng, sáng tạo vạch ra phương pháp phù hợp với điều kiện của huyện.
Sau khi rút kinh nghiệm ở xã điểm Sơn Thủy, ngày 27/3/1960, Huyện ủy Quan Hóa đã tiến hành thực hiện cải cách dân chủ trên toàn huyện. Cuộc vận động đã làm tốt công tác tuyên truyền, nhờ đó quần chúng đã phân được ranh giới giữa người bóc lột với người bị bóc lột, giữa kinh tế tập thể với kinh tế cá thể. Với đặc điểm của một huyện miền núi (không phân định thành phần giai cấp rõ rệt như miền xuôi), nhưng Đảng bộ, chính quyền đã tiến hành giáo dục, cải tạo, xử lý tài sản của 31 địa chủ (5 địa chủ cường hào, 17 địa chủ phản động, 19 địa chủ kháng chiến). Số tài sản thực thu được đã chia cho 105 hộ bần nông và trung nông lớp dưới( ).
Về hợp tác hóa phát triển sản xuất, qua học tập, đồng bào các dân tộc đã thấy những ưu điểm và con đường tất yếu của nông dân lúc này là làm ăn tập thể, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Kết quả toàn huyện Quan Hóa đã thành lập được 75 hợp tác xã cấp thấp với 1.746 hộ, gồm 11.859 nhân khẩu, 736 mẫu ruộng, 3.907 con trâu: xã Phú Nghiêm đạt cao nhất huyện (85%), sau đó đến Thiên Phủ (71%)...( ).
Các chủ trương: xây dựng tổ đổi công, thành lập Hợp tác xã tín dụng, Hợp tác xã mua bán đều thu được thắng lợi rất khả quan. Nhìn chung, đến tháng 3 năm 1961, huyện Quan Hóa đã hoàn thành các cuộc vận động. Không những thế, trong 3 năm: 1958 - 1960, huyện đã vận động hàng chục gia đình vùng cao biên giới định canh, định cư. Năm 1959, Ty Y tế đã thành lập trạm xá ở Mường Lát, Sơn Thủy... Cũng thời gian này, hàng trăm người dân đã được xóa mù chữ, tới năm 1960, hầu như tất cả các xã trong huyện đã có trường cấp I.
Từ ngày mùng 10 đến ngày 12 tháng 6 năm 1960, Đảng bộ huyện Quan Hóa đã tiến hành Đại hội lần thứ III tại Piềng Thớ, bản Khằm, xã Hồi Xuân. Đại hội có 76 đại biểu tham dự, Ban Chấp hành mới gồm 11 đồng chí chính thức và 2 đồng chí dự khuyết. Đồng chí Trịnh Tôn được bầu làm Bí thư Huyện ủy, đồng chí Vi Văn Êu được giao nhiệm vụ Phó Bí thư phụ trách chính quyền( ).
Giai đoạn 1961 - 1975
Từ năm 1961 đến năm 1965, trước khi bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, diễn ra từ ngày 5 - 10/9/1960 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã thông qua kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế, văn hóa (1961 - 1965).
Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, từ ngày 25/2 đến 5/3/1961, Đảng bộ Thanh Hóa đã tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V. Tháng 5 năm 1961, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã phát động phong trào thi đua trong toàn tỉnh. Với khu vực miền núi, Tỉnh ủy quyết định giải thể “Ban cán sự Miền Tây” và “Ủy ban hành chính đặc biệt Thượng du”, thành lập “Ban chỉ đạo công tác Miền Tây”. Cũng trong thời gian nay, Tỉnh quyết định thành lập “Công ty Tổ hợp miền núi” ở Na Mèo, Tam Chung, Hồi Xuân( ).
Ở Quan Sơn nói riêng và Quan Hóa nói chung, giai đoạn này có nhiều sự kiện quan trọng:
Đảng bộ huyện Quan Hóa tiến hành Đại hội lần thứ IV (từ 22 đến 23 tháng 02 năm 1962). Đại hội thẳng thắn kiểm điểm những hạn chế trên các lĩnh vực trong nhiệm kỳ III, Đại hội đã đề ra các nhiệm vụ trong nhiệm kỳ là: phát triển các HTX nông nghiệp và đẩy mạnh sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp; phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và chăm lo cải thiện đời sống nhân dân.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa IV gồm 1 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lương Văn Họi được bầu làm Bí thư, đồng chí Vi Văn Êu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền.
Về địa lý hành chính, giai đoạn này, huyện Quan Hóa có một số điều chỉnh. Ngày 11/2/1963, thực hiện Quyết định số 30 - CP của Hội đồng Chính Phủ, 3 xã: Tam Chung, Sơn Thủy, Trung Thành được chia thành 7 xã mới( ). Đến cuối năm 1965, huyện Quan Hóa có 16 xã với 41.635 nhân khẩu.
Trong hoàn cảnh một huyện miền núi: nhận thức của người dân chưa cao, ruộng đất canh tác phân tán, sản xuất nông nghiệp trong 2 năm 1962 - 1963 liên tục bị thiên tai, sâu bệnh nhưng đồng bào các dân tộc Quan Hóa vẫn vững niềm tin vào mô hình kinh tế tập thể. Nhờ đó, diện tích trồng trọt bình quân hàng năm vẫn tăng 6,3%, sản lượng lương thực giữ mức ổn định của năm 1961.
Từ năm 1961, địch đã cho máy bay xâm nhập vùng trời Quan Hóa. Đến tháng 5 năm 1962 một chiếc máy bay Mỹ - Ngụy thả biệt kích xuống Pù Cọ (xã Trung Hạ thuộc huyện Quan Sơn ngày nay). Bước sang năm 1964, đặc biệt là những tháng cuối năm, hầu như ngày nào máy bay và tàu chiến của địch đều xâm phạm vùng biển, vùng trời Thanh Hóa. 
Ngày 14/3/1964, Ủy ban Hành chính tỉnh Thanh Hóa quyết định thành lập hệ thống tổ chức chỉ đạo phòng không nhân dân các cấp và thành lập Phân đội pháo binh dân quân và súng máy cao xạ ở các huyện Quan Hóa, Ngọc Lặc... Tiếp đó, tháng 5 năm 1964, Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết về công tác quân sự địa phương, nêu rõ nhiệm vụ cụ thể: tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tổ chức phòng thủ sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh công tác bảo vệ trị an, phòng chống gián điệp, biệt kích... Trên cơ sở đó, công tác chuẩn bị chiến đấu được Huyện ủy chỉ đạo thực hiện hết sức khẩn trương. Qua đó, phương án tác chiến ở các xã được thiết lập, nhiều cán bộ được cử đi dự các lớp huấn luyện quân sự; công tác phòng tránh chiến tranh được Huyện ủy chú trọng, dọc theo các tuyến đường 15A và 217, các cơ quan, kho tàng, trường học, bệnh viện, bệnh xá... đều được tổ chức sơ tán. Đối với lực lượng dân quân tự vệ, Huyện đã chỉ đạo phát triển thêm 454 dân quân tự vệ (năm 1965), trong đó có 148 nữ dân quân( ). 
Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ V được tiến hành từ ngày 2/10/1964 tại xã Hồi Xuân. Đồng chí Trịnh Thuân, Thường vụ Tỉnh ủy - Trưởng ban miền Tây thay mặt Tỉnh ủy về dự và chỉ đạo Đại hội. Đại hội đã đánh giá những kết quả bước đầu và thẳng thắn chỉ rõ những tồn tại yếu kém trong nhiệm kỳ IV; đồng thời đề ra các mục tiêu chủ yếu cần phấn đấu trong nhiệm kỳ mới và phát động phong trào thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội. Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa mới gồm 19 ủy viên, Ban Thường vụ Huyện ủy 5 đồng chí, đồng chí Lương Văn Họi được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Hà Văn Ban được bầu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền( ); đồng chí Hà Văn Cao, Phó Bí thư trực Đảng.
Từ năm 1965 đến năm 1968, đây là giai đoạn cùng với đồng bào các dân tộc Quan Hóa, nhân dân Quan Sơn vừa sản xuất, vừa chiến đấu góp phần đánh thắng “chiến tranh Cục bộ” của đế quốc Mỹ.
Trên mặt trận quân sự, từ ngày 21/4/1965 đến thời điểm Mỹ tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc, máy bay Mỹ đã bắn phá trên đất Quan Hóa 681 trận, tất cả 23 xã trong huyện đều có vết bom đạn của đế quốc Mỹ, chúng thả 2.755 quả bom các loại từ 100kg trở lên, 1.070 rốc két, 18 quả tên lửa và hàng ngàn loạt đạn 20 ly... Hành động hiếu chiến của Mỹ đã làm cho 32 người chết, 92 người bị thương, 183 nhà ở bị tàn phá, 19 xe ô tô và đầu máy làm đường bị phá hủy, 26 con trâu, bò bị chết; 18 mẫu ruộng lúa, 2 cầu xi măng, 8 cầu gỗ, 8 trạm xá bị phá hoại... 
Không những thế, địch đã dùng máy bay trinh sát, chụp ảnh các mục tiêu trong huyện, điểm tập trung chú ý nhất là trục đường 217 và 15A, dọc biên giới rẻo cao và nước bạn Lào. Hàng chục toán biệt kích được sự hậu thuẫn của Mỹ đã tiến hành hoạt động phá hoại ở giáp biên giới các xã: Trung Hạ (thuộc huyện Quan Sơn ngày nay), Phú Lệ, Tam Chung, Quang Chiểu... Đế quốc Mỹ đã cho máy bay thả xuống các chòm, bản trong huyện hàng vạn tờ truyền đơn và các loại bạc giả... Lợi dụng tội ác của giặc Mỹ các phần tử xấu đã tiến hành các hành động trộm cắp, tham ô, buôn lậu, giết người, cờ bạc.
Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã phối hợp với bộ đội, công an vũ trang đánh địch gần 200 trận lớn nhỏ, nhiều trận chiến ác liệt đã diễn ra ở Na Sài, Pha Lò, Sơn Điện, Phú Lệ, Tam Chung... Đặc biệt ngày 10/02/1966, quân dân các xã Trung Hạ( ) và Tam Lư trực chiến tại cầu Pha Lò đã bắn cháy 1 máy bay F105 của Mỹ nhưng không rơi tại chỗ mà bay về phía nước Lào. Ngày 14/5/1967, dân quân xã Phú Lệ “nối dài nòng súng” trên đỉnh núi, bắn rơi thêm 1 máy bay F105, bắt sống giặc lái nhảy dù. 
Qua 4 năm liên tục vừa sản xuất vừa chiến đấu, quân và dân Quan Hóa đã góp phần bắn rơi 2 máy bay giặc Mỹ, bắn bị thương 30 chiếc. Tại Đại hội Công - Nông - Binh toàn tỉnh, Quan Hóa được báo cáo điển hình, xã Phú Lệ được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba, xã Quang Chiểu trở thành lá cờ đầu bảo vệ trị an; Đơn vị 188 được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba... Phong trào thanh niên tình nguyện nhập ngũ được hưởng ứng trên diện rộng. Các xã trong huyện đều hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân hàng năm. Nhiều thanh niên viết đơn bằng máu xin được tòng quân chiến đấu. Các chi hội Phụ lão, Phụ nữ huyện luôn làm tốt công tác vận động người thân lên đường ra tiền tuyến và tham gia chăm sóc gia đình thương binh, liệt sỹ( ).
Đóng góp của quân dân Quan Hóa nói chung, Quan Sơn nói riêng đã góp phần làm thất bại Chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, ngày 1/11/1968, Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá miền Bắc.
Trên mặt trận sản xuất, ngay từ cuối năm 1965, thực hiện chủ trương chuyển hướng của tỉnh, Huyện ủy và Ủy ban Hành chính huyện đã chỉ đạo các cơ sở kinh tế chuyển hướng sản xuất từ thời bình chuyển sang thời chiến để phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh. Trong những năm tiến hành vừa sản xuất vừa chiến đấu, Huyện ủy vẫn liên tục lãnh đạo và phát động các phong trào thi đua như đuổi kịp và vượt Hợp tác xã Đông Phương Hồng (huyện Thọ Xuân). Đặc biệt, khi Tỉnh ủy phát động phong trào thi đua “ba giỏi”( ), cán bộ, công nhân, viên chức, xã viên ở Quan Hóa đã sôi nổi thi đua, hình thành các phong trào “tay cày tay súng”, “tay búa tay súng”, “tiếng hát át tiếng bom”...
Ngày 3 tháng 9 năm 1967, Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ VI được tổ chức tại bản Khó, xã Hồi Xuân. Đại hội đã ra nghị quyết cho 2 năm: 1968 - 1969 là: “Phấn đấu trở thành một huyện giàu có về kinh tế, vững chắc về chính trị, mạnh mẽ về quốc phòng”, đề ra các mục tiêu “5 tấn thóc, 10 tấn sắn/ha/năm; 3 lợn thịt/hộ; 100 tấn cánh kiến/năm...
Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa VI gồm 21 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lương Văn Họi được bầu lại làm Bí thư; đồng chí Hà Văn Cao và Ngân Thị Nhơn được bầu làm Phó Bí thư.
Vượt lên muôn vàn khó khăn, Đảng bộ đã lãnh đạo chính quyền và các tổ chức đoàn thể cũng như nhân dân trong toàn huyện thực hiện tốt nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VI.
Cuối năm 1968 gần 80% diện tích lúa được cấy thẳng hàng, nhiều phụ nữ các xã: Phú Lệ, Trung Thượng, Sơn Lư, Sơn Điện... đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Công nhân và công đoàn huyện đã nêu cao khẩu hiệu “tay búa tay súng”, đẩy mạnh sản xuất và các hoạt động khác. Hàng trăm đoàn viên thanh niên tham gia xây dựng các công trình thủy lợi và mở đường giao thông. Trên mặt trận văn hóa - xã hội, sự nghiệp giáo dục, đến năm 1968, cả 23 xã trên địa bàn huyện đều có trường cấp I, trong đó có 9 xã có trường cấp II. Ngoài ra huyện còn được ưu tiên mở hai trường Bổ túc văn hóa cho cán bộ, một trường sư phạm 4 + 3. Đặc biệt, trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng huyện vẫn chú ý mở lớp học Chính trị cũng như nghiệp vụ chuyên môn. Nhờ đó, năm học 1967 - 1968 có 8 trường đạt tiêu chuẩn trường chống Mỹ cứu nước. Các hoạt động y tế, văn hóa thông tin đều có những bước tiến vượt bậc.
Từ năm 1969 đến năm 1972, đây là thời kỳ nhân dân miền Bắc tiến hành kháng chiến chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ. Sự kiện lịch sử quan trọng đối với đồng bào các dân tộc Quan Hóa giai đoạn này là Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng bộ Quan Hóa, được tổ chức vào tháng 4 năm 1969, tại Bó Lót, bản Khằm, xã Hồi Xuân. Tham dự Đại hội có 120 đại biểu thay mặt cho hơn 1.400 đảng viên trong toàn huyện.
Đại hội khẳng định trong hơn một năm qua, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Quan Hóa đã đạt được những kết quả quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu. Về chiến đấu: “Trong tháng Giêng 1968, không quân ta đã bắn rơi 1 máy bay trinh sát, quân dân các xã Nam Động, Thiên Phủ đã phối hợp bắt sống 4 tên giặc lái, sau đó ta lại bố trí bắn bị thương 1 chiến trực thăng”( ). Đại hội xác định nhiệm vụ chính trị của huyện là: “Thực hiện tốt cuộc vận động định canh, định cư để đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống nhân dân các dân tộc, góp phần vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội của miền Bắc, đưa phong trào huyện tiến kịp với phong trào chung trong tỉnh, Phấn đấu thành huyện đạt 5 tấn thóc trên ha để góp phần mau được đón Bác Hồ về thăm tỉnh ta”. Đại hội đã chỉ ra những biện pháp cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ chính trị đề ra. 
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa VII gồm 21 đồng chí, đồng chí Lương Văn Họi được tái cử Bí thư; đồng chí Phạm Văn Khánh được bầu làm Phó Bí thư thường trực, đồng chí Lương Chí Ên được bầu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền.
Chấp hành Nghị quyết 38 - CP của Hội đồng Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy Ban hành chính tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành mạnh mẽ cuộc vận động định canh, định cư kết hợp với hợp tác hóa ở miền núi, từ tháng 12 năm 1968. Việc khảo sát điều tra được khẩn trương xúc tiến từ tháng 1 năm 1969 đến tháng 5 năm 1970, Tỉnh xác định toàn bộ 23 xã của Quan Hóa đều thuộc diện đưa vào cuộc vận động. Đợt một, từ tháng 8 năm 1970 đến tháng 1 năm 1971, tiến hành ở Quang Chiểu, Tam Chung, Hiền Kiệt, Hiền Trung. Đợt hai, từ tháng 2 năm 1971 đến tháng 8 năm 1971, vận động ở các xã: Trung Sơn, Trung Thành, Phú Nghiêm, Phú Lệ, Phú Xuân. Đợt ba, từ tháng 9 năm 1971 đến tháng 4 năm 1972 vận động ở Tam Lư, Sơn Điện, Sơn Thủy( ).
Cũng trong thời gian này, phong trào làm đường giao thông của huyện diễn ra rất sôi nổi. Đảng bộ huyện đã đề ra chủ trương, phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tham gia công tác giao thông với tinh thần tự lực, tự cường là chính. Đường liên thôn, liên bản thì do hợp tác xã chủ động tiến hành. Đường liên xã do xã tiến hành. Hệ thống đường giao thông được mở rộng. Số km đường liên huyện, đường liên thôn trong cuộc vận động là 350km, trong đó có 200km đường ô tô.
Về giáo dục, hầu hết các trường trong huyện đều có kế hoạch để hưởng ứng cuộc vận động Định canh định cư một cách thích hợp và phù hợp với điều kiện, khả năng của mình. Số giáo viên các cấp học được đào tạo cơ bản ngày càng tăng, đáp ứng yêu cầu của các cấp học. Giáo viên là người dân tộc trong các năm học 1974 - 1975 tăng nhanh.
Qua cuộc vận động Định canh định cư, nề nếp chỉ đạo của Ban quản trị, vai trò làm chủ của xã viên, hợp tác xã được nâng cao một bước về cải tiến quản lý. Nhiều hợp tác xã từ chỗ hoạt động rời rạc đã thực hiện sự phân công lao động, bố trí cân đối ngành nghề, tổ chức được những đội chuyên nghiệp như: khai thác, chăn nuôi, kiến thiết, khai hoang, thủy lợi... Nhiều hợp tác xã đã chuyển biến mạnh mẽ về chất: từ 68 hợp tác xã bị đánh giá yếu kém, đến năm 1971 chỉ còn 49 hợp tác xã, số hợp tác xã được xếp loại khá, tăng từ 69 lên 88 hợp tác xã, tỷ lệ hợp tác xã yếu kém giảm từ 30,8% xuống còn 21,3%. Trong cuộc vận động, huyện đã thành lập được 4 hợp tác xã mới.
Tháng 3 năm 1971, tại xã Hồi Xuân, đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VIII. Đại hội đã quyết định phương hướng, nhiệm vụ trước mắt và lâu dài cho Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện: “xây dựng một huyện giàu có về nghề rừng, phát triển các loại cây công nghiệp, đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính. Về lương thực phấn đấu tự túc trong huyện”. Đại hội đã đề ra ba nhiệm vụ chính trị cụ thể về kinh tế, chiến đấu và tổ chức đời sống. Phát động 2 phong trào thi đua (phong trào học tập văn hóa, khoa học kỹ thuật và phong trào lao động sản xuất thật sôi nổi).
Từ ngày 21 đến ngày 29 tháng 5 năm 1972, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IX đã diễn ra tại trụ sở Huyện ủy (thị trấn Quan Hóa hiện nay). Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện, khả năng của huyện, Đại hội xác định nhiệm vụ phấn đấu trong những năm tới, cụ thể là trong những năm 1972 - 1973: phải “Tập trung phát huy 3 thế mạnh: nghề rừng, cây công nghiệp và chăn nuôi mà trọng tâm là nghề rừng. Lương thực phấn đấu tới mức cao nhất theo điều kiện của mình một cách hợp lý để làm cơ sở phát huy 3 thế mạnh, đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính để từng bước tiến lên xây dựng một huyện “khá về kinh tế, vững chắc về chính trị, mạnh mẽ về quốc phòng”.
Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa IX gồm 21 đồng chí. Ban Thường vụ gồm 7 đồng chí. Đồng chí Lương Chí Ên được bầu tái cử làm Bí thư, đồng chí Cao Ngọc Chinh, Ủy viên Thường vụ trực Đảng, đồng chí Hà Văn Cao, Phó Bí thư phụ trách chính quyền.
Đại hội đã ra lời kêu gọi và phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tiếp tục thực hiện 4 phong trào: Phong trào tòng quân chống Mỹ, cứu nước; phong trào làm thủy lợi và khai hoang; phong trào chăn nuôi và làm phân bón; phong trào học tập văn hóa, khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế.
Từ năm 1972 đến năm 1975, đây là giai đoạn Đảng bộ và nhân dân Quan Hóa tiến hành khôi phục phát triển kinh tế, văn hóa, góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, ra sức chi viện cho miền Nam, đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.
Mặc dù tuyên bố chấm dứt ném bom phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ dã tâm và các hành động xâm lược nước ta. Đối với Miền Nam, chúng triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”; đối với miền Bắc, chúng vẫn thường xuyên cho máy bay trinh sát, tung gián điệp biệt kích phá hoại... 
Cuối năm 1972, tình hình chiến trường miền Bắc Việt Nam có nhiều thay đổi quan trọng. Thất bại liên tiếp trên mặt trận quân sự đẩy đế quốc Mỹ vào tình thế vô cùng khó khăn. “Để cứu vãn tình thế, Chính phủ Mỹ đã trắng trợn lật lọng, tìm cách xóa bỏ bản dự thảo Hiệp định Pa - ri đã thỏa thuận với ta, đòi ta phải sửa chữa 126 điểm mà trước đó phía Mỹ đã hoàn toàn nhất trí. 
Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, Quan Hóa tuy không trong vùng trọng điểm đánh phá của địch nhưng là vùng trọng yếu về quân sự nên đế quốc Mỹ đã dùng trên 500 lần máy bay bắn phá vào 7 điểm với hàng trăm tấn bom đạn, trong đó có cả bom vi trùng khiến nhiều người dân trong huyện bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và chỉ đạo của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, các đơn vị dân quân tự vệ, bộ đội địa phương trong huyện đã có kế hoạch tác chiến hợp lí. Các dân tộc Quan Hóa nêu cao các khẩu hiệu “vừa sản xuất vừa chiến đấu, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “tay cày, tay súng”, “tay búa, tay súng”... Huyện ủy chỉ đạo thực hiện nghiêm ngặt chế độ phòng không sơ tán, sẵn sàng chiến đấu. Cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện đã đào hàng chục chiến hào giao thông, hàng vạn hầm các loại...; đồng bào ven sông, suối luôn sẵn sàng bè mảng để phòng lụt... Toàn huyện có 14 đội trực chiến ở hầu hết các đường giao thông quan trọng như đường 15A, 217 và các xã giáp biên giới, 4 đài quan sát, 8 đội tuần tra... Các tổ “tay cày tay súng”, “tay búa tay súng” đều được trang bị vũ khí cần thiết như súng trường, trung liên, đại liên( ). Sự chuẩn bị chủ động, chu đáo của quân dân Quan Hóa đã lập nên những thành tích vẻ vang: thêm một chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Quan Hóa. Chiến công của quân và dân Quan Hóa, Quan Sơn đã góp phần cùng quân dân miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ.
3.5.3. Quan Sơn cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 1986)
Trong không khí quân dân cả nước đặc biệt là quân dân miền Nam tập trung sức lực mở Chiến dịch Hồ Chí Minh tiến công vào sào huyệt cuối cùng của Mỹ - ngụy, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ X đã diễn ra vào ngày 11/4/1975. Đại hội đã đánh giá cao những kết quả mà quân dân trong huyện đạt được trong nhiệm kỳ, đồng thời biểu dương tinh thần hy sinh, nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và quân dân các dân tộc trong huyện vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu, chi viện sức người, sức của góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa X gồm 23 đồng chí, đồng chí Lương Chí Ên được tái cử làm Bí thư, đồng chí Hà Văn Cao được bầu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền, đồng chí Cao Ngọc Chinh được bầu làm ủy viên Thường vụ trực Đảng.
Ngày 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, sự nghiệp chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn. Trong chiến công chung đó, Đảng bộ và nhân dân Quan Hóa, Quan Sơn tự hào vì đã có những đóng góp đáng kể về sức người, sức của cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước.
Do yêu cầu và hoàn cảnh mới nên ngày 10/3/1976, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XI đã diễn ra.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 23 đồng chí, đồng chí Lương Chí Ên tiếp tục được bầu làm Bí thư, đồng chí Hà Văn Cao được bầu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền, đồng chí Bùi Minh Đông được bầu làm Ủy viên Thường vụ, trực Đảng.
Nhằm đưa nghị quyết Đại hội vào cuộc sống, toàn huyện dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất, thực hiện tiết kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, tổ chức từng đợt thi đua với khẩu hiệu: “Dậy sóng từng đợt, dứt điểm từng khâu quyết thắng trận đầu”. Mở đầu là đợt thi đua tập trung lực lượng làm vụ thu và mùa năm 1976, sau đó là các đợt làm thủy lợi, khai hoang, phục hóa, trồng màu và học tập. Sôi nổi nhất là đợt thi đua đồng khởi ra quân khai hoang, phục hóa, mở rộng diện tích gieo trồng. Kết quả sau đợt khai hoang, phục hóa đã đạt 525ha, tăng gấp 5 lần so với năm 1976, các đơn vị tích cực làm đã hoàn thành chỉ tiêu khai hoang, phục hóa trước thời hạn là các xã Sơn Lư, Sơn Thủy, Hồi Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng... Năm 1977, tổng sản lượng lương thực năm 1977 đạt 15.097 tấn quy thóc, các hợp tác xã đều hoàn thành kế hoạch.
Từ năm 1975 đến năm 1985, thi hành Chỉ thị số 02, ngày 15/2/1977 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Ban Thường vụ Huyện ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành tập trung củng cố các hợp tác xã hiện có. Căn cứ vào đặc điểm địa hình, đất đai huyện nhà, Thường vụ Huyện ủy Quan Hóa đề ra chủ trương: tùy đặc điểm của từng vùng để xác định phương hướng cho từng hợp tác xã. Do ruộng đất phân tán theo từng thung lũng, không có xen canh, các chòm bản thường ở xa nhau, trình độ quản lý của Ban Chủ nhiệm lại có hạn, nên không tổ chức các hợp tác xã quy mô lớn được. Trường hợp có công việc cần nhiều lao động như làm thủy lợi, khai hoang lớn thì tổ chức phối hợp, trao đổi hợp tác lao động giữa các hợp tác xã liên quan. Nhờ sự chỉ đạo sát sao, kịp thời, đồng bào các dân tộc Quan Hóa đã giành được nhiều thắng lợi:
Trồng trọt, chăn nuôi: diện tích gieo trồng lúa đạt 2.936,36ha (99,5% kế hoạch, tăng 20% so với năm 1976); diện tích trồng sắn đạt 2.856,6ha (tương đương 158,5% so với kế hoạch, tăng gấp rưỡi so với năm 1976); các loại rau màu khác đều vượt chỉ tiêu kế hoạch trên giao. Các hợp tác xã đều hoàn thành nghĩa vụ lương thực đối với Nhà nước. Một số hợp tác xã còn giành một phần lương thực hỗ trợ cho các vùng mất mùa ở miền xuôi. Số lượng đàn gia súc, gia cầm và thủy sản đều vượt kế hoạch đề ra.
Về lâm nghiệp, thực hiện Quyết định 184/CP, toàn huyện đã hoàn thành việc giao đất, giao rừng cho các hợp tác xã và lâm trường. Đã có 96 vườn cây giống được xây dựng. Huyện còn tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ rừng trong nhân dân các dân tộc. Kết quả là năm 1977, riêng diện tích trồng luồng đã đạt 2.629,7ha (tương đương 175% so với kế hoạch và tăng hơn 9% so với năm 1976), việc tu bổ rừng luồng đã đạt 105% so với kế hoạch. Đồng thời huyện còn ươm được 1.200kg hạt giống cây chủ thả cánh kiến để mở rộng diện tích vào các năm sau. 
Sau hai kỳ Đại hội( ), năm 1981, huyện Quan Hóa bước vào thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm (1981 - 1985). 
Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, đồng bào các dân tộc Quan Hóa đã cùng cả tỉnh khắc phục hậu quả 2 cơn bão (bão số 6 năm 1980 và bão số 2 năm 1981). Nhân dân Quan Hóa phát huy truyền thống tương thân, tương ái, hỗ trợ hàng trăm tấn lương thực và hàng ngàn cây luồng cho các vùng bị thiệt hại nặng ở các huyện miền xuôi.
Trên mặt trận kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp, nhờ thực hiện cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động theo tinh thần Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nên diện tích, năng suất và sản lượng lương thực đã đạt chỉ số cao nhất so với các năm về trước và đời sống nhân dân được cải thiện, thành tựu của ngành Vật tư nông nghiệp đạt 138% kế hoạch đề ra, ngành Thương nghiệp thực hiện doanh số bán ra đạt 104,8%, mua vào đạt 155,9% so với kế hoạch, tăng hơn so với năm 1980 là 277%. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành, các mặt hoạt động và đời sống nhân dân đều có bước chuyển biến tích cực( ).
Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ XIV diễn ra từ ngày mùng 1 đến mùng 6 tháng 1 năm 1982 (đợt 1) và từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 1 năm 1983 (đợt 2). Tại Đại hội, các đại biểu quan tâm, bàn nhiều đến việc tiếp tục chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động và công tác xây dựng Đảng bộ huyện trong sạch vững mạnh. 
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tổ chức triển khai việc thi hành Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng trong toàn huyện. Tiếp đó, ngày 23/10/1983, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện ra Nghị quyết 04 - NQ/HU về việc sửa chữa những lệch lạc trong việc thi hành Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp. Nghị quyết đề ra những chủ trương, biện pháp cấp bách: phải tiếp tục quán triệt, nắm vững nội dung và nghiêm túc thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; kiên quyết sửa chữa những lệch lạc sai sót trong công tác khoán và quản lý hợp tác xã; phát huy vai trò động lực của chế độ khoán mới. Trên cơ sở đó, chuẩn bị và đẩy mạnh sản xuất ngay trong vụ chiêm xuân năm 1984. Vận dụng cụ thể Thông tư hướng dẫn số 01, ngày 28/2/1983 của Bộ Nông nghiệp, tổ chức thực hiện chế độ khoán mới đối với các ngành nghề, nhất là nghề rừng. Nghị quyết 04 - NQ/HU cũng quy định rõ trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các tổ chức Đảng, chính quyền, các ban, ngành, các cấp, các đoàn thể và các hợp tác xã trên địa bàn huyện.
Giai đoạn 1975 - 1985 là thời kỳ đồng bào các dân tộc Quan Hóa phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách nhưng Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Quan Hóa, trong đó có nhân dân các dân tộc Quan Sơn đã không ngừng phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng để vượt qua mọi khó khăn, góp phần cùng nhân dân miền Bắc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3.5.4. Quan Sơn trong giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 1996)
Ngay từ đầu năm 1986, Đảng bộ Quan Hóa đã ban hành Nghị quyết về “Tổ chức thực hiện Nghị quyết 28 của Thường vụ Tỉnh ủy, thi hành Chỉ thị 79, 80 của Ban Bí thư Trung ương Đảng”. Trong đợt sinh hoạt chính trị này, huyện đã chọn các xã: Phú Lệ, Hồi Xuân và Nam Động làm điểm chỉ đạo. Quá trình tổ chức chỉ đạo đã tạo được sự đoàn kết, nhất trí. Thông qua đó, đại bộ phận đảng viên đã phát huy được tinh thần: nói thẳng, nói thật, nói hết, nói đúng, tập trung vào ba nội dung chủ yếu là: phẩm chất cách mạng, phong cách lãnh đạo, chính sách cán bộ.
Ngày 20/11/1986, Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ XV đã được tiến hành tại Hội trường lớn của huyện. 150 đại biểu đại diện cho trên 1.400 đảng viên từ các đảng bộ, chi bộ cơ sở tham dự Đại hội. 
Đại hội đã thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến vào bản dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa. Sau khi nghe Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIV, các đại biểu đã tỏ rõ sự nhất trí, đồng thời vạch ra những phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp lớn của huyện trong những năm 1987 - 1990: Tập trung khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của huyện, xây dựng huyện có cơ cấu nông - lâm - công nghiệp hợp lý, có nhiều sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng xuất khẩu... Phải từ lương thực, nghề rừng, xuất khẩu, nhanh chóng phát triển sản xuất hàng hóa phong phú, đa dạng mà đi lên ( ).
Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực trạng của đất nước, năm 1986, tại Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã quyết định tiến hành sự nghiệp đổi mới sâu sắc toàn diện.
Được sự định hướng của Trung ương Đảng, để thực hiện ba chương trình kinh tế lớn, đặc biệt là chương trình lương thực, thực phẩm, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và Thường vụ Huyện ủy đã tổ chức xây dựng phương án đẩy nhanh phát triển nông nghiệp, chăn nuôi. Huyện ủy chỉ đạo các hợp tác xã nông nghiệp thực hiện tốt Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Các hợp tác xã (Thiên Phủ, Hiền Kiệt, Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Điện, Tén Tằn, Quang Chiểu, Phú Nghiêm) đã đưa vào sử dụng các giống ngô, lúa mới có năng suất cao, chiếm tới 75 - 80% diện tích. Ngoài lúa, các hợp tác xã còn trực tiếp lãnh đạo xã viên mở rộng diện tích trồng hoa màu: sắn, ngô, khoai, dong giềng, củ, quả các loại. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi được chú ý thay đổi theo hướng sản xuất hàng hóa. Đặc biệt, huyện đã quyết tâm đưa cây ngô vào trồng thử nghiệm ở các xã vùng cao và đã thu được kết quả rất tốt.
Về sản xuất nông nghiệp, do mạnh dạn sản xuất thâm canh cây lúa nước, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa giống mới vào sản xuất nên năm 1986, tổng sản lượng lương thực quy thóc của huyện đã đạt tới 22.090 tấn.
Chăn nuôi ngày càng phát triển, tổng đàn trâu năm 1986 có 7.431 con, năm 1987 (đến tháng 10) đã có 7.557 con (bằng 124% so với kế hoạch). Tỷ lệ đàn lợn vẫn được giữ vững và áp dụng kỹ thuật, giống vào chăn nuôi lợn lai kinh tế. Phong trào nuôi thả cá ở các vùng, các gia đình phát triển mạnh, kể cả vùng cao. Hàng năm, huyện nhập hàng trăm tấn cá cho các hợp tác xã.
Về lâm nghiệp, đồng bào các dân tộc Quan Hóa ngày càng nâng cao ý thức bảo vệ rừng. Trong 2 năm, huyện đã giao 157.105ha rừng và đất rừng cho 1.631 hợp tác xã, ba lâm trường và 7.343 hộ gia đình xã viên. Cây luồng đã trở thành sản phẩm hàng hóa, tạo nguồn vốn, thúc đẩy việc xây dựng một số cơ sở vật chất kỹ thuật trong huyện.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản đã có những tín hiệu khả quan. Tổng giá trị tiểu thủ công nghiệp 2 năm đạt 17.511.000 triệu đồng. Sản phẩm chủ yếu là công cụ cầm tay, vật liệu xây dựng. Một số ngành được mở ra như xay xát nông sản, mây tre đan, tăm mành, xuất khẩu...
Trong xây dựng cơ bản, được sự hỗ trợ của Nhà nước, huyện đã vận động nhân dân thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Năm 1987, huyện đã xây dựng được Trạm giống cây số 10, nhà chụp phim X quang của bệnh viện. Năm 1988, huyện thực hiện chủ trương cắt giảm đầu tư xây dựng cơ bản với những công trình chưa cấp thiết, tập trung cho những công trình trọng điểm, sớm phát huy tác dụng, phục vụ ba chương trình kinh tế.
Hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa: năm 1987, Thường vụ Huyện ủy ra Nghị quyết 05 về một số công tác cấp bách về giáo dục phổ thông và mẫu giáo, nhà trẻ. Các cấp ủy đảng, chính quyền và ngành Giáo dục đã quán triệt và tổ chức thực hiện. Trong hai năm, huyện đã xây dựng thêm được 20 phòng học. Ngoài ra, huyện còn mở được hai lớp dạy nghề mây tre đan và nghề mộc cho 60 học sinh học nghề. 
Ngành y tế đã tổ chức các đợt tiêm phòng cho nhân dân, kịp thời ngăn chặn bệnh lây lan ở một số vùng. 
Công tác văn hóa - thông tin, chiếu bóng, truyền thanh đã hướng vào việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ của địa phương, chú ý đến việc xây dựng nếp sống văn hóa mới.
Hoạt động an ninh - quốc phòng: Huyện ủy chỉ đạo phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc. Hàng năm, các xã đều hoàn thành nhiệm vụ gọi thanh niên nhập ngũ. Huyện đội duy trì chế độ chỉ huy, trực chiến ở các cơ quan và các trung đội mạnh để sẵn sàng xử lý các tình huống, thường xuyên chấn chỉnh lực lượng dân quân tự vệ và quân dự bị động viên. Huyện đội cùng với Công an huyện đã tiến hành thu hồi vũ khí, vật liệu nổ.
Giai đoạn này, các đơn vị hành chính của huyện có sự thay đổi lớn. Theo Quyết định số 04/HĐBT ngày 5/1/1987 của Hội đồng Bộ trưởng chia xã Hồi Xuân thành 2 đơn vị hành chính là xã Hồi Xuân và thị trấn Quan Hóa; ngày 29/2/1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 19/HĐBT chia các xã: Phú Nghiêm thành 2 xã: Phú Nghiêm và Xuân Phú; Phú Xuân thành 2 xã là Phú Xuân và Thanh Xuân.
Chia xã Phú Lệ thành 3 xã là: xã Phú Lệ, xã Phú Sơn và Phú Thanh;
Chia xã Sơn Lư thành 2 xã là: Sơn Lư và Sơn Hà.
Chia xã Trung Thành thành 2 xã là: Trung Thành và Thành Sơn;
Chia xã Tam Lư thành 2 xã là: Tam Lư và Tam Thanh.
Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ XVI được tổ chức ngày 6/1/1989 tại Hội trường UBND huyện. Đại hội đã đánh giá những kết quả mà nhân dân toàn huyện đạt được trong nhiệm kỳ XV trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh - quốc phòng và xây dựng Đảng. Bên cạnh những ưu điểm đó vẫn còn tồn tại những khuyết điểm như: sản xuất nông lâm nghiệp còn chậm chuyển biến về năng suất, sản xuất còn trong tình trạng quảng canh, tự túc tự cấp, sản phẩm hàng hóa ít; việc thực hiện đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp còn hạn chế. Trên cơ sở đó, Đại hội đã vạch ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội những năm 1989 - 1991 là: Giải phóng mọi năng lực sản xuất để giải quyết tốt vấn đề lương thực, phát triển sản xuất hàng hóa trên cơ sở tiềm năng sẵn có, từng bước khắc phục sản xuất tự túc, tự cấp, giải quyết tốt vấn đề học hành sức khỏe, đi lại của nhân dân, đảm bảo giữ vững an ninh - quốc phòng, giữ vững và phát huy tình đoàn kết giữa các dân tộc và tình hữu nghị láng giềng giữa nhân dân hai bên biên giới Việt - Lào anh em( ).
Quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI cũng là thời điểm Huyện triển khai Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế khoán trong các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Đây là giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ, thực hiện cơ chế khoán mới, cơ chế quản lý mới, đưa hộ gia đình, xã viên trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó yên tâm đầu tư, thâm canh trên diện tích đất mình được giao. Trong năm 1989, toàn huyện thu hoạch được 22.609 tấn lương thực, bình quân đầu người 286kg. Chăn nuôi tiếp tục phát triển đồng đều, nhất là số lượng đàn bò đã tăng lên đến 20.000 con. Việc đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá đã trở thành phong trào trong nhân dân. Tính ra, bình quân sản lượng hàng năm của thời kỳ 1986 - 1990 đã có những bước tiến vượt bậc: sản lượng lương thực đạt 18.372 tấn, năng suất vụ chiêm đạt 19,6 tạ/ha; lúa mùa đạt 13,6 tạ/ha. Sản lượng sắn đạt 28.952 tấn, ngô đạt 933 tấn; sản lượng rau đạt 338 tấn; đậu tương đạt 22,5 tấn... Tổng đàn trâu là 8.259 con, đàn bò là 13.026 con, đàn lợn là 19.699 con. Diện tích trồng rừng (chủ yếu là luồng) hàng năm đạt 178ha, khai thác luồng 1,02 triệu cây và 500.000 cây nứa( ).
Nhìn chung, sau 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Quan Hóa đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo tiền đề cho giai đoạn 1991 - 1995.
Bước vào những năm đầu thập kỷ 90, bối cảnh quốc tế có những diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng bất lợi cho cách mạng nước ta. Trên địa bàn Quan Hóa, mặc dù đã có nhiều thành tích trong lao động sản xuất nhưng nhìn chung, đời sống nhân dân các dân tộc vẫn rất khó khăn, tình trạng học sinh bỏ học còn nhiều, mạng lưới an ninh nhân dân vẫn còn mỏng.
Ngày 30/10/1991, tại hội trường Ủy ban nhân dân huyện Quan Hóa, 150 đại biểu thay mặt cho trên 2.300 đảng viên đã tiến hành Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII (vòng 2). Sau khi đánh giá những kết quả quân dân trong huyện đạt được trong nhiệm kỳ qua và nêu ra những hạn chế cần khắc phục để đưa ra phương hướng phấn đấu trong nhiệm kỳ mới; Đại hội đã bầu Ban Chấp hành khóa XVII gồm 33 đồng chí, đồng chí Lò Văn Quyn được bầu làm Bí thư, đồng chí Hà Văn Duyệt được bầu làm Phó Bí thư thường trực, đồng chí Hà Văn Thương được bầu làm Phó Bí thư phụ trách chính quyền.
Thời gian thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII cũng là thời gian vận dụng, cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIII vào tình hình thực tế của địa phương. Với kinh nghiệm quý báu đã tích lũy được sau 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Hóa đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách, phát huy thuận lợi để hoàn thành cơ bản các mục tiêu Đại hội XVII đã đề ra.
Về kinh tế: Đảng bộ huyện đã triển khai kịp thời và vận dụng sáng tạo cơ chế quản lý kinh tế mới, phù hợp với đặc điểm của huyện nhà. Minh chứng rõ nhất là cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch đúng hướng, theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác được thế mạnh của huyện, xóa bỏ dần sản xuất tự cấp, tự túc. Tỷ trọng ngành nông nghiệp đang giảm dần, so với giai đoạn 1986 - 1990, tỷ trọng ngành nông nghiệp đã giảm từ 70% xuống còn 60%, ngược lại, ngành lâm nghiệp từ chỗ chỉ chiếm 15% đã tăng lên 20%; tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ cũng tăng từ 15% lên 20%.
Sản lượng lương thực hàng năm tăng bình quân 6,8% và đạt bình quân 20.000 tấn/năm. Năng suất lúa bình quân đạt 32 tạ/ha, năm cao nhất đạt 37 tạ/ha. Bình quân lương thực hàng tháng đạt 20kg/người, về căn bản đã giải quyết được nhu cầu lương thực của nhân dân. Cơ cấu mùa vụ chuyển dần theo hướng đa dạng, từng bước tạo nền nông nghiệp đa cây, đa con, đa loại hình. Trên một số địa bàn đã phát triển mạnh các cây công nghiệp ngắn ngày như: đậu tương, dâu tằm, bông, chè, cây ăn quả... Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày bình quân hàng năm đạt 300ha, năm cao nhất đạt 513ha, cao gấp 2 lần so với giai đoạn 1986 - 1990, mở ra tiềm năng về sản xuất hàng hóa.
Chăn nuôi: trong 5 năm, số lượng đàn gia súc, gia cầm không ngừng tăng nhanh, tỷ trọng ngành chăn nuôi đã chiếm từ 25 - 30% tỉ trọng nông nghiệp. Nhân dân trong huyện đã xác định phát triển chăn nuôi cũng là một biện pháp hiệu quả để tạo ra sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo. Tính đến tháng 3 năm 1996, đàn trâu, bò của huyện đạt 30.000 con, bình quân mỗi hộ có 3 con trâu bò, tăng 12,2% so với giai đoạn 1986 - 1990.
Nét nổi bật trong sản xuất lâm nghiệp là từ khi có chủ trương giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp thì công tác chăm sóc, bảo vệ, trồng rừng mới được đẩy mạnh. Trong 3 năm (1994 - 1996), huyện đã tiến hành giao đất, giao rừng cho 3.600 hộ với diện tích 10.000ha, trồng mới được 500ha rừng tập trung và hàng ngàn cây phân tán. Một số mô hình làm kinh tế vườn rừng (nhất là rừng luồng) đã mang lại hiệu quả từng bước phủ xanh đất trống đồi trọc.
Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại đã và đang có bước phát triển. Giá trị hàng hóa mỗi năm tăng 5,2%. Các điểm trao đổi, mua bán hàng hóa ngày càng mở rộng, nhất là trên các trục giao thông và trung tâm điểm kinh tế. Ngoài chợ thị trấn, huyện đã củng cố xây dựng mới các chợ: Na Mèo, Tén Tằn. Một số điểm giao thương đã hình thành và phát triển như các điểm ở Km 62, Km 22, Km 35 (đường 217), ở Nam Tiến, Nam Động, trên tuyến sông Luồng, Pom Buôi, Phú Lệ...
Về văn hóa - xã hội: các cấp ủy đảng và chính quyền coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Trong 5 năm (1991 - 1995), đời sống nhân dân trong huyện nhìn chung đã ổn định và mức sống đã tăng cao hơn trước. Số hộ kinh tế khá chiếm 14%, số hộ kinh tế trung bình chiếm 74%. Đến đầu năm 1996, toàn huyện có 34% số hộ có điện sinh hoạt, 5% số hộ có xe máy, 3% số hộ có máy thu hình. Với sự giúp đỡ của Nhà nước và nguồn vốn của địa phương, huyện đã xây dựng hoàn chỉnh công trình đường điện 35KV; năm 1992 người dân đã được xem truyền hình.
Về giáo dục - y tế: Đến cuối năm 1995, toàn huyện có 22.000 học sinh (bình quân cứ 4 người dân có 1 người đi học). Các ngành học phát triển cân đối, tỷ lệ học sinh đến trường và lên lớp ngày càng tăng, chất lượng dạy và học được nâng lên từng bước. Hầu hết các trường học đã được xây dựng kiên cố, không còn tình trạng học ca 3. Huyện đã xây dựng được hai trường cao tầng. 
Tuy cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, nguồn thuốc chữa bệnh còn thiếu, nhưng mạng lưới y tế từ huyện xuống cơ sở đã được củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động. Các loại dịch bệnh, đặc biệt là bệnh sốt rét đã giảm đáng kể. Năm 1995, bình quân giá trị tiền thuốc cho 1 người dân đã tăng 8 lần so với năm 1991, việc cấp thuốc theo Chương trình 156 đạt gần 2 tỷ đồng.
Ngày 19/2/1994, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Quan Hóa quyết định thành lập Ủy ban Dân số kế hoạch hóa gia đình huyện. Nhờ đó, số người trong độ tuổi sinh đẻ tự nguyện thực hiện các biện pháp tránh thai ngày càng tăng lên, tỉ lệ gia đình sinh con thứ 3 ngày càng giảm xuống. Tăng dân số tự nhiên đã giảm từ 2,54% (năm 1990) xuống còn 2,3% (năm 1995). Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em được triển khai trên diện rộng; tỉ lệ trẻ tiêm chủng mở rộng đạt 87,7%.
Các hoạt động thông tin, truyền thông đã góp phần đắc lực vào việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao dân trí cho nhân dân. Hoạt động thể dục - thể thao được duy trì và phát triển ở các trường phổ thông và các chòm, bản, tạo nên phong trào sâu rộng, góp phần bảo vệ sức khỏe, tăng cường thể lực cho nhân dân. Đặc biệt, trong các ngày lễ lớn (như trong năm 1995), các hoạt động văn hóa được tổ chức rất sôi nổi và phong phú. Thực hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, trong 5 năm (1991 - 1995), toàn huyện đã dấy lên các phong trào đền ơn đáp nghĩa với sự hưởng ứng sôi nổi của đông đảo nhân dân. Các chế, độ chính sách được thực hiện đầy đủ, góp phần giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sỹ giảm bớt khó khăn. Các hoạt động từ thiện, nhân đạo đối với người già cô đơn, trẻ mồ côi... đã được triển khai trên diện rộng.
Về quốc phòng - an ninh: Trong 5 năm (1991 - 1995), Đảng bộ và nhân dân Quan Hóa luôn luôn thực hiện tốt và nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 24/3/1996, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII đã được tiến hành. Đại hội đã đánh giá tổng quát những ưu, khuyết điểm của việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XVII, Đại hội nêu rõ: “Nghị quyết Đại hội XVII đã đi sâu vào cuộc sống, đạt được thành tích tương đối toàn diện, kinh tế phát triển và có nhiều mặt tăng trưởng khá, một bộ phận nhân dân bước đầu có ý thức làm kinh tế hàng hóa, năng động hơn, thích ứng với cơ chế thị trường. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch ngày càng rõ. Thế mạnh từng bước được phát huy, đời sống nhân dân có mặt được cải thiện, văn hóa - xã hội có bước phát triển khá, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới tiến bộ”( ).
Đại hội này được đánh dấu là Đại hội cuối cùng của huyện Quan Sơn (cũ). Sau Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, thực hiện Nghị định 72/CP ngày 18/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ huyện Quan Hóa (cũ) được tách thành 3 huyện là Quan Hóa (ngày nay), Quan Sơn và Mường Lát.
3.6. QUAN SƠN TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (1996 - 2015)
3.6.1. Thành lập huyện Quan Sơn và sự ra đời của Đảng bộ huyện
Ngày 18 tháng 11 năm 1996, huyện Quan Sơn được thành lập theo Nghị định 72/CP của Chính phủ, gồm phần đất của 9 xã huyện Quan Hóa. Từ đây, huyện Quan Sơn chính thức trở thành một đơn vị hành chính của tỉnh Thanh Hóa có hệ thống tổ chức bao gồm 9 xã: Trung Xuân, Trung Thượng, Trung Hạ, Sơn Hà, Tam Thanh, Sơn Thủy, Sơn Lư, Tam Lư, Sơn Điện. Danh xưng Quan Sơn ra đời hàm chứa một ý nghĩa lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển của đồng bào các dân tộc trong huyện. Khi mới chia tách, huyện Quan Sơn có diện tích tự nhiên là 86.534,85ha và 29.952 khẩu. Địa giới huyện Quan Sơn: phía đông giáp huyện Bá Thước và huyện Lang Chánh, phía tây và nam giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía bắc giáp huyện Quan Hóa.
Sau khi trở thành một đơn vị hành chính cấp huyện, yêu cầu thành lập một Đảng bộ để lãnh đạo các dân tộc ở Quan Sơn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội là rất cần thiết trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Ngày 16 tháng 12 năm 1996, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã ra Quyết định số 131/QĐ-TU thành lập Đảng bộ huyện Quan Sơn và Quyết định số 136/QĐ-TU về việc chỉ định Ban Chấp hành Huyện ủy lâm thời huyện Quan Sơn.
Ban Chấp hành Huyện ủy lâm thời gồm 15 đồng chí: Hà Văn Thương, Hà Văn Thông, Phạm Văn Thư, Hà Văn Thống, Trịnh Đình Xu, Lương Hồng Thuân, Hà Chí Nông, Hà Văn Đoàn, Lữ Văn Tự, Hoàng Văn Đại, Lò Đình Múi, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Đồng, Phạm Phú Hào, Lữ Văn Xiệt; Chỉ định và phân công 5 đồng chí ủy viên Ban Thường vụ:đồng chí Hà Văn Thương - Bí thư Huyện ủy; đồng chí Hà Văn Thống - Phó Bí thư thường trực; đồng chí Phạm Văn Thư - Phó Bí thư phụ trách chính quyền; đồng chí Hà Văn Thống - Ủy viên Thường vụ, phụ trách Quân sự huyện; đồng chí Trịnh Đình Xu - Ủy viên Thường vụ, phụ trách Công an huyện.
Trong niềm vui phấn khởi hân hoan, thắm tình đoàn kết, ngày 31/1/1997, Huyện ủy lâm thời UBND lâm thời huyện Quan Sơn ra mắt cán bộ, đảng viên đồng bào các dân tộc trong huyện.
Để xây dựng hoàn thiện bộ máy nhà nước và tổ chức cơ sở Đảng, Huyện ủy lâm thời đã đề nghị các cơ quan chức năng cấp tỉnh cho phép thành lập các tổ chức đoàn thể quần chúng.
Với sự lãnh chỉ đạo tích cực sáng tạo và năng động của Huyện ủy lâm thời nên chỉ trong thời gian ngắn, hệ thống chính trị cấp huyện (HĐND, UBND), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Hội Nông dân, hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ đã được thành lập và từng bước kiện toàn tổ chức bộ máy, bảo đảm hoạt động theo nề nếp.
Bên cạnh đó, Huyện ủy lâm thời đã lãnh đạo Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong huyện xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội tạo ra những điều kiện thuận lợi thúc đẩy kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh - quốc phòng phát triển.
Sau một thời gian chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, nhân sự và cơ sở vật chất từ ngày 26 đến ngày 27 tháng 6 năm 1997 Đảng bộ huyện Quan Sơn đã tiến hành Đại hội lần thứ I. Trong không khí phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội đã đánh giá tình hình hoạt động trong 6 tháng đầu năm 1997 những thành công, hạn chế trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng - an ninh,... đề ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp cho chặng đường phát triển tiếp theo.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 33 đồng chí, Ban Thường vụ 11 đồng chí. Đồng chí Hà Văn Thương được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Hà Văn Thông được bầu làm Phó Bí thư thường trực; đồng chí Phạm Văn Thư được bầu làm Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện.
Thành công của Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ I đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ quê hương; Đảng bộ và nhân dân huyện Quan Sơn đã đoàn kết, chung sức, chung lòng vượt qua khó khăn thách thức, tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh của huyện để xây dựng quê hương, phát triển kinh tế - xã hội, tạo những bước tiền đề cơ bản đưa huyện Quan Sơn hòa nhập trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3.6.2. Quan Sơn thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997 - 2000)
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế của nước ta tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững, đất nước cơ bản đã ra khỏi khủng khoảng kinh tế - xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng quyết định chuyển đất nước ta vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong bối cảnh chung của đất nước và của tỉnh Thanh Hóa bước vào thời kỳ mới, huyện Quan Sơn bước vào thời kỳ này với điểm xuất phát thấp và phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách vì huyện vừa mới được thành lập. Tập quán sản xuất của nhân dân đa số còn mang tính tự cung tự cấp là chủ yếu, thu nhập thấp, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội yếu kém, trình độ dân trí còn hạn chế và không đồng đều, tỷ lệ hộ nghèo cao; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc còn thiếu thốn nhiều mặt, trình độ đội ngũ cán bộ cấp huyện và cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra..”( ).
Tuy nhiên những khó khăn, thách thức ban đầu dần dần đã được khắc phục bởi Quan Sơn là một trong những huyện có tiềm năng, lợi thế, có triển vọng để khai thác phát triển đi lên; nhân dân các dân tộc trong huyện có truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, có ý chí tự lực tự cường để vươn lên xây dựng quê hương. Đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, hăng hái nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm với công việc được giao cùng với quyết tâm của Đảng bộ, sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự hướng dẫn, giúp đỡ của các sở ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh; sự động viên khích lệ của các huyện bạn đã tạo ra động lực mới, khí thế mới tiếp sức cho Đảng bộ và nhân dân trong huyện vượt qua những khó khăn thách thức ban đầu, từng bước xây dựng các nguồn lực để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương.
Là một huyện vùng biên, giáp với biên giới nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, trong quá trình xây dựng và phát triển, huyện Quan Sơn đã biết phát huy và giữ gìn tình đoàn kết hữu nghị với huyện Viêng Say và Sầm Tớ của tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
 Đây là điều kiện quan trọng để huyện Quan Sơn tiếp tục tạo đà và thế để vững bước phát triển đi lên.
Ngay trong những năm đầu thành lập huyện, để tiếp tục tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn đã mạnh dạn đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, xóa bỏ những yếu tố lạc hậu trong tập quán cũ, phát huy và kế thừa những truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc trong huyện, xây đắp nên những thành quả mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa.
Về kinh tế:
Tổng diện tích gieo trồng từ năm 1997 đến năm 2000 đạt 9.898ha (bình quân mỗi năm đạt 3.299,2ha). Tổng sản lượng lương thực trong 3 năm đạt 26.442 tấn (bình quân mỗi năm đạt 8.814 tấn); bình quân lương thực theo đầu người đạt 280kg/người/năm. Sản lượng nông nghiệp trên địa bàn huyện về cơ bản đã đảm bảo tự túc lương thực và thực phẩm.
Ngành chăn nuôi duy trì và phát triển trên cơ sở các giống vật nuôi truyền thống: đàn trâu hàng năm đạt 3.983 con; đàn bò đạt 6.281 con, diện tích nuôi cá là 26,94ha; Chương trình 135 đã giành 50 triệu đồng làm thí điểm mô hình trang trại luồng - đậu tương - gà Tam Hoàng tại xã Trung Thượng. Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm huyện Quan Sơn đã tổ chức trồng thí điểm 0,5ha giống đậu tương DTB4. 
Về lâm nghiệp, đến năm 2000, toàn huyện đã tiến hành giao đất, giao rừng với tổng số 84.493,5ha. Trong đó: giao cho 479 hộ nông dân số diện tích 30.390,6ha, giao cho 2 đồn biên phòng số diện tích số diện tích 12.881ha, giao cho 2 lâm trường số diện tích 14.326ha, giao cho 60 bản số diện tích 11.607ha, giao cho chính quyền cơ sở số diện tích 15.289ha. Rừng và đất rừng ở Quan Sơn được hồi phục chăm sóc bảo vệ tốt, khai thác lâm sản được tiến hành hợp lí, đúng kỹ thuật. Toàn huyện đã trồng mới được 783,6ha rừng luồng, rừng quế và 82.414 cây phân tán. Khai thác lâm sản được tiến hành theo kế hoạch. Chỉ tính riêng trong năm 2000, toàn huyện khai thác được 2.024,5m3 gỗ, 11.322 tấn nan thanh, 181.920 cây luồng, 188 ste củi, 1.500 tấn đũa xuất khẩu, 6.9000 đoạn song, 1,6 tấn quế vỏ.
Do trên địa bàn huyện đã hình thành các khu tập trung dân cư nên đã xuất hiện một số cơ sở sản xuất gạch, khai thác đá, cát, sỏi thủ công; Các nghề thủ công như: sản xuất công cụ cầm tay, mộc, may mặc, sơ chế lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng... được hình thành và phát triển mở rộng, thu hút đông đảo lao động xã hội. Các nghề thủ công truyền thống như: dệt thổ cẩm, làm đệm bông... được phục hồi, góp phần nâng tổng giá trị sản xuất thủ công nghiệp; nhiều khu chợ mới được thành lập, một bộ phận cư dân trong huyện đã chuyển sang kinh doanh hàng hóa tổng hợp; các mặt hàng được trợ cước, trợ giá đã đến với đồng bào các dân tộc đủ số lượng và đúng chất lượng.
Trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2000, tỉnh và Trung ương đã đầu tư xây dựng 72 công trình xây dựng trên địa bàn huyện. Quan Sơn cũng đã xây dựng được nhiều công trình lớn như: Hội trường của huyện, chợ Na Mèo, Trường tiểu học Trung Thượng II, Trụ sở Ngân hàng Nông nghiệp, Trường Nội trú (cấp II và cấp III), tượng đài liệt sỹ, Trường Tiểu học Sơn Lư, Trường Tiểu học Tam Lư, trụ sở các xã Sơn Lư và Trung Xuân, kè bờ hữu sông Lò, 5 công trình thủy lợi (ở 2 xã Trung Xuân và Trung Thượng), chợ Tam Thanh, trụ sở Kho bạc, mương Na Ấu (xã Tam Thanh), đập Muống (xã Sơn Thủy)... Tiến hành thi công các công trình: đập Hạ (xã Sơn Hạ), Đập Hậu (xã Tam Lư), đường Mẫy Bàng (xã Trung Thượng), Trường Tiểu học Sơn Điện - Sơn Thủy, 7 trạm y tế tại 7 xã (chương trình thuộc dự án Dân số - Kế hoạch hóa gia đình), đường nhựa từ Km 42 vào xã Tam Lư - xã Tam Thanh, đường trục xã Trung Xuân, công trình nước sạch bản Lấm (xã Sơn Lư), đường ngang trung tâm huyện lỵ, đập mương Na Mèo, đập Trung Hạ, 4 trường tiểu học cùng công trình thủy lợi tại 4 xã biên giới. Riêng trong năm 2000, huyện Quan Sơn tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các công trình: trường Trung Hạ, Sơn Thủy; trụ sở Ủy ban nhân dân các xã: Trung Hạ, Na Mèo, Sơn Điện, Mường Mìn, 7 trạm xá xã, 6 nhà y tế thôn, bản; đập Hạ (xã Sơn Hà), đập Hậu (xã Tam Lư), đập Na Pạng (xã Mường Mìn), đập Muống (xã Sơn Thủy), đập Bôn (xã Tam Thanh), đập Sại (xã Tam Lư). Huyện còn tiến hành giám sát thi công Phòng khám đa khoa cụm xã Sơn Điện - Sơn Thủy - Mường Mìn - Na Mèo; khảo sát, mở rộng 2km đường trung tâm huyện lỵ.
Nhìn chung với việc đầu tư xây dựng cơ bản ở Quan Sơn đi đúng hướng nên mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Riêng Chương trình 135 của Chính phủ không chỉ giúp nhân dân vùng sâu, vùng xa đỡ khó khăn mà còn giúp khu vực trung tâm huyện lỵ thêm phần khởi sắc.
Bên cạnh những chuyển biến tích cực của kinh tế, văn hóa - xã hội cũng đạt được nhiều thành quả mới.
Sự nghiệp giáo dục đào tạo ngày càng được chú trọng. Đảng bộ, nhân dân huyện Quan Sơn đã quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên, xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp, tiến hành cải cách giáo dục theo hướng xã hội hóa. Huyện đã chỉ đạo xây dựng trường THCS và THPT Nội trú. Năm 1997 chỉ tuyển sinh được 100 học sinh nhưng số lượng học sinh đã tăng lên hàng năm. Chỉ tính năm 1998, trên địa bàn huyện, nhiều trường phổ thông cơ sở được đầu tư xây dựng, như Trường Nội trú cấp II - III được hoàn thành đã đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa. Phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” đã kích thích chất lượng học sinh các cấp nâng lên. Năm 1999, Trường Phổ thông trung học Quan Sơn đã tổ chức khai giảng khóa học đầu tiên (niên học 1999 - 2000) với 100 học sinh theo học lớp 10. Bước sang năm 2000, số lượng học sinh THPT ở Quan Sơn đã tăng lên 397 học sinh, 11 xã( ) trong huyện được công nhận xóa mù chữ thành công và phổ cập Tiểu học. 
Công tác y tế phát triển tương đối toàn diện ở cả tuyến huyện và cơ sở. Bệnh viện huyện Quan Sơn, Phòng khám đa khoa cụm, Trạm y tế xã được xây dựng kiên cố. Tỷ lệ tăng dân số từ 1,7% vào năm 1997 đến năm 2000 đã giảm còn 1,4%. Quan Sơn đã thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình.
Hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao được xã hội hóa và phát triển rộng. Các làn điệu dân ca, các điệu múa truyền thống của các dân tộc trong huyện được khôi phục lại. Các môn thể thao như: bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, bóng đá... được phát triển thành các môn thể thao quần chúng, được thanh thiếu niên, cán bộ tham gia sôi nổi. Huyện đã tổ chức các cuộc thi đấu thể thao, một số nội dung được lựa chọn tham gia thi đấu cấp tỉnh. Ở các chòm bản, tổ chức biểu diễn các tiết mục văn nghệ dân tộc và truyền dạy cho lớp trẻ. Phong trào xây dựng làng văn hóa phát triển sâu rộng. Nhiều bản làng, gia đình được công nhận làng văn hóa, gia đình văn hóa. Công tác thông tin tuyên truyền được tiến hành liên tục và có hệ thống, nhằm đưa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tình hình thời sự trong nước và quốc tế đã cập nhật đến từng người dân Quan Sơn. Do được tiếp thu kiến thức văn hóa mới, nhiều gia đình đã biết cách tổ chức sản xuất và làm giàu. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” phát triển sâu rộng và đem lại hiệu quả chính trị - kinh tế - xã hội sâu sắc. Từ năm 1997 đến năm 2000, toàn huyện đã đóng góp 31,5 triệu đồng tu bổ nhà cho thương binh và Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, tặng sổ tiết kiệm cho gia đình chính sách.
Song song với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, Đảng bộ và nhân dân huyện Quan Sơn còn tập trung xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc. Cùng với việc xây dựng thế trận lòng dân, các cấp ủy đảng ở Quan Sơn đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng, củng cố vững chắc lực lượng vũ trang nhân dân trên mọi phương diện. Việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, quân dự bị động viên, lực lượng công an viên được Đảng bộ và chính quyền huyện đặc biệt quan tâm. Hằng năm, huyện đều đảm bảo chỉ tiêu gọi thanh niên nhập ngũ. Các lớp tập huấn, huấn luyện hằng năm được thực hiện theo kế hoạch đã định. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện, đặc biệt là khu vực biên giới luôn ổn định. Các xã Sơn Điện, Mường Mìn là những đơn vị dẫn đầu phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2000. Lãnh đạo huyện Quan Sơn và lãnh đạo các huyện Sầm Tớ, Viêng Xay (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) đã tổ chức trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa lãnh đạo và nhân dân các huyện vùng biên giới ngày càng gắn bó thân thiết.
Công tác xây dựng Đảng luôn được chú trọng nhằm đảm bảo cho Đảng bộ huyện đáp ứng yêu cầu tổ chức lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế trên địa bàn huyện. Chỉ trong năm 1998, cùng với việc quán triệt các nghị quyết của Đảng, Huyện ủy Quan Sơn đã chỉ đạo Trung tâm Chính trị huyện mở lớp Lý luận phổ thông cho 150 học viên, mở 2 lớp chuyên đề cho 180 học viên, mở 2 lớp đối tượng Đảng cho 185 quần chúng ưu tú, mở 2 lớp thanh niên ưu tú cho 385 học viên và mở 6 lớp truyền tin tại huyện, 3 lớp truyền tin cơ sở. Đến năm 2000, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên tiếp tục được đẩy mạnh, Huyện ủy đã mở 11 lớp giáo dục lý luận chính trị và các chuyên đề về công tác Đảng, công tác đoàn thể cho 1.477 học viên; kết nạp 171 đảng viên mới, chuyển chính thức cho 160 đảng viên, đưa tổng số đảng viên toàn huyện lên 1.500 đồng chí, sinh hoạt trong 23 đảng bộ, chi bộ trực thuộc( ).
Hoạt động của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân huyện có nhiều đổi mới theo hướng thực hiện cải cách hành chính, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp cán bộ trong bộ máy chính quyền. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể gắn chức năng và nhiệm vụ của mình với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện, với quyền lợi của đoàn viên, hội viên, đề ra được những nội dung, hình thức sát hợp, thực hiện có hiệu quả các chương trình công tác, động viên nhân dân trong huyện hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, đem lại lợi ích thiết thực cho sự ổn định an ninh, chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của huyện.
Những thành quả đạt được trong chặng đường này đã tạo cho Quan Sơn thế và lực mới, cùng với tỉnh Thanh Hóa và cả nước tiến sang thế kỷ XXI.
3.6.3. Quan Sơn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II, III tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (2000 - 2015)
* Giai đoạn 2000 - 2005
Để tổng kết những thành tựu đã đạt được trong nhiệm kỳ 1997 - 2000 đề ra phương hướng, mục tiêu giải pháp cho nhiệm kỳ mới từ ngày 20 đến 22 tháng 10 năm 2000, Đảng bộ huyện tiến hành Đại hội lần thứ II. Tham dự Đại hội có 127 đại biểu đại diện cho 1.420 đảng viên của 23 đảng bộ, chi bộ trực thuộc. Các đại biểu đã tích cực, sôi nổi thảo luận những vấn đề cơ bản của báo cáo chính trị nhằm đạt mục tiêu đề ra. Những quyết định của Đại hội đã mở ra một thời kỳ phát triển mới, đánh dấu một bước trưởng thành, đáp ứng ý chí, nguyện vọng và mong đợi của Đảng bộ và nhân dân trong huyện.
Đại hội đã bầu 33 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa II (2001 - 2005). Ban Chấp hành bầu 11 đồng chí vào Ban Thường vụ Huyện ủy, đồng chí Hà Văn Thương( ) được bầu làm Bí thư; đồng chí Hà Văn Thông( ) được bầu làm Phó Bí thư thường trực, đồng chí Phạm Văn Thư( ) được bầu làm Phó Bí thư, Chủ tịch UBND.
Trong nhiệm kỳ mới (2000 - 2005), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong bối cảnh chung của tỉnh và cả nước có nhiều thuận lợi sau 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Tuy vậy, Quan Sơn vẫn là một huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa. Quan Sơn đã tiếp tục phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, trong 5 năm 2001 - 2005, kinh tế của Quan Sơn đã có những bước tăng trưởng khá.
Về kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của chặng đường này đạt 5,9% (tăng hơn 0,7% so với giai đoạn 1997 - 2000); thu nhập hàng năm đạt 2,78 triệu đồng/người (thu nhập năm 1997 là 1,4 triệu đồng/người, năm 2000 là 2,25 triệu đồng/người); nông - lâm nghiệp tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 5,1%; thủ công nghiệp, xây dựng tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 3,2%; các ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm đạt 3,2%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng thủ công nghiệp - dịch vụ. Tuy vậy, sự chuyển dịch này mới đang ở bước đầu, nên cơ cấu kinh tế ngành nông - lâm nghiệp vẫn chiếm phần tỷ trọng khá lớn (năm 2005: nông - lâm nghiệp chiếm 57,05%, thủ công nghiệp chiếm 14,59 % và thương mại - dịch vụ chiếm 28,35%).
Sản lượng lương thực quy thóc năm 2005 đạt 7.938,3 tấn (tăng so với năm 2000 là 2.492 tấn). Số lượng đàn gia cầm, gia súc năm 2005 là 63.000 con (tăng hơn 28.000 con so với năm 2000). Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2005 đạt 24,2 tỷ đồng, tăng hơn 4,87 tỷ đồng so với năm 2000. Diện tích trồng rừng bình quân hàng năm đạt 382ha (tăng hơn thời kỳ 1997 - 2000 là 182ha/năm); độ che phủ của rừng được nâng cao nhanh: từ 45% năm 1997, lên 63% năm 2000 và năm 2005 đạt 71%. 
Giá trị sản xuất thủy sản năm 2005 đạt 1,1 tỷ đồng, tăng hơn năm 2000 là 0,54 tỷ đồng.
Về thủ công nghiệp và xây dựng: năm 2005 giá trị sản xuất đạt 26,94 tỷ đồng, tăng 9,28 tỷ đồng so với năm 2000, nhịp độ phát triển hàng năm 0,4%/ năm.
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đã có những bước phát triển mới, ngoài các sản phẩm chủ yếu như khai thác đá, cát, sỏi, gạch xây dựng, sản xuất đồ mộc... huyện đã phát triển thêm ngành sơ chế đũa, tăm, mành, sơ chế bột giấy từ các sản phẩm tre, luồng, nứa, vầu, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân trong huyện.
Năm 2005, thương mại - dịch vụ huyện Quan Sơn đạt giá trị 34,40 tỷ đồng, tăng hơn 18,1 tỷ đồng so với năm 2000, nhịp độ phát triển bình quân hàng năm tăng 10%/năm. Mạng lưới thương mại được mở rộng đến tận bản; thị trường hàng hóa phong phú, đa dạng, đáp ứng kịp thời yêu cầu sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân các dân tộc ở Quan Sơn.
Nguồn vốn được đầu tư xây dựng các trung tâm cụm xã ở Km 21 (xã Trung Hạ), Km 61 (xã Sơn Điện); nâng cấp cửa khẩu Na Mèo thành cửa khẩu quốc tế, nâng cấp các trục đường giao thông từ huyện đến các xã, xây dựng các tuyến đường liên thôn, liên bản, xây dựng các công trình thủy lợi, điện, thông tin, trạm y tế, trường học, trạm phát lại truyền hình... Trong năm 2001, huyện đã xây dựng, hoàn thiện các công trình: Trường Tiểu học Tam Lư, Trường Tiểu học Tam Thanh, Trạm xá Na Mèo, Mường Pín, Phòng khám đa khoa Trung tâm cụm xã Sơn Điện, các công trình phụ trợ Ủy ban nhân dân huyện và các xã Trung Xuân, Trung Thượng); các công trình được triển khai xây dựng mới là: Trường Trung học cơ sở xã Trung Xuân, Trường Trung học cơ sở Trung tâm cụm xã ở km 61, trụ sở Ủy ban nhân dân xã Tam Thanh, Trường Tiểu học bản Xum (xã Sơn Hà). Huyện tiếp tục thi công 3 cầu treo thuộc dự án 135, thi công các tuyến đường bản Yên (xã Mường Mìn), đường Sủa - Na Hồ (xã Sơn Điện), đường Pha Dùa (xã Sơn Thủy), đường vào trung tâm xã Trung Xuân (hoàn thành trước tết Nguyên đán năm 2002); xây dựng 5 đập: đập Ban (xã Sơn Điện), đập Hiềng (xã Na Mèo), đập Lấm và đập Hẹ (xã Sơn Lư), đập Còng (xã Sơn Hà); hoàn thành 7 công trình nước sạch bao gồm: 2 công trình tại xã Na Mèo, 1 công trình tại xã Sơn Thủy, 3 công trình tại xã Sơn Điện và công trình nước sạch của Trường Nội trú xã Sơn Lư. Chỉ tỉnh tính riêng năm 2005, huyện đã hoàn thiện các công trình: đập mương bản Phụn, xã Trung Xuân, trạm bơm mương bản Din, xã Trung Hạ, đập mương bản Cha Lung - xã Tam Thanh, trường Tiểu học Sơn Hà, 2 trạm Hạ thế 0,4 KV ở xã Sơn Lư, xây dựng đường vào trung tâm xã Sơn Hà, trường Trung Hạ, trạm Y tế Tam Lư, đường Pù Khạn (xã Trung Thượng); các công trình nước sạch ở bản Bo, bản Hiềng (Na Mèo); các công trình: nhà Văn hóa, đường giao thông, công trình nước sạch, trường tiểu học và mương tưới của 5 xã: Tam Lư, Na Mèo, Trung Hạ, Sơn Thủy, Sơn Lư... xây dựng mới 26 công trình của 11 xã gồm: nhà văn hóa, đập - mương, các công trình nước sạch, trạm Hạ thế 0,4 KV, đường giao thông. Về chương trình kiên cố hóa trường học, huyện đã xây dựng 26 phòng tiểu học cho 6 xã: Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Lư, Tam Lư, Sơn Thủy và 10 phòng trung học cơ sở cho 2 xã: Sơn Lư, Na Mèo,...
Trong năm 2005, Quan Sơn đã có thêm 3 xã có điện lưới quốc gia là Tam Lư, Tam Thanh và Trung Xuân, nâng tổng số xã có điện trong huyện lên 11/12 xã với tổng số 24 trạm biến thế. Năm 2005 toàn huyện Quan Sơn đã có 11/12 xã, thị trấn được sử dụng điện lưới quốc gia, 72% dân số được sử dụng điện.
Song song với phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hóa - xã hội có bước chuyển biến rõ rệt.
Hệ thống và quy mô giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện Quan Sơn được phát triển, mở rộng theo hướng hiện đại hóa. Trường lớp được kiên cố hóa, đến năm 2005, toàn huyện có 289/336 phòng học được xây dựng kiên cố và 4 trường đạt chuẩn quốc gia; phong trào dạy và học được xã hội hóa, do đó chất lượng giáo dục được nâng lên từng bước. Năm học 2000 - 2001, toàn huyện chỉ có 102 em học sinh giỏi cấp huyện và cấp tỉnh, đến năm học 2004 - 2005, con số này đã tăng lên 306 em. Năm 2005 là thời điểm ngành Giáo dục huyện Quan Sơn phấn đấu giữ vững phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi (4/12 xã, thị trấn đã hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở); nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo: năm 2000 tỷ lệ lao động được đào tạo đạt 7,5%, đến năm 2005 đã nâng lên 11,8%.
Công tác y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em tiếp tục duy trì tốt (tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm dần theo từng năm: số trẻ em suy dinh dưỡng năm 2000 là 41,6%, đến năm 2005 giảm xuống còn 35%). Đến cuối năm 2005, đã có 12/12 xã, thị trấn có trạm y tế khang trang, sạch đẹp. Trong năm 2005, Quan Sơn đã có một xã đạt 10 chuẩn quốc gia về y tế. Phát huy thành tích này, huyện tích cực chỉ đạo nhân rộng mô hình xã đạt 10 chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện Quan Sơn đến năm 2005 chỉ còn lại 1,38%, giảm hơn năm 2000 gần 0,02%.
Phong trào Thể dục - thể thao, văn hóa - văn nghệ quần chúng được đẩy mạnh. Trong từng bản, cơ quan, trường học đều có các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao. Nhiều bài hát giao duyên của các dân tộc Mường, Thái và các điệu múa đẹp giàu bản sắc được tuyển chọn tập luyện để tham gia hội diễn văn nghệ của huyện, của tỉnh. Các môn thể thao truyền thống và là ưu thế của các dân tộc miền núi như: ném còn, bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co được duy trì, phát triển. Đến năm 2005, toàn huyện có 399 gia đình được công nhận gia đình văn hóa - thể thao (chiếm 6,5% tổng số gia đình toàn huyện). Huyện đã xây dựng 32 làng, cơ quan văn hóa, trong đó có 16 đơn vị được công nhận là đơn vị Văn hóa cấp huyện, 5 đơn vị được công nhận là đơn vị Văn hóa cấp tỉnh, 4.130 gia đình được công nhận là Gia đình văn hóa, đạt 62% tổng số gia đình toàn huyện.
Công tác quốc phòng - an ninh thường xuyên được cấp ủy quan tâm. Cơ quan công an và Ban Chỉ huy quân sự huyện đã làm tốt vai trò tham mưu và làm nòng cốt nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong huyện. Hằng năm, Ban Chỉ huy quân sự huyện đã hoàn thành tốt công tác tuyển quân, đảm bảo số lượng và chất lượng, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.
Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện được tăng cường. Các chương trình bảo vệ biên giới được duy trì ổn định, hiệu quả. Tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội của huyện được giữ vững, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh.
Trong nhiệm kỳ qua, các cấp ủy đảng và chính quyền huyện đã tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về vai trò của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong thời kỳ mới, nhằm nâng cao ý thức cách mạng, thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 8 (khóa X) về chiến lược bảo vệ tổ quốc, đập tan âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội. Trong thời gian 2001 - 2005, huyện Quan Sơn không diễn ra điểm nóng, quan hệ hữu nghị với các huyện Viêng Xay, Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được củng cố vững chắc, tình hình chính trị ổn định. Do tích cực xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc, Đảng bộ, quân dân huyện nhà đã giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành xây dựng quê hương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn tiếp theo.
Nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Đảng bộ huyện Quan Sơn chú trọng công tác tổ chức cán bộ, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), gắn với triển khai thực hiện các chương trình của Đảng bộ huyện và Tỉnh ủy. Công tác cán bộ có nhiều tiến bộ, được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp huyện và cơ sở cơ bản đã đạt chuẩn về trình độ lý luận chính trị; công tác nhận xét, đánh giá cán bộ được đổi mới theo hướng công khai dân chủ. Việc bổ nhiệm và bổ nhiệm lại đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được thực hiện đúng quy trình, coi trọng phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và khả năng hoạt động thực tiễn. Trên cơ sở đó, hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được củng cố, tăng cường. Hoạt động của tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền các cấp đã đáp ứng cơ bản nhiệm vụ đặt ra. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiều tiến bộ đổi mới trong các hoạt động phong trào. Mặt trận Tổ quốc tổ chức cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; “Xóa nhà tranh tre dột nát”; “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”, tuyên truyền vận động nhân dân các dân tộc trong huyện bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái... Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với phong trào “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, tích cực học tập nghị quyết của Đảng, của Đoàn cấp trên, tổ chức tốt các phong trào thi đua tình nguyện làm đường, làm vệ sinh môi trường, tổ chức phát động các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao sôi nổi, bổ ích. Hội Phụ nữ huyện tập trung chỉ đạo thực hiện phong trào thi đua xây dựng gia đình hạnh phúc và các chương trình của Tỉnh hội, Trung ương hội nhằm động viên, khuyến khích chị em phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc và phát triển kinh tế gia đình theo hướng bền vững. Liên đoàn Lao động với phong trào “Lao động giỏi, sáng kiến cải tiến kỹ thuật”. Hội Cựu chiến binh có phong trào “Giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, Hội Nông dân với phong trào “Nông dân sản xuất giỏi, làm giàu chính đáng”, “Giúp nhau xóa đói giảm nghèo”. Hội đã kết hợp với Trạm Khuyến nông tổ chức tập huấn chuyển giao thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ mới cho bà con các dân tộc, nhằm giúp bà con phát triển kinh tế gia đình. 
Những thành tựu mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quan Sơn đạt được trong giai đoạn 2001 - 2005 là hết sức quan trọng đã tạo tiền đề vững chắc, tạo thế và lực mới để huyện Quan Sơn bước vào nhiệm kỳ mới với những quyết tâm cao và niềm tin vững chắc.
* Giai đoạn 2006 - 2010
Trong những năm 2006 - 2010, Quan Sơn có những thuận lợi, công cuộc đổi mới của Đảng và nhân dân Thanh Hóa cùng cả nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. 
Từ ngày 22 đến 23 tháng 10 năm 2005, tại Hội trường lớn của huyện, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III đã diễn ra.
Báo cáo của Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ III đã khẳng định: Nền kinh tế huyện Quan Sơn đã có bước phát triển và tăng trưởng khá, giá trị kinh tế các ngành: nông - lâm - thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ đều tăng so với các giai đoạn trước. Đặc biệt là kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật kinh tế - xã hội có bước phát triển mới, toàn diện, sâu sắc. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được xây dựng, củng cố vững chắc, tạo ra sức mạnh, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh khu vực biên giới. Hệ thống chính trị: Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng được xây dựng vững chắc, quy chế dân chủ cơ sở được triển khai sâu rộng, niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng được nâng cao...
Trước thực tế Quan Sơn vẫn là huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa, Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2006 - 2010 như sau: Tiếp tục công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát huy nội lực, khai thác hợp lý tiềm năng, thế mạnh, tranh thủ ngoại lực, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu kinh tế, văn hóa - xã hội; chuyển dịch nhanh, mạnh cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa - xã hội; củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa III gồm 35 đồng chí và Ban Thường vụ 11 đồng chí, đồng chí Phạm Bá Diệm được bầu làm Bí thư Huyện ủy, đồng chí Lò Đình Múi được bầu làm Phó Bí thư - Chủ tịch UBND huyện, đồng chí Hà Chí Nông được bầu làm Phó Bí thư thường trực.
Năm 2006 ghi dấu ấn thời điểm kỷ niệm 10 năm thành lập huyện cũng là năm đầu tiên thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III. Trước tình hình đó, Huyện ủy Quan Sơn đã ra Nghị quyết tổ chức lãnh đạo nhân dân huyện nhà thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, lập thành tích chào mừng 10 năm ngày thành lập huyện và Đảng bộ huyện, đồng thời tạo thế, tạo đà tiếp tục phát triển trong những năm tiếp theo. Đây là niềm động viên, cổ vũ Đảng bộ và nhân dân Quan Sơn tăng cường khối đoàn kết thống nhất, tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đạt được nhiều thành tích cao hơn.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn của huyện, Đảng bộ, chính quyền huyện xác định cơ cấu kinh tế của Quan Sơn là: lâm - nông - thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ. Trước mắt và tương lai gần cần phải lấy cây lúa, cây ngô làm cây lương thực chính; lấy cây luồng, cây vầu, cây nứa làm cây kinh tế mũi nhọn; lấy con trâu, con bò làm vật nuôi chủ yếu, kết hợp với lợn, dê, gia cầm; lấy kinh tế trang trại vừa và nhỏ làm mô hình kinh tế cơ bản, phát triển mạnh ngành thương mại - dịch vụ ở khu vực huyện lỵ, cụm xã dọc tuyến Quốc lộ 217, khu đô thị cửa khẩu quốc tế, cần thu hút xây dựng, mở rộng hệ thống doanh nghiệp trên địa bàn, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động; phấn đấu trở thành huyện có phong trào bảo vệ rừng, chủ quyền an ninh biên giới tốt nhất; phấn đấu đến năm 2010 xây dựng đô thị Na Mèo và thành lập thị trấn cửa khẩu( ).
 Vượt qua những khó khăn, thách thức, kinh tế - xã hội huyện Quan Sơn tăng trưởng cao hơn giai đoạn trước.
 Huyện ủy đã tập trung chỉ đạo phát huy các yếu tố nội lực, tranh thủ sự đầu tư của các dự án, nhất là các dự án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Thanh Hóa, Chương trình 235 của Chính phủ để tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân toàn huyện mở rộng diện tích gieo trồng, tăng cường ứng dụng các biện pháp kỹ thuật về phân, giống, chăm sóc, phòng bệnh, đưa năng suất và sản lượng lương thực, thực phẩm tăng trưởng cao. 
Sản xuất nông - lâm nghiệp của Quan Sơn vẫn là chủ đạo và giai đoạn này đã chuyển mạnh sang sản xuất theo hướng hàng hóa. Giá trị sản xuất lâm nghiệp đến năm 2010 đạt gần 70 tỷ đồng. Là một huyện có diện tích đất rừng lớn nên công tác trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng được quan tâm chú trọng. Từ năm 1996 đến năm 2011, tổng diện tích rừng trồng tập trung của huyện Quan Sơn được gần 4.500ha; khoanh nuôi bảo vệ trên 7.500ha, nâng độ che phủ rừng từ 45% năm 1997 lên 79,2% năm 2010. Quan Sơn là một trong những địa phương được đánh giá có độ che phủ rừng cao nhất trong tỉnh. Hàng năm khai thác khoảng 5.000m3 gỗ các loại, 3.000 tấn nan thanh, hàng triệu cây luồng và cây nứa vầu. 
Bên cạnh phát triển lâm nghiệp, huyện Quan Sơn còn quan tâm phát triển và ổn định diện tích sản xuất nông nghiệp để giải quyết vấn đề lương thực. Trong sản xuất nông nghiệp, huyện chỉ đạo đưa các loại giống mới đặc biệt là giống lúa lai, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đầu tư hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu, từ đó đã nâng cao năng suất và sản lượng lương thực. Tổng sản lượng lương thực có hạt đến năm 2010 của huyện Quan Sơn đạt trên 10 nghìn tấn. Tình trạng thiếu lương thực vào thời điểm giáp hạt không còn gay gắt như trước đây.
Chăn nuôi hộ gia đình ngày càng phát triển, sản phẩm đa dạng và chuyển dịch sang chăn nuôi theo hướng tập trung và sản xuất hàng hóa. Các mô hình kinh tế gia trại, trang trại nông - lâm kết hợp đã tăng dần hàng năm và hiệu quả thu nhập ngày càng tăng. Tính đến hết năm 2010 trên địa bàn huyện Quan Sơn có 17 trang trại, gia trại với tổng thu nhập đạt trên 50 triệu đồng/trang trại.
Cùng với sự phát triển của lâm nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện được đẩy mạnh. Đến hết năm 2010, toàn huyện có 17 doanh nghiệp, Hợp tác xã và tổ hợp sản xuất. Một số cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được đầu tư xây dựng đã và đang đi vào sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động như chế biến lâm sản, mộc dân dụng, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông - lâm sản. Giao thông thuận lợi đã tạo điều kiện phát triển thương mại và dịch vụ. Mạng lưới thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện ngày càng phát triển rộng khắp, hàng hóa phong phú và lưu thông thuận tiện, đảm bảo các mặt hàng chính sách cho đồng bào thuộc vùng 135 và cung cấp hàng hóa vật tư thiết yếu, phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân.
Kết cấu hạ tầng trên địa bàn Quan Sơn được đầu tư phát triển mạnh. Huyện xác định đầu tư hạ tầng kỹ thuật, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, chính là điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Quan Sơn là một trong những huyện vùng cao biên giới được thụ hưởng đầy đủ các chương trình dự án đầu tư của nhà nước. Từ các nguồn vốn dự án; 134; 135; 30a; 159; 174; WB... huyện đã chỉ đạo ưu tiên, lựa chọn, bố trí cho các công trình trọng điểm, đồng thời quan tâm giải quyết và tháo gỡ những phát sinh, tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tiến độ các dự án. Nếu như giai đoạn 2001 - 2005, tổng vốn đầu tư chỉ đạt 293 tỷ đồng thì giai đoạn từ 2006 - 2010, tổng nguồn vốn đầu tư đạt trên 1.200 tỷ đồng. Hạ tầng cơ sở, đặc biệt là các công trình quan trọng như: giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, các công trình phúc lợi công cộng... được quan tâm phát triển.
Trên địa bàn huyện, 100% số xã đã có đường nhựa ô tô đến được tận trung tâm xã. Hệ thống trường học từ Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông trên địa bàn huyện được xây dựng kiên cố. Bệnh viện đa khoa huyện Quan Sơn được đầu tư nâng cấp cả về cơ sở vật chất cũng như được đầu tư trang thiết bị hiện đại, đáp ứng nhu cầu khám và điều trị của nhân dân. Ngoài ra các dự án điện, nước sinh hoạt và một số công trình quan trọng khác được huyện quan tâm đầu tư, đến cuối năm 2010, đã có 75% số hộ dân trên địa bàn huyện được sử dụng điện lưới quốc gia; gần 70% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Mạng lưới bưu chính - viễn thông được phủ rộng khắp huyện. Đến năm 2010 đã có 12/13 xã (thị trấn) có điểm bưu điện văn hóa xã. 
Sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển mạnh. Đội ngũ giáo viên được xây dựng theo hướng đảm bảo về số lượng, phấn đấu đạt chuẩn để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đến năm 2010, toàn huyện đã xây dựng được 7 trường chuẩn quốc gia và thành lập Trường Trung học Phổ thông Quan Sơn 2. Các xã thị trấn đều có trung tâm giáo dục cộng đồng và hoạt động có hiệu quả. Công tác y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ. Năm 2010, toàn huyện có 6 xã được công nhận đạt 10 chuẩn quốc gia về y tế.
Công tác thông tin truyền thông và hoạt động văn hóa, thể dục thể thao có bước phát triển mới. Đến năm 2010, có 75% dân số của huyện được xem truyền hình. Các hoạt động lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian được tập trung khôi phục. Tiêu biểu là khôi phục lễ hội Mường Xia đã bị mai một hơn 70 năm, đáp ứng sự mong đợi của nhân dân. Bảo tồn và phát huy được những giá trị văn hóa truyền thống của nhân dân các dân tộc ở Quan Sơn.
 Công tác đảm bảo quốc phòng - an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện tiếp tục được đảm bảo và ổn định.
Để tổng kết những thành tựu đã đạt được trong 5 năm của nhiệm kỳ 2005 - 2010, đề ra phương hướng, giải pháp cho nhiệm kỳ mới, từ ngày 24 đến 25/7/2010, Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ IV, nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã diễn ra.
Sau khi thảo luận Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện lần thứ III, trình Đại hội lần thứ IV và khẳng định những thành tựu và nêu ra những hạn chế cần khắc phục cũng như thảo luận để đi đến thống nhất về phương hướng, mục tiêu trong nhiệm kỳ mới, Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa IV gồm 35 đồng chí, Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí, đồng chí Phạm Bá Diệm( ) được bầu làm Bí thư, đồng chí Vi Xuân Hiệp được bầu làm Phó Bí thư thường trực, đồng chí Lò Đình Múi( ) được bầu làm Phó Bí thư - Chủ tịch UBND huyện.
Giai đoạn 2011 - 2015 và chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa V, nhiệm kỳ 2015 - 2020
Những thành tựu đạt được của các giai đoạn trước, là tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân Quan Sơn tiếp tục phát huy sức mạnh đoàn kết, thống nhất toàn quân và dân tăng cường giữ vững quốc phòng an ninh, tạo bước phát triển mới với những thành quả nổi bật trong giai đoạn mới.
Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 tăng 4,93% so với giai đoạn 2005 - 2010. Cơ cấu kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản từ 53% năm 2010 giảm xuống còn 49% năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt đạt 14,3 triệu đồng (năm 1997 thu nhập bình quân đầu người là 1,4 triệu đồng; năm 2000 thu nhập bình quân đầu người ước đạt 2,25 triệu đồng: năm 2005 thu nhập bình quân đầu người ước đạt 2,78 triệu đồng; năm 2010 thu nhập bình quân đầu người ước đạt 6,7 triệu đồng; năm 2011 thu nhập bình quân đầu người ước đạt 8,2 triệu). Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội của huyện đã có sự phát triển nâng cao theo từng giai đoạn, đặc biệt là những năm gần đây (từ 2010 đến 2015) đã đem lại sự cải thiện rõ rệt cho đời sống nhân dân.
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, giá trị sản xuất năm 2015 gấp 1,78 lần so với năm 2010. An ninh lương thực tương đối ổn định, tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2015 ước đạt 14.950 tấn, tăng 40,93% so với năm 2010. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Nuôi trồng thủy sản được nhân dân chú trọng chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hóa, diện tích nuôi trồng được mở rộng.
Công tác trồng rừng, bảo vệ rừng, chăm sóc và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên được triển khai thực hiện sâu rộng trong nhân dân. Việc chuyển đổi, cải tạo rừng nghèo kiệt sang cây trồng có giá trị kinh tế. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2015 duy trì mức 88%, so với năm 2010 tăng 7,9%. Quan Sơn hiện đang là huyện có độ che phủ rừng lớn nhất tỉnh Thanh Hóa. 
Ngành công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 14,38%, giá trị sản xuất năm 2015 ước đạt 115 tỷ đồng, gấp 1,98 lần so với năm 2010. Trong giai đoạn 2010 - 2015, huyện có 18 doanh nghiệp và 85 cơ sở chế biến lâm sản được thành lập mới, đóng góp cho ngân sách huyện trên 8 tỷ đồng.
Song song với phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng tiếp tục được duy trì và phát triển.
Công tác giáo dục tiếp tục được quan tâm đầu tư của toàn xã hội, chất lượng giáo dục đã có sự chuyển biến tương đối toàn diện cả ở diện đại trà và mũi nhọn. Công tác hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông được quan tâm, từng bước xây dựng mô hình xã hội học tập. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được chú trọng. Đến hết năm 2015 toàn huyện có 14/14 trường đạt chuẩn.
Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân được quan tâm, có 6/13 xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế. Chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân từng bước được nâng lên. Từ năm 2010 đến 2015 đã khám chữa bệnh cho 224.083 lượt người trong đó có 2.300 lượt bệnh nhân là người Lào(1). Công tác y tế dự phòng được quan tâm thực hiện cùng với việc thanh tra, kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm.
Hoạt động văn hóa thông tin, thể thao có bước phát triển mới. Các giá trị văn hóa truyền thống được khơi dậy bảo tồn và phát huy, tiêu biểu là: Lễ hội Mường Xia; đền thờ tướng quân Tư Mã Hai Đào tại xã Sơn Thủy. Phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đạt kết quả khá. Đến năm 2015, toàn huyện có 88 đơn vị văn hóa, trong đó 53 bản, khu phố văn hóa và 35 cơ quan văn hóa. Hệ thống truyền thanh, truyền hình được đầu tư nâng cao chất lượng hoạt động. Phong trào thể dục thể thao phát triển sâu rộng, các vận động viên có năng khiếu được chú trọng quan tâm. Nhiều con em các dân tộc Quan Sơn đạt thành tích cao trong các hội thi “Hội khỏe Phù Đổng” do tỉnh tổ chức.
Công tác giáo dục luôn được Đảng bộ, chính quyền huyện quan tâm và được đầu tư của toàn xã hội. Giai đoạn này, chất lượng giáo dục phát triển cả ở học sinh đại trà và mũi nhọn. Mạng lưới trường, lớp học tiếp tục được sắp xếp hợp lý, đội ngũ giáo viên được bổ sung về số lượng và chất lượng; tỷ lệ cán bộ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn tăng ở các cấp (Mầm non 100%, Tiểu học 100%; Trung học cơ sở 92,1%; THPT 84,6%). Công tác hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh THPT được ngành Giáo dục huyện Quan tâm. Với sự nỗ lực, cố gắng vươn lên, khắc phục khó khăn do chủ quan khách quan, năm 2015, huyện đã có 14/414 trường đạt chuẩn, đạt 31,8%.
Công tác quân sự, quốc phòng an ninh địa phương được tăng cường và triển khai đồng bộ có hiệu quả, phát huy được sức mạnh tổng hợp xây dựng quốc phòng toàn dân từng bước vững chắc. Năm 2012, Quan Sơn đã tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ cấp huyện và diễn tập chiến đấu trị an cho các cụm hàng năm theo kế hoạch. Chính sách hậu phương quân đội đã được quan tâm thực hiện có hiệu quả.
Đảng bộ, chính quyền Quan Sơn thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục nhân dân nhất là các xã, các bản giáp biên thực hiện tốt quy chế biên giới; quan tâm, tăng cường mối quan hệ, đoàn kết, hữu nghị, truyền thống giữa Đảng, chính quyền và nhân dân huyện Quan Sơn với hai huyện Viêng Xay, Sầm Tớ (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) nói riêng, hai tỉnh Thanh Hóa, Hủa Phăn nói chung trong hợp tác phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh biên giới góp phần tăng thêm mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị giưa hai nước Việt Nam - Lào.
Giai đoạn 2011 - 2015 là giai đoạn Quan Sơn tập trung đẩy mạnh một số chương trình trọng tâm trong chiến lược phát triển của huyện:
Chương trình xây dựng nông thôn mới: Thực hiện chủ trương của Trung ương, của tỉnh về xây dựng nông thôn mới. Ngày 28/10/2010, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết số 03 - NQ/HU về “Xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2011 - 2020”. Chương trình xây dựng nông thôn mới được cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quan tâm chỉ đạo quyết liệt, sát thực; kết quả bước đầu chuyển biến tích cực, kết cấu hạ tầng cơ sở được Nhà nước đầu tư, nhân dân hiến đất, góp công xây dựng; 66 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đăng ký giúp đỡ cho 37/93 bản xây dựng nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 39,36% số bản trên địa bàn huyện. Kết quả đạt bình quân 8,58 tiêu chí/xã, xã đạt cao nhất 11 tiêu chí, xã thấp nhất đạt 7 tiêu chí. Đến hết năm 2015, bình quân đạt 9,17 tiêu chí/xã, trong đó có 4 bản đạt chuẩn nông thôn mới.
Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững: Công tác giảm nghèo được toàn bộ Đảng bộ đặc biệt quan tâm từ việc lãnh đạo, chỉ đạo đến tổ chức triển khai thực hiện. Việc hỗ trợ phát triển sản xuất trong các chương trình, dự án được thực hiện hiệu quả; các hộ nghèo được tạo điều kiện thuận lợi cho vay vốn sản xuất và giải quyết việc làm, do đó đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới, toàn huyện giảm từ 51,91% năm 2010 xuống còn 20,84 năm 2015 (bình quân mỗi năm giảm 6%). 
Công tác giảm nghèo nhanh và bền vững theo tinh thần Nghị quyết 09 - NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đạt được những kết quả bước đầu; đã và đang triển khai có hiệu quả các mô hình sản xuất trồng gấc, nứa vầu, khoai mán, chuối tiêu hồng, bí xanh lai, tại các xã Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Lư, Tam Lư, Sơn Điện, Sơn Thủy...
Chương trình phát triển nguồn nhân lực mà trọng tâm là dạy nghề: Các cấp ủy đảng, chính quyền của huyện đã có nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nguồn nhân lực mà trọng tâm tập trung đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đến nay, huyện có nguồn nhân lực khá dồi dào với nguồn lao động chiếm 59% dân số, chủ yếu là lao động trẻ. Hệ thống giáo dục phổ thông cơ bản có đầy đủ trường lớp và 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên và dạy nghề. Số người có việc làm thường xuyên là 58%, chủ yếu các ngành nghề: Nông, lâm, thủy sản; tiểu thủ công nghiệp; dịch vụ thương mại, trong đó lao động làm nghề nông, lâm, thủy sản chiếm 53%. 
Bên cạnh những chương trình trọng điểm trên, xác định văn hóa tinh thần là mục tiêu, động lực để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội, trong những năm qua, công tác văn hóa luôn được huyện Quan Sơn tập trung chỉ đạo. Năm 2012, huyện đã tổ chức thành công Liên hoan văn hóa các dân tộc lần thứ nhất, xây dựng được 2 đĩa DVD ca nhạc chào mừng 10 năm, 15 năm thành lập huyện như đĩa DVD Quan Sơn gọi bạn và Vang mãi khúc hát Quan Sơn. Thông qua các tiểu phẩm, bài hát, hình ảnh trực quan, băng zôn, khẩu hiệu đã phản ánh khí thế của nhân dân các dân tộc Quan Sơn cùng chung tay xây dựng nông thôn mới.
Nhằm triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt hiệu quả gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Ban Thường vụ Huyện ủy đã ra Nghị quyết số 11 - NQ/HU ngày 28/1/2013 về phát triển Văn hóa và Du lịch giai đoạn 2013 - 2015 định hướng đến năm 2025, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành đề án Phát triển Văn hóa và Du lịch giai đoạn 2013 - 2015 định hướng đến năm 2025. Trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, huyện Quan Sơn đã đóng góp tích cực vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nhằm giúp mọi người dân, đặc biệt là người dân ở vùng đặc biệt khó khăn có cơ hội tiếp cận với công nghệ thông tin và Internet, Ban quản lý dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam” phối hợp với UBND huyện Quan Sơn đã tổ chức các hoạt động “Ngày hội Internet” tại các điểm Bưu điện văn hóa xã và Thư viện huyện Quan Sơn, thu hút được sự hưởng ứng đông đảo của nhân dân.
Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam” do quỹ Bill & Melinda Gates (Hoa Kỳ) tài trợ. Dự án này được tổ chức tại các huyện thuộc 40 tỉnh khó khăn nhất trong toàn quốc, trong đó Quan Sơn là 1 trong những huyện tham gia của dự án. Trong chương trình của dự án, “Ngày hội Internet” đã tổ chức tại 5 điểm truy cập Internet thuộc dự án trên địa bàn huyện Quan Sơn là Thư viện huyện và điểm Bưu điện văn hóa xã Sơn Thủy, Mường Mìn, Tam Lư, Tam Thanh. 
Với mục tiêu giới thiệu và quảng bá đến đông đảo tầng lớp nhân dân tại các vùng khó khăn của cả nước, dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam” còn giúp các thư viện và các điểm Bưu điện văn hóa xã thay đổi được cách thức hoạt động và phục vụ thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển kỹ năng phục vụ, góp phần đạt được tầm nhìn phát triển của hệ thống thư viện và các điểm Bưu điện văn hóa xã. Các hoạt động của “Ngày hội Internet” đã đưa thông điệp “Thay đổi cuộc sống” tới mọi tầng lớp nhân dân.
Từ ngày 9 đến 11 tháng 8 năm 2015, Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã diễn ra với sự tham dự của 215 đại biểu, đại diện cho 3.695 đảng viên trong toàn đảng bộ huyện.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 34 đồng chí, Ban Thường vụ 8 đồng chí.
Sau Đại hội, được sự quan tâm của Tỉnh ủy, bộ máy lãnh đạo và các tổ chức của huyện sớm được ổn định và đi vào hoạt động.
Đảng bộ chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn tập trung ngay vào việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ đã đề ra, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. 
Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020 trong điều kiện có nhiều thuận lợi: kinh tế đất nước phục hồi; nhiều cơ chế chính sách của nhà nước, của tỉnh giành cho khu vực miền núi tiếp tục được thực hiện; môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh tiếp tục được cải thiện; Khu kinh tế Nghi Sơn, các công trình, dự án quan trọng của tỉnh Thanh Hóa đã và đang được triển khai thực hiện tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung trong đó có Quan Sơn.
Trong giai đoạn 2015 - 2020, huyện Quan Sơn xác định mục tiêu là “huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, tranh thủ ngoại lực, khơi dậy nội lực để phát triển kinh tế - xã hội, thoát nghèo bền vững, cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân; bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội phấn đấu đến năm 2020 đưa Quan Sơn thoát khỏi huyện nghèo, trở thành huyện khá của khu vực miền núi”.
Để tổ chức lãnh đạo thực hiện thắng lợi và nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020 vào cuộc sống, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khóa V) xây dựng Chương trình hành động thực hiện nghị quyết với những nội dung sau( ).
1. Các khâu đột phá
Trong phát triển kinh tế: Lựa chọn mũi nhọn phát triển lâm nghiệp, các cây nguyên liệu nứa, luồng, gắn với ngành công nghiệp chế biến. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi với quy mô tập trung. Hình thành chợ đầu mối về lâm sản để thu mua và quản lý tốt giá cả thị trường về mặt hàng lâm sản có sản lượng lớn của huyện. Phát triển mạnh mẽ ngành thương mại, dịch vụ, du lịch gắn với lợi thế của huyện như: Cửa khẩu, tài nguyên rừng, tuyến hành lang Quốc lộ 217 kết nối với nước bạn Lào, các danh lam thắng cảnh, bản sắc văn hóa các dân tộc.
Về đầu tư kết cấu hạ tầng: Công bố quy hoạch thị trấn Quan Sơn mở rộng, từng bước đầu tư hạ tầng, sắp xếp lại các cơ quan công sở trên địa bàn; khu trung tâm, thương mại, công viên giải trí, khu dân cư mới. Tham mưu hình thành khu kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, đầu tư xây dựng khu đô thị Trung Hạ, Sơn Điện; nâng cấp hệ thống giao thông xã, bản, hệ thống thủy lợi, các khu di dân tái định cư mang tính cấp thiết và xây dựng công sở các xã theo lộ trình.
Về xây dựng nông thôn mới: Kết hợp các nguồn lực của nhà nước hỗ trợ và đóng góp của nhân dân để đầu tư các công trình hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và dân sinh; vận động người dân chủ động xây dựng bản, xã nông thôn mới một cách bền vững, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng môi trường sinh thái xanh - sạch - đẹp, môi trường xã hội lành mạnh. Phấn đấu đến năm 2020 có trên 30% số bản và 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Về văn hóa - xã hội: Tập trung đầu tư để từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất cho các trường học, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục - đào tạo; từng bước hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất cho các trạm y tế, đội ngũ y bác sỹ để phục vụ tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân; bảo tồn và phát huy tốt bản sắc văn hóa các dân tộc; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2020 xuống dưới mức bình quân của khu vực miền núi.
Về xây dựng Đảng và công tác chỉ đạo: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chi bộ bản, khu phố, chất lượng đội ngũ đảng viên; nhanh chóng kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ chuẩn, có năng lực công tác tốt phục vụ nhu cầu phát triển của huyện.
Đổi mới tư duy, phương pháp, tác phong lề lối công tác; phát huy dân chủ, xây dựng mối đoàn kết, tăng cường kỷ cương, tạo đồng thuận, khơi dậy nội lực và quyết tâm chính trị cao trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
2. Công tác lãnh đạo thực hiện 3 chương trình trọng tâm
Chương trình giảm nghèo bền vững; xây dựng nông thôn mới: Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác xóa đói, giảm nghèo. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chủ trì triển khai Cuộc vận động “Mỗi hộ nghèo phấn đấu thoát nghèo”, hướng dẫn cho người dân tự biết vươn lên trong phát triển kinh tế, tự tạo việc làm và nâng cao thu nhập mang tính bền vững;
Triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Nghị quyết 09 - NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi Thanh Hóa đến năm 2020”; đẩy mạnh phát triển sản xuất tăng thu nhập; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; phấn đấu đến năm 2020 thoát khỏi huyện nghèo.
Ủy ban nhân dân huyện chủ trì, tham mưu cho Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của huyện đánh giá lại tổng thể chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện giai đoạn 2011 - 2015, đề xuất giải pháp chung cho toàn huyện và giải pháp cụ thể cho từng xã, bản trong việc xây dựng nông thôn mới. Xác định quan điểm chỉ đạo trong xây dựng nông thôn mới của huyện theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng thụ”, phát huy hiệu quả nội lực trong nhân dân để chủ động xây dựng nông thôn mới một cách bền vững, chống bệnh thành tích, nóng vội.
Chương trình phát triển kinh tế lâm, nông nghiệp: Triển khai đồng bộ chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TU, ngày 20/4/2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững”, phù hợp với điều kiện khả năng phát triển nông nghiệp của huyện.
Ủy ban nhân dân huyện chủ trì rà soát diện tích rừng nghèo, rừng trồng bị thoái hóa để cải tạo và phát triển trồng rừng kinh tế; phát triển các loại cây lợi thế như: vầu, nứa, luồng; nghiên cứu đưa các loại cây mới vào canh tác như: khoai sọ Mán( ), lúa nếp nương và các loại cây dược liệu quý hiếm... Xây dựng cơ sở chế biến từ nguồn nguyên liệu sẵn có trên địa bàn huyện, hạn chế đến mức thấp nhất xuất thô các sản phẩm từ sản xuất lâm nghiệp.
Chuyển đổi hình thức chăn nuôi gia súc, gia cầm từ chăn thả tự nhiên sang hình thức chăn nuôi chuồng trại, trang trại lớn kết hợp với việc phát triển một số điểm chợ nông thôn để tiêu thụ nông sản của nhân dân, trong đó phát triển các loại con nuôi chủ yếu như: trâu, bò, lợn cỏ, lợn lòi lai, dê và gà đồi... Xây dựng đề án chợ đầu mối về thu mua, bán lâm sản.
Chương trình phát triển nguồn nhân lực: Ban Thường vụ Huyện ủy tham mưu triển khai đề án phát triển nguồn nhân lực của huyện đến năm 2020. Đẩy mạnh xã hội hóa học tập để nâng cao dân trí. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuẩn về chuyên môn; nâng cao hiệu quả đào tạo nghề phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50% trở lên, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lao động xã hội, giải quyết việc làm, ổn định đời sống nhân dân.
3. Công tác lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh được xác định với 6 nội dung sau:
Lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung, điều chỉnh, xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội: UBND huyện tập trung chỉ đạo rà soát, bổ sung, điều chỉnh và xây dựng mới quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời triển khai các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực chủ yếu của huyện đến năm 2020, định hướng đến năm 2025, tầm nhìn 2030. Cụ thể là: quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng; quy hoạch khu đô thị thị trấn Quan Sơn, Na Mèo, Trung Hạ; điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2025 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2020; quy hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; quy hoạch vùng thâm canh trồng cây vầu tập trung và bổ sung nâng cao chất lượng quy hoạch nông thôn mới; phát triển du lịch sinh thái, văn hóa, cộng đồng.
Căn cứ những quy hoạch đã được phê duyệt, UBND huyện chỉ đạo các ngành chức năng công bố công khai, rộng rãi trên cổng thông tin điện tử và các điểm quy hoạch, để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và các tổ chức phi chính phủ; đồng thời tích cực đấu mối với các sở, ban, ngành cấp tỉnh để được bố trí vốn triển khai thực hiện. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, phát huy quyền làm chủ của nhân dân tăng cường giám sát thực hiện quản lý các quy hoạch đã được duyệt.
Phát huy tiềm năng, thế mạnh của huyện, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, tạo bước đột phá về tốc độ, chất lượng tăng trưởng: Ban Thường vụ Huyện ủy xây dựng kế hoạch triển khai hiệu quả Nghị quyết của Huyện ủy về phát triển lâm, nông nghiệp; xác định rõ khâu đột phá trong nông nghiệp của huyện là phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi theo mô hình mới gắn với quản lý bảo vệ rừng. Đầu tư chợ đầu mối lâm sản làm cơ sở để thu mua tập trung, quyết định mặt bằng giá cho các loại cây chủ lực như: vầu, nứa, luồng.
Lựa chọn các khâu đột phá trong phát triển kinh tế như: Nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp, ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt, chăn nuôi; phát triển mô hình trang trại có quy mô lớn, sản xuất tập trung; tham mưu để cấp có thẩm quyền phê duyệt đề án khu kinh tế quốc tế cửa khẩu Na Mèo gắn với phát triển thương mại, du lịch kết nối với nước bạn Lào, vùng Đông Bắc nước Thái Lan.
Xây dựng các cụm công nghiệp quy mô vừa và nhỏ tại Na Mèo, Sơn Điện, Trung Hạ, gắn với khai thác chế biến lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng; khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm, làm thủ công mỹ nghệ, chế biến sản phẩm lâm sản.
Tổ chức sắp xếp hợp lý mạng lưới thương mại gắn với quy hoạch đô thị như: Khu vực thị trấn huyện, Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo và các điểm đông dân cư như: Khu Km 61 xã Sơn Điện, khu Km 22 xã Trung Tiến, chợ Tam Thanh, chợ Sơn Hà... Thực hiện tốt công tác quản lý chợ, đẩy mạnh chương trình xúc tiến thương mại, tìm thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp mà huyện sản xuất.
Đẩy mạnh công tác quảng bá, giới thiệu phát triển kinh tế du lịch ở một số danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử trên địa bàn huyện như: Du lịch sinh thái rừng, địa danh cầu Pha Lò; động Bo Cúng (bản Chanh, xã Sơn Thủy); thác bản Nhài (xã Sơn Điện); động Nang Non (bản Păng, xã Sơn Lư); suối nước nóng bản Pù Khạn (xã Trung Thượng); Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo để tạo môi trường phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện. Ký kết chương trình phát triển du lịch giữa huyện Quan Sơn và huyện Viêng Xay (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) để kết nối tuyến hành lang du lịch.
Tập trung chỉ đạo cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển: Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 02 - NQ/TU của Tỉnh ủy. Tăng cường công tác quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế của huyện Quan Sơn; khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế trong và ngoài huyện đầu tư vào lĩnh vực mà huyện có lợi thế so sánh như: lâm nghiệp, chăn nuôi, thương mại, dịch vụ, du lịch; kinh tế cửa khẩu.
Ủy ban nhân dân huyện tham mưu đề án phát triển đội ngũ doanh nghiệp và doanh nhân của huyện; Khai thác hiệu quả các chính sách về thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; tạo điều kiện để phát triển các mô hình kinh tế hợp tác xã, tổ hợp tác kiểu mới để tăng sức cạnh tranh, phát huy hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại. Có chính sách để khuyến khích hỗ trợ khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống; có cơ chế khuyến khích các hộ gia đình phát triển mạnh kinh tế hộ, gia trại, trang trại, tự tạo việc làm nâng cao thu nhập.
Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho đầu tư phát triển, từng bước hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật của huyện: Phát huy nội lực, tranh thủ các nguồn lực từ tỉnh và các doanh nghiệp từng bước đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, văn hóa, các khu tái định cư, khu đô thị, công sở các xã; trước mắt dồn nguồn lực để xây dựng công trình cấp thiết.
Tranh thủ nguồn vốn đầu tư từ chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và các chương trình dự án khác, ưu tiên lồng ghép đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, văn hóa để đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới.
Có chính sách để kêu gọi thu hút đầu tư vào khu vực trọng điểm kinh tế Trung Hạ; khu đô thị Na Mèo; khu du lịch Động Bo Cúng, xã Sơn Thủy; khu du lịch sinh thái bản Khạn, xã Trung Thượng. Xây dựng điểm phát triển du lịch cộng đồng, các dự án định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số như: Dự án thực hiện định canh, định cư tập trung cho đồng bào dân tộc thiểu số bản Piềng Trang, xã Trung Xuân; bản Chiềng và bản Bơn, xã Mường Mìn; khu Vũng Cộp, xã Sơn Thủy; bản Piềng Vờn, xã Na Mèo; đề án ổn định đời sống, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc Mông huyện Quan Sơn giai đoạn 2016 - 2020. Đến năm 2020 đầu tư hoàn chỉnh hệ thống điện lưới cho 13 bản chưa có điện lưới quốc gia.
Nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa - xã hội; cải thiện chất lượng cuộc sống nhân dân: Phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng đạt chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo; trước mắt xây dựng trường Tiểu học và Trung học cơ sở thị trấn Quan Sơn thành trường trọng điểm chất lượng cao của huyện, bình quân hàng năm xây dựng 2 trường đạt chuẩn quốc gia trở lên. Duy trì vững chắc phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS; tăng cường cơ sở vật chất cho dạy nghề trên địa bàn huyện.
Phát triển sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng cho nhân dân theo hướng hiện đại, dự phòng tích cực và chủ động; đảm bảo mọi người dân đều được khám, chữa bệnh ban đầu và cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản ở cơ sở; làm tốt công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình. Không ngừng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và y đức cho đội ngũ y tế để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở tất cả các tuyến; phấn đấu đến năm 2020 đạt trên 76,9% số xã, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 16%.
Quan tâm đầu tư các thiết chế văn hóa cơ sở; xây dựng hoàn thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện. Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ văn hóa và các hạt nhân văn hóa thể thao cơ sở. Phát động sâu rộng phong trào rèn luyện thể dục thể thao, các hội thao, hội diễn ở cơ sở và trong trường học.
Đổi mới công tác thông tin tuyên truyền với các hình thức sinh động để đến với đồng bào các dân tộc. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho hệ thống truyền thanh - truyền hình, nhằm phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phổ biến các tiến bộ khoa học kỹ thuật và phục vụ nhu cầu giải trí của nhân dân.
Đảm bảo vững chắc quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội; thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân; công tác quản lý bảo vệ rừng: Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 28 - NQ/TW của Bộ Chính trị về việc xây dựng thế trận khu vực trong phòng thủ huyện vững chắc trong tình hình mới. Làm tốt công tác quân sự địa phương, sẵn sàng chủ động trong mọi tình huống.
Tạo mọi điều kiện và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng như: Quân sự, Biên phòng, Công an, Kiểm lâm đảm bảo vững chắc an ninh biên giới, an ninh tôn giáo; phòng chống cháy rừng, ngăn chặn kịp thời việc tuyên truyền xây dựng nhà nước Mông của các thế lực thù địch.
 Phát động sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh trật tự; phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm, các tệ nạn xã hội như nghiện hút ma túy, nạn cờ bạc, số đề...
Đẩy mạnh các biện pháp kiềm chế tai nạn giao thông, vi phạm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn, nhất là tuyến Quốc lộ 217. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể phát động phong trào xây dựng tuyến hành lang Quốc lộ 217 xanh - sạch - đẹp; vận động nhân dân xung kích tự quản các tuyến đường huyện, xã, bản một cách thiết thực và bền vững.
Duy trì nghiêm túc chế độ tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân ngay từ cơ sở không để xảy ra khiếu kiện đông người, vượt cấp.
Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp và cơ quan bảo vệ pháp luật trong sạch vững mạnh, thực sự là công cụ sắc bén của Đảng và là chỗ dựa tin cậy của nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp công tác thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các vụ việc xử lý vi phạm pháp luật, nhằm tạo môi trường lành mạnh cho phát triển kinh tế - xã hội.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân, xây dựng đường biên giới thân thiện, hữu nghị; tăng cường giao lưu kết nghĩa, làm sâu sắc thêm mối đoàn kết gắn bó keo sơn giữa nhân dân các dân tộc Quan Sơn với các bản, huyện của nước bạn Lào nơi có chung đường biên giới.
Các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và vận động nhân dân làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, phát triển rừng bền vững; duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng 84% vào năm 2020. Ban hành Nghị quyết về bảo vệ môi trường, đảm bảo đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng, chống săn bắt, sử dụng động vật quý hiếm.
4. Công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, được xác định với 7 nội dung sau:
Coi trọng công tác chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên: Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tập trung làm tốt công tác chính trị tư tưởng để mỗi cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân hiểu rõ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Thanh Hóa về phát triển miền núi, xóa đói giảm nghèo; tạo sự quyết tâm, chủ động để phát huy nội lực của huyện trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng huyện Quan Sơn trở thành huyện khá.
Các trường học, trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện có kế hoạch cụ thể để đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, triển khai học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); xây dựng đội ngũ cán bộ trách nhiệm, tận tụy phục vụ nhân dân.
Tập trung xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên: Chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, nhất là chi bộ đảng ở địa bàn dân cư; phát triển đảng viên ở các bản, nâng cao chất lượng đảng viên. Ban Thường vụ Huyện ủy triển khai đề án “Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chi bộ bản, khu phố”.
Ban Tổ chức Huyện ủy tham mưu để Ban Thường vụ, Ban Chấp hành thường xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch nguồn cán bộ, đi đôi với việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đánh giá, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ có năng lực thực tế, đồng thời quan tâm đến chính sách cán bộ một cách hợp lý.
Không ngừng mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch trong đánh giá, nhận xét cán bộ. Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt cấp ủy, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, cán bộ tham mưu.
 Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành đề án luân chuyển đội ngũ cán bộ tại các xã, thị trấn theo tinh thần Kết luận 60 - KL/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tiếp tục thực hiện đề án điều động, luân chuyển một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện đảm nhiệm các chức danh chủ chốt ở cơ sở, điều động một số chức danh Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND không phải là người địa phương.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và Ủy ban kiểm tra các cấp, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh: Nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng và Ủy ban kiểm tra các cấp về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp ủy đảng, Ủy ban kiểm tra các cấp, trước hết là người đứng đầu cấp ủy.
 Xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát toàn khóa, hàng năm; chú trọng tổ chức kiểm tra tổ chức cơ sở đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm; tập trung kiểm tra, giám sát những ngành, lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra sai phạm như: quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên; chi tiêu ngân sách, mua sắm tài sản; quản lý đầu tư xây dựng cơ bản; giải phóng mặt bằng; thực hiện các chương trình, dự án; việc thu và phân bổ các quỹ phòng chống thiên tai, từ thiện.. để chủ động phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn những sai phạm.
Tiến hành kiểm tra, giám sát những nơi có dấu hiệu vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định có tính nguyên tắc trong tổ chức sinh hoạt Đảng, mất đoàn kết nội bộ. Kiểm tra, giám sát người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về năng lực lãnh đạo, quản lý; về phẩm chất đạo đức lối sống; về phong cách và tính tiên phong gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ; thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ thi hành kỷ luật trong Đảng đảm bảo nguyên tắc, thủ tục giữ vững kỷ cương và tăng cường kỷ luật của Đảng.
 Duy trì hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020.
Đổi mới công tác dân vận trong tình hình mới: Xây dựng, triển khai đề án đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Dân vận ở cơ sở giai đoạn 2016 - 2020, trọng tâm là triển khai thực hiện Chỉ thị 49 - CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”; thực hiện tốt Quy chế dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc.
 Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phong trào thi đua dân vận khéo trong xây dựng nông thôn mới. Thường xuyên sâu sát cơ sở, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, nổi cộm của nhân dân.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc: Các cấp ủy đảng tập trung xây dựng Quy chế làm việc, Chương trình công tác toàn khóa và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cấp mình; đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy đảng.
Nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương và nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng.
Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải tiến lề lối, tác phong công tác của các Ban Đảng, Văn phòng Huyện ủy và Đảng ủy các xã, thị trấn; phát huy có hiệu quả mạng công nghệ thông tin phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy từ huyện đến cơ sở.
Tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động của Hội đồng nhân dân; nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp;
Quán triệt triển khai Luật tổ chức chính quyền địa phương; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và trách nhiệm của đại biểu HĐND các cấp; chủ động phối hợp xây dựng chương trình và kế hoạch giám sát có trọng tâm, trọng điểm; đổi mới nâng cao chất lượng các buổi tiếp xúc cử tri.
Nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành của UBND các cấp, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành, quản lý thống nhất trong hoạt động của bộ máy hành chính từ huyện đến cơ sở. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về các mặt yếu kém, tồn tại kéo dài như: Quản lý xây dựng dân dụng, lấn chiếm lòng lề đường; quản lý tài nguyên; Các dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước; công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông; bảo tồn các giá trị văn hóa cộng đồng.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nêu cao trách nhiệm thực thi công vụ trong đội ngũ cán bộ công chức; đồng thời cương quyết xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ luật, vi phạm quy chế, không hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, hội quần chúng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân: Các cấp ủy đảng tăng cường lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, hội quần chúng theo hướng đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng; chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên, hội viên và nhân dân; thực hiện tốt chức năng tư vấn, giám sát, phản biện xã hội.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phát huy tốt trách nhiệm, sâu sát với cơ sở, nắm chắc tình hình cơ sở, gắn bó mật thiết với nhân dân; tạo mọi điều kiện để nhân dân phát huy dân chủ, tham gia góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Ban Dân vận Huyện ủy chủ trì phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xây dựng đề án khơi dậy sức dân, phát huy nội lực, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ rừng, giữ vững quốc phòng - an ninh.
Sau gần 20 năm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quan Sơn, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực, phát huy được thế mạnh của huyện, các ngành nghề truyền thống được khôi phục, một số ngành nghề mới được phát triển, góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo. Văn hóa xã hội Quan Sơn có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Quốc phòng an ninh được củng cố và tăng cường, góp phần tích cực vào thành tựu chung của tỉnh và cả nước. Đảng bộ huyện Quan Sơn không ngừng được củng cố cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Hoạt động của chính quyền có nhiều đổi mới. Nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn huyện. Mặc dù vẫn còn một số hạn chế và phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, song những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân huyện Quan Sơn đạt được trong gần 20 năm là rất quan trọng, tạo tiền đề để Đảng bộ và nhân dân Quan Sơn phát huy nội lực, kết hợp ngoại lực, xây dựng Quan Sơn ngày càng phát triển

Chương 4. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
4.1. TỔ CHỨC ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN

4.1.1. Đảng bộ huyện Quan Sơn
4.1.1.1. Quá trình hình thành, xây dựng và phát triển 
Ngày 16 tháng 12 năm 1996, Tỉnh ủy Thanh Hóa ra Quyết định số 131-QĐ/TU thành lập Đảng bộ huyện Quan Sơn và Quyết định số 136-QĐ/TU, chỉ định Ban Chấp hành Huyện ủy lâm thời(1). Khi mới thành lập, Đảng bộ huyện Quan Sơn có 9 Đảng bộ xã: Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Hà, Sơn Lư, Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Sơn Thủy và 2 Đảng bộ lâm trường với tổng số 860 đảng viên. Ban Chấp hành Huyện ủy lâm thời gồm 15 đồng chí, Ban Thường vụ gồm 5 đồng chí.(2)
Trải qua chặng đường xây dựng, phát triển và trưởng thành, Đảng bộ huyện Quan Sơn đã tiến hành 5 kỳ đại hội: Đại hội lần thứ I, nhiệm kỳ 1997 - 2000; Đại hội lần thứ II, nhiệm kỳ 2000 - 2005; Đại hội lần thứ III, nhiệm kỳ 2005 - 2010; Đại hội lần thứ IV, nhiệm kỳ 2010 - 2015; Đại hội lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020. Các kỳ đại hội đã đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho toàn Đảng bộ thực hiện nghị quyết của đại hội, nhằm đáp ứng yêu cầu tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước.
DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH HUYỆN ỦY LÂM THỜI
(Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1997)
TT    Họ và tên    Chức vụ    Ghi chú
1    Hà Văn Thương    Bí thư Huyện ủy    
2    Hà Văn Thông    Phó Bí thư Trường trực Huyện ủy    
3    Phạm Văn Thư    Phó Bí thư - Chủ tịch UBND huyện    
4    Hà Văn Thống    UV BTV, Chỉ huy Trưởng BCH QS huyện    
5    Trịnh Đình Xu    UV BTV, Trưởng Công an huyện    
6    Lữ Văn Xiệt    UV BCH, Phó Chủ tịch UBND huyện    
7    Lò Đình Múi    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Tam Lư    
8    Phạm Phú Hào    UV BCH, Phó Chủ tịch UBND huyện    
9    Hà Chí Nông    UV BCH, Trưởng Ban Tuyên giáo    
10    Lương Hồng Thuân    UV BCH, Trưởng Ban Tổ chức    
11    Hoàng Đại    UV BCH, Giám đốc Lâm trường Na Mèo    
12    Hà Văn Đoàn    UV BCH, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra    
13    Nguyễn Văn Đồng    UV BCH, Phó phòng Tài chính - Kế hoạch    
14    Nguyễn Văn Hiếu    UV BCH, Giám đốc Trung tâm Y tế    
15    Lữ Văn Tự    UV BCH, Chủ tịch Ủy ban MTTQ huyện    
Đại hội Đảng bộ lần thứ I
Cùng với xây dựng hệ thống chính quyền, đoàn thể, Huyện ủy lâm thời đã ra quyết định thành lập thêm 3 Đảng bộ cơ quan, 6 chi bộ trực thuộc, nâng tổng số lên 20 đảng bộ, chi bộ trực thuộc.
Đảng bộ huyện Quan Sơn đã tiến hành Đại hội lần thứ I (từ ngày 26 đến ngày 27 tháng 6 năm 1997). Đại hội có sự tham dự của 122 đại biểu thuộc 20 tổ chức Đảng trong huyện. Trong không khí phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Đại hội đã đánh giá tình hình hoạt động trong 6 tháng đầu năm 1997 những thành công, hạn chế trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng - an ninh... từ đó, đề ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp, Đại hội chỉ rõ: Thuận lợi lớn nhất là có đường lối Đại hội VIII của Đảng soi sáng và những thành tựu bước đầu đạt được trên các lĩnh vực (chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng - an ninh) là nguồn cổ vũ to lớn đối với Đảng bộ và đồng bào các dân tộc trong huyện. Đặc biệt là từ khi thành lập, Đảng bộ và nhân dân huyện Quan Sơn đã đoàn kết, thống nhất, chung sức, chung lòng vượt qua khó khăn thách thức, khai thác tiềm năng, thế mạnh của huyện để xây dựng quê hương, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội.
Thành công của Đại hội Đảng bộ huyện Quan Sơn lần thứ I đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ quê hương. Mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc ở Quan Sơn lúc này là phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ý thức rõ yêu cầu tất yếu khách quan đó, Huyện ủy đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp sắc bén, tổ chức chỉ đạo Đảng bộ, nhân dân huyện nhà phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ Nhất.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 33 đồng chí; Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí.
DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ
BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUAN SƠN
KHÓA I, NHIỆM KỲ 1997 - 2000
TT    Họ và tên    Chức vụ    Ghi chú
1    Hà Văn Thương    Bí thư Huyện ủy    
2    Hà Văn Thông    Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy     
3    Phạm Văn Thư    Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện     
4    Lương Hồng Thuân    UV BTV, Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy    
5    Hà Chí Nông    UV BTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy    
6    Hà Văn Đoàn    UV BTV, Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy    
7    Lữ Văn Tự    UV BTV, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc huyện    
8    Lữ Văn Xiệt    UV BTV, Phó Chủ tịch UBND huyện    
9    Lò Đình Múi    UV BTV, Phó Chủ tịch HĐND huyện    
10    Trịnh Đình Xu    UV BTV, Trưởng Công an huyện    
11    Hà Văn Thống    UV BTV, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện    
12    Lữ Xuân Báo    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Tam Lư    
13    Hoàng Đại    UV BCH, Giám đốc Lâm trường Na Mèo    
14    Lữ Trọng Đạm    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Trung Thượng    
15    Lương Ngọc Đặng    UV BCH, Trưởng phòng NN và PTNT    
16    Phạm Bá Diệm    UV BCH, Trưởng Phòng Tổ chức LĐ Thương binh và Xã hội    
17    Hà Tuyến Din    UV BCH, Chủ tịch Hội Nông dân    
18    Lương Văn Ếu    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Tam Thanh    
19    Lò Văn Hán    UV BCH, Bí thư Đảng ủy thị trấn Quan Sơn    
20    Phạm Phú Hào    UV BCH, Phó Chủ tịch UBND huyện    
21    Vi Xuân Hiệp    UV BCH, Chánh văn phòng Huyện ủy    
22    Nguyễn Văn Hiếu    UV BCH, Giám đốc Trung tâm Y tế    
23    Phạm Quang Hòa    UV BCH, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo    
24    Hà Văn Khêu    UV BCH, Phó Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy    
25    Hà Hoàn Kiếm    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Trung Hạ    
26    Phạm Hồng Kiêu    UV BCH, Bí thư Huyện đoàn    
27    Lê Hùng Mạnh    UV BCH, Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch    
28    Mai Bá Nam    UV BCH, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo    
29    Hà Xuân Thiện    UV BCH, Thường vụ trực Đảng ủy xã Trung Xuân    
30    Ngân Thị Thới    UV BCH, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện    
31    Phạm Xuân Tiên    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Na Mèo    
32    Phạm Bá Vát    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Mường Mìn    
33    Hà Văn Xếm    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Hà    

Đại hội Đảng bộ lần thứ II
Đại hội Đảng bộ lần thứ II (nhiệm kỳ 2000 - 2005) diễn ra từ ngày 20 đến 22 tháng 10 năm 2000, tham dự Đại hội có 127 đại biểu đại diện cho 1.420 đảng viên của Đảng bộ huyện. Đại hội đã tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả một nhiệm kỳ hoạt động, rút ra nguyên nhân các mặt thành công, hạn chế; xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ, nhiệm kỳ 2000 - 2005.
Vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương chiến lược của Đảng trong điều kiện cụ thể của huyện, Đại hội xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm kỳ 2000 - 2005 là: “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng và cộng đồng; khai thác và sử dụng hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện địa hóa. Cụ thể là: lấy cây luồng, cây vầu, nứa làm cây kinh tế mũi nhọn; lấy cây lúa, ngô, sắn làm cây lương thực chính; lấy chăn nuôi đại gia súc, gia cầm làm con nuôi chủ yếu, lấy trang trại vừa và nhỏ làm mô hình sản xuất cơ bản; lấy phát triển văn hóa, nâng cao dân trí, đào tạo lực lượng lao động và ổn định chính trị xã hội làm điều kiện phát triển”.
Trong nhiệm kỳ này, Đảng bộ tập trung xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đảm bảo cho bản lĩnh cách mạng, năng lực trí tuệ, khả năng tổ chức thực tiễn của cán bộ, đảng viên, tổ chức cơ sở đảng và toàn Đảng bộ được tăng cường. Ban Thường vụ đã cử 194 cán bộ, đảng viên theo học các lớp trung cấp và cao cấp chính trị, chỉ đạo Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện mở 77 lớp bồi dưỡng lý luận, chuyên môn nghiệp vụ cho 1.992 lượt cán bộ, đảng viên. Kết nạp mới 789 đảng viên, tỉ lệ đảng viên nữ, đảng viên trẻ ngày càng tăng. Tính đến hết năm 2005, tổng số đảng viên toàn Đảng bộ huyện là 2.087 đồng chí. Quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng được 374 cán bộ từ huyện đến cơ sở; tổ chức cho 285 đồng chí hoàn thành tốt nghiệp trung học phổ thông, 5 đồng chí học trung cấp chuyên nghiệp; bổ nhiệm mới 62 đồng chí, bổ nhiệm lại 27 đồng chí cán bộ lãnh đạo.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện gồm 33 đồng chí; Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí.
DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ
 BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUAN SƠN
KHÓA II, NHIỆM KỲ 2000 - 2005
TT    Họ và tên    Chức vụ    Ghi chú
1    Hà Văn Thương    Bí thư Huyện ủy    Tháng 10/2002 chuyển công tác về UB MTTQ tỉnh 
2    Hà Văn Thông    Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy    Tháng 12/2002 làm Bí thư Huyện ủy
3    Phạm Văn Thư    Phó Bí thư - Chủ tịch UBND huyện    Tháng 06/2004 chuyển công tác về Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa
4    Lò Đình Múi    Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy (Từ tháng 3/2003)
    Từ tháng 4/2004 làm Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện
5    Lương Hồng Thuân    UV BTV, Trưởng ban Tổ chức    
6    Hà Chí Nông    UV BTV, Trưởng ban Tuyên giáo    
7    Hà Văn Đoàn    UV BTV, Chủ nhiệm UB KT    
8    Lữ Văn Tự    UV BTV, Chủ tịch UB MTTQ huyện    
9    Lữ Văn Xiệt    UV BTV, Phó Chủ tịch UBND huyện    
10    Hà Văn Thống    UV BTV, Chỉ huy trưởng BCH Quân sự huyện     Đến tháng 04/2004
11    Trịnh Đình Xu    UV BTV, Trưởng Công an huyện    
12    Phạm Bá Diệm    UV BTV, Phó Chủ tịch HĐND huyện (từ tháng 07/2003),    Từ tháng 7/2014 làm Phó Bí thư trực Huyện ủy 
13    Trịnh Đức Hồng    UV BTV, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện    Bổ sung từ tháng 06/2004
14    Ngân Thị Thới    UV BTV, Phó Chủ tịch HĐND huyện    Bổ sung từ UV BCH lên UV BTV tháng 06/2004
15    Phạm Phú Hào    UV BTV, Phó Chủ tịch UBND huyện    Bổ sung từ UV BCH lên UV BTV tháng 06/2004
16    Vi Thanh Chướng    UV BCH - Phó Trưởng ban Dân vận Huyện ủy    
17    Phạm Xuân Cừ    UV BCH - Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Lâm trường Na Mèo    
18    Lữ Trọng Đạm    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Trung Thượng    
19    Lương Ngọc Đặng    UV BCH, Trưởng phòng NN - PTNT    
20    Hà Tuyến Din    UV BCH, Chủ tịch Hội Nông dân huyện    
21    Vi Thanh Dưa    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Thủy    
22    Lương Văn Ếu    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Tam Thanh    
23    Vi Xuân Hiệp    UV BCH, Chánh văn phòng Huyện ủy    
24    Nguyễn Văn Hiếu    UV BCH, Giám đốc Trung tâm Y tế    
25    Lương Văn Hoan    UV BCH, Phó Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy    
26    Phạm Hồng Kiêu    UV BCH, Bí thư Huyện đoàn    
27    Vi Văn Lăng    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Lư    
28    Lê Hùng Mạnh    UV BCH, Trưởng phòng Tài chính    
29    Mai Bá Nam    UV BCH, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo    
30    Lò Văn Phiên    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Điện    
31    Đào Ngọc Thạch    UV BCH, Giám đốc Ngân hàng NN&PTNN (đến tháng 05/2003)    
32    Phạm Xuân Tiên    UV BCH - Bí thư Đảng ủy xã Na Mèo    
33    Lê Văn Toàn    UV BCH, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm (đến tháng 10/2004)    
34    Phạm Bá Vát    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Mường Mìn    
Đại hội Đảng bộ lần thứ III
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III, nhiệm kỳ 2005 - 2010 diễn ra từ ngày 22 - 23 tháng 10 năm 2005, gồm 199 đại biểu đại diện cho 2.087 đảng viên của toàn Đảng bộ huyện tham dự. Đại hội có nhiệm vụ đóng góp ý kiến cho văn kiện dự thảo của Đại hội X của Đảng và Đại hội XVI của Đảng bộ tỉnh, tổng kết đánh giá một nhiệm kỳ hoạt động, xác định phương hướng nhiệm vụ mục tiêu, giải pháp và bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, nhiệm kỳ 2005 - 2010.
Đánh giá về những thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ 2000 - 2005, Đại hội đã khẳng định: “Trong 5 năm qua, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đảng bộ và đồng bào các dân tộc huyện nhà đã đoàn kết thống nhất, khắc phục mọi khó khăn thách thức, ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II, tạo ra những thành tích và kết quả to lớn. Nền kinh tế huyện nhà đã có bước phát triển và tăng trưởng khá, giá trị kinh tế các ngành nông - lâm - thủ công - thương mại - dịch vụ đều tăng so với năm 2000. Đặc biệt là kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật kinh tế - xã hội có bước phát triển mới, toàn diện, sâu sắc. Hàng trăm công trình giao thông, thủy lợi, điện, nước, hệ thống trường học, bệnh viện, trạm y tế, đài truyền thanh truyền hình, bưu chính viễn thông, các khu trung tâm kinh tế cụm xã, hệ thống chợ thị trấn, chợ biên giới, chợ nông thôn, hệ thống trụ sở cơ quan cấp huyện, cấp xã được xây dựng mới làm thay đổi cơ bản bộ mặt của một huyện miền núi cao biên giới, tạo ra những điều kiện cơ bản thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, cải thiện đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được xây dựng, củng cố vững chắc, tạo ra sức mạnh giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh khu vực biên giới. Hệ thống chính trị được xây dựng vững chắc, quy chế dân chủ cơ sở được triển khai sâu rộng, niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng được nâng cao.
Trên cơ sở đó, Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ, các giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, giải pháp về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị và ban hành Nghị quyết Đại hội để chỉ đạo thực hiện. 
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khóa III) gồm 35 đồng chí; Ban Chấp hành bầu ban Thường vụ gồm có 11 đồng chí. Đại hội Đảng bộ huyện thành công tạo ra những điều kiện quan trọng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa quê hương.

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ
BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUAN SƠN
KHÓA III, NHIỆM KỲ 2005 - 2010
TT    Họ và tên    Chức vụ    Ghi chú
1    Phạm Bá Diệm    Bí thư Huyện ủy    
2    Hà Chí Nông    Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy    
3    Lò Đình Múi    Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện    
4    Lữ Văn Tự    UV BTV, Trưởng ban Tổ chức    
5    Lương Hồng Thuân    UV BTV, Trưởng ban Tuyên giáo    
6    Hà Văn Đoàn    UV BTV, Chủ nhiệm UB Kiểm tra    
7    Hà Tuyến Din    UV BTV, Trưởng ban Dân vận    
8    Phạm Phú Hào    UV BTV, Phó Chủ tịch UBND huyện    
9    Ngân Thị Thới    UV BTV, Phó Chủ tịch HĐND huyện    
10    Trịnh Đức Hồng    UV BTV, Chỉ huy Trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện     Đến tháng 03/2010
11    Lê Văn Ba    UV BTV, Chỉ huy trưởng BCH Quân sự huyện     Từ tháng 04/2010
12    Trịnh Đình Xu    UV BTV, Trưởng Công an huyện     Đến tháng 03/2010
13    Lê Duy Long    UV BTV, Trưởng Công an huyện     Từ tháng 04/2010
14    Phạm Xuân Cừ    UV BCH, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc BQL Rừng phòng hộ Na Mèo    
15    Lữ Trọng Đạm    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Trung Thượng    
16    Nguyễn Văn Đồng    UV BCH, Phó Trưởng phòng Tài chính    
17    Nguyễn Thị Dung    UV BCH, Giám đốc Kho bạc    
18    Đào Thành Dũng    UV BCH, Trưởng phòng Công thương    
19    Doãn Ngọc Hài    UV BCH, Bí thư Huyện đoàn    
20    Lò Văn Hán    UV BCH, Bí thư Đảng ủy thị trấn Quan Sơn    
21    Vi Xuân Hiệp    UV BCH, GĐ Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị    
22    Nguyễn Văn Hiếu    UV BCH, GĐ Trung tâm Y tế     Đến tháng 9/2007
23    Hà Thị Hường    UV BCH, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ    
24    Hà Xuân Khanh    UV BCH, Phó Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy    
25    Lương Văn Khánh    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Điện    
26    Hoàng Văn Kiện    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Thủy    
27    Phạm Hồng Kiêu    UV BCH, Chánh Văn phòng Huyện ủy    
28    Mai Bá Nam    UV BCH, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo     Đến tháng 04/2007
29    Lương Thị Ngoan    UV BCH, Phó Chủ tịch UBND huyện    
30    Lê Thanh Ngợi    UV BCH, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm     Đến 12/2006
31    Lương Văn Noọng    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Tam Thanh    
32    Phạm Thanh Quân    UV BCH, Chủ tịch Hội Nông dân huyện    
33    Lò Văn Quyến    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Trung Xuân    
34    Vi Văn Thẹm    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Mường Mìn    
35    Lộc Hữu Thương    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Tam Lư    
36    Phạm Xuân Tiên    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Na Mèo    
37    Vi Xuân Vượng    UV BCH, Trưởng phòng Nội vụ    

Đại hội Đảng bộ lần thứ IV
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IV, nhiệm kỳ 2010 - 2015 diễn ra từ ngày 24 đến 25 tháng 7 năm 2010 với sự tham gia của 211 đại biểu đại diện cho hơn 2.900 đảng viên trong toàn Đảng bộ huyện.
Đại hội đánh giá về những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn đã đạt được trong giai đoạn 2005 - 2010, đã vượt qua những khó khăn thách thức, một số chỉ tiêu kinh tế đã đạt và vượt kế hoạch; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân cao hơn so với thời kỳ 2001 - 2005; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng và từng bước khai thác được tiềm năng thế mạnh của huyện; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được tăng cường; các thành phần kinh tế đang từng bước phát triển và bước đầu đạt được những kết quả đáng phấn khởi; văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ và ngày càng được xã hội hóa; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện; chính trị xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được tăng cường, trật tự xã hội đảm bảo, an ninh biên giới luôn được giữ vững, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được chú trọng; hệ thống chính quyền được quan tâm xây dựng và củng cố; cải cách hành chính đạt được những kết quả bước đầu; hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành không ngừng được nâng lên; hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội ngày càng thiết thực hơn.
Trong nhiệm kỳ, đã cử đi đào tạo lý luận chính trị cho 171 đồng chí, mở được 56 lớp bồi dưỡng, huấn luyện cho 5.384 lượt cán bộ, đảng viên. Số cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh hằng năm đều tăng, số cơ sở đảng yếu kém giảm (năm 2005 tỉ lệ cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh là 70%, đến năm 2009 tăng lên 81% và không còn cơ sở yếu kém). Chất lượng đảng viên và công tác quản lý đảng viên có nhiều chuyển biến, việc đánh giá phân loại tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được đổi mới. Công tác phát triển đảng viên mới được chú trọng. Trong nhiệm kỳ, đã kết nạp mới được 985 đảng viên, nâng tổng số đảng viên lên gần 3.000 đồng chí.
Đại hội đã đề ra phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể để phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, quốc phòng - an ninh và công tác xây dựng Đảng, Đại hội xác định: “Tập trung xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh. Tiếp tục đổi mới công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; Đẩy mạnh việc thực hiện các cuộc vận động, điển hình là cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tiếp tục đổi mới công tác tổ chức cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra giám sát; nâng cao chất lượng công tác dân vận; đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách làm việc của cấp ủy và các tổ chức đảng; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; đổi mới nội dung, phương thức vận động quần chúng của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội.”
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khóa IV) gồm 35 đồng chí; Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí.

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ
BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUAN SƠN
KHÓA IV, NHIỆM KỲ 2010 - 2015
TT    Họ và tên    Chức vụ    Ghi chú
1    Phạm Bá Diệm    Bí thư Huyện ủy     Đến tháng 3/2013
2    Vi Xuân Hiệp    Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy    
3    Lò Đình Múi    Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện     Tháng 4/2013 làm Bí thư Huyện ủy 
4    Hoàng Văn Kiện    UV BTV, Trưởng ban Tổ chức    
5    Lương Hồng Thuân    UV BTV, Trưởng ban Tuyên giáo    
6    Hà Văn Đoàn    UV BTV, Chủ nhiệm UB Kiểm tra    
7    Hà Xuân Khanh    UV BTV, Trưởng ban Dân vận    
8    Lương Thị Ngoan    UV BTV, Phó Chủ tịch UBND huyện    
9    Ngân Thị Thới    UV BTV, Phó Chủ tịch HĐND huyện    
10    Lê Văn Ba    UV BTV, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện    
11    Lê Duy Long    UV BTV, Trưởng Công an huyện    
12    Bùi Khắc Cảnh    UV BCH, Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường    
13    Hà Văn Công    UV BCH, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa    
14    Nguyễn Văn Đồng    UV BCH, Phó Chủ tịch UBND huyện (từ tháng 10/2010 đến tháng 6/2013)    Từ tháng 7/2013 đến tháng 12/2015 làm PBT, Chủ tịch UBND huyện 
15    Vi Thanh Dón    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Thủy    
16    Đào Thành Dũng    UV BCH, Trưởng phòng Công thương    
17    Doãn Ngọc Hài    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Hà    
18    Lò Văn Hán    UV BCH, Bí thư Đảng ủy thị trấn    
19    Lữ Thanh Hiệng    UV BCH, Phó Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy    
20    Hà Thị Hương    UV BCH, Bí thư Huyện đoàn    
21    Hà Thị Hường    UV BCH, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ    
22    Lương Văn Khánh    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Điện    
23    Phùng Khắc Khoa    UV BCH, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra    
24    Phạm Hồng Kiêu    UV BCH, GĐ Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện    
25    Phạm Bá Luyến    UV BCH, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo    
26    Hà Văn Phong    UV BCH, Phó Bí thư Đảng ủy xã Tam Thanh    
27    Lò Văn Quyến    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Trung Xuân    
28    Lương Văn Sinh    UV BCH, Chủ tịch Ủy ban MTTQ huyện    
29    Đào Hữu Tàu    UV BCH, Chánh văn phòng Huyện ủy    
30    Lương Tiến Thành    UV BCH, Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch    
31    Phạm Ngọc Tin    UV BCH, Chi cục Trưởng Chi cục thuế    
32    Mạc Văn Tính    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Trung Tiến    
33    Nguyễn Ngọc Văn    UV BCH, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc BQL Rừng phòng hộ Na Mèo    
34    Vi Xuân Vượng    UV BCH, Trưởng phòng Nội vụ    
35    Vi Hồng Xiêng    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Na Mèo    

Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V 
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020 diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 8 năm 2015 với sự tham gia của 215 đại biểu đại diện cho 3.695 đảng viên trong toàn Đảng bộ huyện.
Đại hội đã đánh giá trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được những kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Cộng đồng đoàn kết, dân chủ, kỷ cương được giữ vững; cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển; công tác trồng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng được quan tâm, tạo bước đột phá cho phát triển kinh tế. Công tác giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn được quan tâm; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên; việc xóa đói, giảm nghèo và các chính sách an sinh xã hội thực hiện có hiệu quả. Quốc phòng - an ninh luôn ổn định. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được quan tâm; phương thức lãnh đạo và lề lối làm việc của các cấp ủy Đảng tiếp tục đổi mới; nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm túc.
Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, Đại hội xác định rõ phương hướng là tiếp tục nâng cao năng lực và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong sản xuất; chú trọng phát triển lâm - nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng nông thôn mới gắn với giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, đảm bảo an sinh xã hội. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đẩy mạnh các lĩnh vực văn hóa, xã hội, đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội; Thực hiện thành công các chương trình trọng tâm của giai đoạn này là: Chương trình giảm nghèo bền vững, gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển du lịch; Chương trình phát triển kinh tế lâm, nông nghiệp, trọng tâm là cải tạo rừng nghèo, vườn tạp và nâng cao tầm vóc đàn gia súc; Chương trình phát triển nguồn nhân lực. 
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V thể hiện quyết tâm chính trị to lớn của toàn Đảng bộ, phấn đấu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy Đảng, quyết tâm xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, khai thác tốt các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu đến năm 2020 đưa huyện Quan Sơn thoát nghèo bền vững.
 Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện lần thứ V, nhiệm kỳ 2015 - 2020 gồm 37 đồng chí, Ban Thường vụ 8 đồng chí.
Sau Đại hội, được sự quan tâm của Tỉnh ủy, bộ máy lãnh đạo và các tổ chức của huyện sớm được ổn định và đi vào hoạt động.
Đảng bộ chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn tập trung ngay vào việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ đã đề ra, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. 

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ
BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUAN SƠN
KHÓA V, NHIỆM KỲ 2015 - 2020
TT    Họ và tên    Chức vụ    Ghi chú
1    Nguyễn Ngọc Tiến    Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện    Tháng 9 năm 2015
2    Vi Xuân Hiệp    Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy    Tháng 12/2015 chuyển công tác
3    Bùi Mạnh Khoa    Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy    Tháng 1 năm 2016
4    Vũ Văn Đạt    Phó Bí thư - Chủ tịch UBND huyện     Từ tháng 11/2015
5    Hoàng Văn Kiện    UV BTV, Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy     Tháng 12/2015 chuyển công tác
6    Phùng Khắc Khoa    UV BTV, Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy    
7    Phạm Hồng Kiêu    UV BTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy     Từ tháng 01/2016
8    Hà Xuân Khanh    UV BTV, Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy    
9    Hà Văn Công    UV BTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy     Tháng 12/2015 chuyển công tác
10    Chu Đình Trọng    UV BTV, Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy    
11    Hà Thị Hương    UV BTV, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND huyện    
12    Lương Tiến Thành    UV BTV, Phó Chủ tịch UBND huyện    
13    Nguyễn Anh Tuấn    UV BTV, Chỉ huy Trưởng BCHQS huyện    
14    Hoàng Chí Đăng    UV BTV, Trưởng Công an huyện    
15    Nguyễn Văn Bình    UV BCH, Phó Chủ tịch UBND huyện    
16    Lương Thị Hạnh    UV BCH, Phó Chủ tịch UBND huyện    
17    Đinh Long Sen    UV BCH, Phó Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy    
18    Hoàng Văn Sơn    UV BCH, Phó Chủ tịch HĐND huyện    
19    Lữ Thanh Hiệng    UV BCH, Giám đốc TTBD Chính trị huyện    
20    Trịnh Vinh Lực    UV BCH, Trưởng Phòng Nội vụ    
21    Nguyễn Văn Minh    UV BCH, Trưởng Phòng Kinh tế hạ tầng huyện    
21    Trịnh Hoàng Anh    UV BCH, Trưởng Phòng Khuyến nông huyện    
22    Lê Đình Xuân    UV BCH, Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo    
23    Phạm Bá Hào    UV BCH, Chánh Thanh tra huyện    
24    Lương Văn Sinh    UV BCH, Chủ tịch UBMTTQ huyện    
25    Hà Thị Hường    UV BCH, Chủ tịch Hội LHPN huyện    
26    Đào Hữu Tàu    UV BCH, Chủ tịch Hội Nông dân huyện    
27    Lữ Văn Hà    UV BCH, Bí thư Huyện đoàn    
28    Hà Văn Mới    UV BCH, Chủ tịch LĐLĐ huyện    
29    Lữ Văn Luân    UV BCH, Giám đốc TTYT huyện    
30    Nguyễn Đức Hiệp    UV BCH, Hạt Trưởng Kiểm lâm huyện    
31    Lê Văn Tài    UV BCH, Viện trưởng VKS huyện    
32    Vi Hồng Xiêng    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Na Mèo    
33    Lương Văn Khánh    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Điện    
34    Hà Thị Dung    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Trung Xuân    
35    Hà Văn Tý    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Tam Lư    
36    Nguyễn Văn Lĩnh    UV BCH, Bí thư Đảng ủy Thị trấn    
37    Phạm Xuân Cường    UV BCH, Bí thư Đảng ủy xã Trung Hạ    
Nhìn lại chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành, có thể khẳng định rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào các dân tộc huyện Quan Sơn đã và đang tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương, tạo nên những thành tựu mới to lớn trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, làm biến đổi sâu sắc toàn diện bộ mặt quê hương. Đặc biệt, trong 20 năm qua, Đảng bộ không ngừng xây dựng và củng cố hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới. Khi mới thành lập, Đảng bộ huyện Quan Sơn gồm có 9 Đảng bộ xã: Trung Xuân, Trung Hạ, Trung Thượng, Sơn Hà, Sơn Lư, Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Điện, Sơn Thủy và 2 Đảng bộ lâm trường, với tổng số 860 đảng viên. Đến nay, toàn Đảng bộ huyện có 37 tổ chức cơ sở đảng gồm 13 Đảng bộ xã, thị trấn, 24 Đảng bộ, chi bộ trực thuộc, 189 chi bộ bản, khu phố, toàn Đảng bộ có 3.779 đảng viên. Sự vững mạnh của hệ thống chính trị là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi trong công cuộc xây dựng bảo vệ quê hương đất nước. Đồng bào các dân tộc huyện Quan Sơn tập hợp đoàn kết trong hệ thống chính trị, xây dựng bảo vệ hệ thống chính trị và hăng hái thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng. Sự gắn kết của hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tạo ra nền tảng chính trị vững chắc, tạo nên sức mạnh to lớn giúp Đảng bộ và nhân dân trong huyện vượt qua mọi khó khăn thách thức qua các thời kỳ để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Đó chính là thành tựu to lớn trong lĩnh vực chính trị xã hội mà Đảng bộ và đồng bào các dân tộc huyện Quan Sơn đã dày công vun đắp trong suốt chặng đường đã qua.
Phát huy truyền thống đoàn kết và tinh thần cách mạng của đồng bào các dân tộc trong huyện, với tinh thần đoàn kết và cần cù lao động sáng tạo của nhân dân, đặc biệt với sự nỗ lực đổi mới của toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn, tin tưởng rằng huyện Quan Sơn sẽ ngày càng phát triển, từng bước khắc phục những khó khăn, vươn lên cùng với các địa phương trong tỉnh, trong khu vực và đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
4.1.1.2. Các cơ quan của Đảng bộ huyện quan Sơn
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quan Sơn (gọi tắt là Huyện ủy Quan Sơn) 
Là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai nhiệm kỳ Đại hội. Huyện ủy có nhiệm vụ bầu các Ủy viên Ban Thường vụ, bầu các chức danh Bí thư, Phó Bí thư, Ủy viên Ủy ban kiểm tra. Trên cơ sở quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, Huyện ủy đề ra các chủ trương, chiến lược lớn về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, công tác quần chúng để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương theo nguyên tắc tập trung dân chủ; Chịu trách nhiệm trước Đảng bộ và nhân dân trong huyện về tình hình mọi mặt của Đảng bộ. Tham mưu, giúp việc cho Huyện ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy, Thường trực Huyện ủy (Bí thư, Phó Bí thư Thường trực) là hệ thống các cơ quan chuyên trách (thường gọi là các Ban Đảng, đơn vị thuộc Huyện ủy), gồm có: Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức, Ủy ban Kiểm tra, Ban Dân vận và Văn phòng Huyện ủy. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các cơ quan của Đảng hiện nay được thực hiện theo Quy định số 220-QĐ/TW ngày 27 tháng12 năm 2013 của Ban Bí thư Trung ương về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc huyện, quận, thị, thành ủy trực thuộc Tỉnh ủy, Thành ủy.
Ban Tuyên giáo Huyện ủy
Công tác Tuyên giáo của Đảng gắn liền với sự ra đời, phát triển, trưởng thành của Đảng. Ngay từ những năm đầu Đảng bộ huyện được thành lập, công tác Tuyên giáo đã có những đóng góp quan trọng trong thực hiện công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền các chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, thực hiện công tác huấn luyện đảng viên, tham mưu cho cấp ủy chính quyền xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, văn nghệ, khoa học kỹ thuật... Ban Tuyên giáo và đội ngũ cán bộ làm công tác Tuyên giáo của huyện Quan Sơn đã có những đóng góp to lớn vào thành tích chung của Đảng bộ và nhân dân huyện Quan Sơn.
Trong thời kỳ đổi mới, đất nước phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách. Công tác tuyên giáo của Đảng tập trung hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Điểm nổi bật của công tác tuyên giáo trong thời kỳ này là tích cực tuyên truyền Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước; đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn; làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta; cổ vũ, động viên phong trào thi đua trên mọi lĩnh vực; khơi dậy và nhân lên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, sức sáng tạo của toàn xã hội, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn của đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Ban Tổ chức Huyện ủy
Công tác tổ chức xây dựng đảng gắn liền với sự ra đời, phát triển, trưởng thành của Đảng bộ huyện. Từ khi thành lập, Đảng bộ luôn quan tâm đến công tác tổ chức xây dựng; nhiệm vụ của công tác tổ chức là: Tập trung củng cố, phát triển tổ chức cơ sở Đảng, vận động các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, giáo dục, bồi dưỡng quần chúng ưu tú để kết nạp Đảng. Giúp cấp ủy củng cố tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể chung; thực hiện cuộc vận động thi đua xây dựng Đảng và xây dựng chi bộ vững mạnh; 
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, công tác tổ chức xây dựng đảng được quan tâm xây dựng, kiện toàn. Đồng thời tập trung chỉ đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, xác định chức năng, nhiệm vụ các loại hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp hơn trong điều kiện hoạt động mới. Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị cơ sở. Công tác phát triển đảng viên được quan tâm chỉ đạo đạt kết quả, nhất là ở những vùng trọng yếu. Số lượng đảng viên mới kết nạp hằng năm đều tăng; tỉ lệ đảng viên mới kết nạp là đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là người dân tộc thiểu số, trí thức ngày càng tăng, góp phần thay đổi cơ cấu đội ngũ đảng viên theo hướng tích cực.
Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy
Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng có tầm quan trọng đặc biệt trong sự lãnh đạo của Đảng ta và trong công tác xây dựng Đảng. Ngay từ khi thành lập đến các giai đoạn cách mạng sau này, Đảng ta luôn coi trọng và không ngừng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và giữ gìn kỷ luật của Đảng. Đối với Đảng bộ huyện Quan Sơn, ngay từ khi mới thành lập, cấp ủy huyện Quan Sơn đã luôn xác định rõ vai trò quan trọng của công tác kiểm tra và làm tốt công tác kiểm tra của Đảng, góp phần xây dựng Đảng bộ huyện Quan Sơn ngày càng lớn mạnh.
Trải qua các thời kỳ, công tác kiểm tra của Đảng và hoạt động của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy đã tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đảng viên, các tổ chức Đảng trên địa bàn huyện. Trong những năm gần đây, Ủy ban kiểm tra các cấp trong Đảng bộ huyện đã chủ động, tích cực tham mưu giúp cấp ủy làm tốt công tác lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật theo Điều lệ Đảng và các nhiệm vụ do cấp ủy giao. Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, Ủy ban kiểm tra các cấp đã xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm và đối tượng chính cần kiểm tra, giám sát; tham mưu giúp cấp ủy chỉ đạo cấp dưới làm tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của cấp ủy và của Ủy ban kiểm tra cấp ủy; tập trung giải quyết đơn thư tố cáo và tiến hành kiểm tra những tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; nghiêm túc xử lý và thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đảm bảo quy trình, quy định, góp phần nâng cao tính giáo dục, sự nghiêm minh trong Đảng, làm cho các tổ chức đảng trên địa bàn huyện ngày càng vững mạnh. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát đã phát huy được tinh thần tiền phong gương mẫu, đoàn kết và trí tuệ của tổ chức Đảng, củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là sức mạnh để Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện vượt qua những khó khăn thách thức, thực hiện thắng lợi hầu hết các mục tiêu, nhiệm vụ mà nghị quyết đại hội Đảng các cấp đã đề ra.
Ban Dân vận Huyện ủy
Ngay từ khi Đảng bộ huyện mới ra đời, công tác dân vận đã được quan tâm, chú trọng. Chức năng của Ban Dân vận là cơ quan tham mưu của Huyện ủy, trực tiếp giúp Ban Thường vụ Huyện ủy về công tác Dân vận của cấp ủy và theo dõi công tác dân tộc; công tác tôn giáo; Thường trực Ban chỉ đạo “Quy chế dân chủ xã, phường, thị trấn”. Nghiên cứu, cụ thể hóa những chủ trương, nghị quyết của Trung ương và Tỉnh ủy về công tác dân vận, đề xuất, chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị các kế hoạch công tác và văn bản chỉ đạo của huyện ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy về công tác dân vận.
Ban Dân vận còn có nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra các ngành, đoàn thể huyện và các tổ chức cơ sở đảng thực hiện các chỉ thị, nghỉ quyết của Trung ương, Tỉnh ủy, Huyện ủy về công tác dân vận. Phối hợp với MTTQ và các đoàn thể huyện theo dõi, nắm tình hình từ trong Đảng đến mọi đối tượng trong các tầng lớp nhân dân phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy. Phối hợp với Ban tổ chức Huyện ủy làm công tác xây dựng Đảng trong khối dân vận; nắm tình hình đội ngũ cán bộ trong khối và có trách nhiệm tham gia ý kiến trong việc tuyển chọn, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ của Đảng bộ khi có cấp ủy yêu cầu. Hướng dẫn nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ phương pháp công tác dân vận cho Đảng ủy và các tổ chức quần chúng ở cơ sở.
Ban Dân vận Huyện ủy và hệ thống Dân vận của Đảng đã tích cực thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh của Đảng bộ huyện.
Văn phòng Huyện ủy
Trong suốt chặng đường lịch sử gần 20 năm qua, công tác văn phòng cấp ủy huyện Quan Sơn gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển của Đảng bộ huyện. Từ những năm đầu Đảng bộ huyện thành lập, Văn phòng Huyện ủy đã cùng với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện tham mưu, phục vụ cho sự lãnh đạo của Ban Cán sự Đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện qua các thời kỳ. 
Văn phòng Huyện ủy là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Huyện ủy mà trực tiếp, thường xuyên là Ban Thường vụ và Thường trực Huyện ủy trong tổ chức, điều hành công việc lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp hoạt động các cơ quan tham mưu, giúp việc cho Huyện ủy; là trung tâm thông tin tổng hợp phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy. Trực tiếp quản lý tài sản, tài chính của Huyện ủy và đảm bảo cơ sở vật chất cho các hoạt động của Huyện ủy, Ban Thường vụ, Thường trực Huyện ủy và các cơ quan tham mưu, giúp việc Huyện ủy. 
4.1.2. Hệ thống tổ chức chính quyền huyện Quan Sơn
4.1.2.1. Hội đồng nhân dân huyện Quan Sơn
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và cơ quan Nhà Nước cấp trên về mọi hoạt động của mình. Theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân ngày 26 tháng 11 năm 2003 và được thay thế bằng luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015.
Theo quy định, mỗi năm, Hội đồng nhân dân tổ chức họp hai kỳ (có thể tổ chức các kỳ họp bất thường theo quy định của pháp luật tùy theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình của thực tế địa phương).
Từ ngày thành lập đến nay, Hội đồng nhân dân huyện đã trải qua 4 kỳ bầu cử, Hội đồng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ theo quy định của Pháp luật, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội; quốc phòng - an ninh của cấp huyện qua các nhiệm kỳ đại hội. 
4.1.2.2. Ủy ban nhân dân huyện Quan Sơn 
Là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện. Điều hành nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh trật tự, nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn huyện. Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính Nhà nước từ Trung ương tới cơ sở. Nhiệm kỳ của UBND huyện cùng với nhiệm kỳ của HĐND huyện, chủ tịch, các phó chủ tịch UBND huyện và các thành viên UBND huyện. 
4.1.2.3. Các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện Quan Sơn
Số lượng, nhiệm vụ, tổ chức các phòng chuyên môn, đơn vị chuyên môn thuộc UBND huyện được tổ chức theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Cụ thể như sau:
Phòng Nội vụ
Phòng Nội vụ trước đây gọi là Phòng Tổ chức chính quyền, sau sát nhập với Phòng Thương binh - Xã hội thành lập Phòng Tổ chức - Thương binh - Xã hội; sau là Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội; từ năm 2009 tách ra thành Phòng Nội vụ. 
Phòng Nội vụ là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: Tổ chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế công chức và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính Nhà nước và theo dõi công tác tôn giáo; cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cải cách hành chính; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; công tác thanh niên; thi đua - khen thưởng. 
Phòng Tư pháp
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức được quy định tại Thông tư số 01/2009/TTLT-BTP-BNVngày 28 tháng 04 năm 2009 của liên Bộ Tư pháp - Bộ Nội vụ. 
 Phòng Tư pháp có nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: công tác xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự; chứng thực; hộ tịch; trợ giúp pháp lý; hòa giải ở cơ sở và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật. 
Phòng Tài chính - Kế hoạch
Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: tài chính; kế hoạch và đầu tư; đăng ký kinh doanh; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về doanh nghiệp, hợp tác xã, kinh tế tư nhân. 
Phòng Tài nguyên và Môi trường
Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; môi trường; biển và hải đảo (đối với các huyện có biển, đảo). 
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn có chức năng, nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản, phát triển nông thôn; phòng chống thiên tai; vấn đề chất lượng an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản; vấn đề phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nông thôn, kinh tế hợp tác xã nông, lâm, ngư nghiệp gắn với làng nghề; vấn đề xây dựng nông thôn mới.
Phòng Kinh tế và Hạ tầng
Hiện nay, Phòng Kinh tế và Hạ tầng là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: Công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; thương mại; quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông; khoa học và công nghệ. 
Phòng Dân tộc
Phòng Dân tộc có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác dân tộc.
Phòng Lao động - Thương binh xã hội
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: việc làm; dạy nghề; lao động, tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp); an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội. 
Phòng Văn hóa và Thông tin
Phòng Văn hóa và Thông tin tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các lĩnh vực: văn hóa; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; quảng cáo; bưu chính; viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh truyền hình; báo chí; xuất bản; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại; hạ tầng thông tin.
Phòng Giáo dục và Đào tạo
Phòng Giáo dục - Đào tạo là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các lĩnh vực: Chương trình và nội dung giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo.
Phòng Y tế
Phòng Y tế có chức năng, nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình. 
Thanh tra huyện
Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi quản lý Nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. 
Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng tham mưu tổng hợp cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện về: Hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân về chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; cung cấp thông tin phục vụ quản lý và hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan Nhà nước ở địa phương; bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; trực tiếp quản lý và chỉ đạo hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện, chuyển hồ sơ đến các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết và nhận kết quả để trả cho cá nhân, tổ chức.
Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 13 xã, thị trấn
Trong hệ thống chính trị của huyện Quan Sơn còn có Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, cán bộ công chức của 13 xã, thị trấn( ). Đây là cấp chính quyền cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ lãnh, chỉ đạo cán bộ và nhân dân địa phương thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, góp phần xây dựng quê hương Quan Sơn ngày càng giàu đẹp, hiện đại, văn minh.
4.2. CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI HUYỆN QUAN SƠN 
4.2.1. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Quan Sơn 
Ngày 23 tháng 01 năm 1997, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 14 - QĐ/MTTH thành lập Mặt trận Tổ quốc huyện Quan Sơn và thành lập Ủy ban Mặt trận lâm thời do ông Lữ Văn Tự làm Chủ tịch.
Ngay sau khi thành lập, Mặt trận Tổ quốc huyện Quan Sơn đã tích cực vận động đồng bào các dân tộc trong huyện đoàn kết thi đua xây dựng Huyện và tích cực chuẩn bị các điều kiện về tư tưởng, tổ chức tiến tới Đại hội. Tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc huyện Quan Sơn lần thứ I (1997 - 2000) diễn ra ngày 20 tháng 3 năm 1997, ông Lữ Văn Tự chính thức được bầu làm Chủ tịch Mặt trận.
Mặt trận Tổ quốc huyện Quan Sơn là liên minh chính trị, lấy liên minh công nông làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quan Sơn. Mặt trận Tổ quốc huyện Quan Sơn là khâu quan trọng trong hệ thống chính trị, cầu nối giữa tổ chức Đảng, chính quyền với quần chúng nhân dân trên địa bàn huyện
Mặt trận Tổ quốc huyện Quan Sơn được thành lập trong điều kiện đất nước ta đã và đang thực hiện thành công cuộc đổi mới. Trong những năm qua trên tinh thần đổi mới, hoạt động của MTTQ Việt Nam huyện Quan Sơn đã bám sát nhiệm vụ chính trị của huyện, với nhiều hình thức và biện pháp để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng chính quyền, phối hợp với chính quyền, các tổ chức thành viên triển khai, thực hiện quy chế dân chủ. 
Trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, MTTQ huyện Quan Sơn đã vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nư¬ớc trên các lĩnh vực lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm. Triển khai tốt các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”; Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; Phong trào xây dựng gia đình “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”, vận động nhân dân phát triển kinh tế gia đình, kinh tế vườn, góp phần vào việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng. 
Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng: Mặt trận Tổ quốc huyện Quan Sơn đã đóng góp tích cực vào cuộc vận động thực hiện kêu gọi thanh niên nhập ngũ, xây dựng mối đoàn kết quân dân và thực hiện tốt các chính sách hậu phương quân đội. 
Từ năm 2013, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Mặt trận Tổ quốc huyện Quan Sơn trong thời kỳ đổi mới đã được chính quyền, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, MTTQ tỉnh tặng bằng khen, giấy khen.
Trải qua các kỳ đại hội (1), MTTQ huyện Quan Sơn đã không ngừng lớn mạnh. Khi mới thành lập có 8 tổ chức thành viên, hiện nay đã có 12 tổ chức thành viên. Trong qua trình hoạt động MTTQ huyện Quan Sơn luôn phát huy vai trò tập hợp đoàn kết mọi tầng lớp các dân tộc, phát động các phong trào thi đua yêu nước nhằm hoàn thành thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng trên địa bàn huyện. Trong giai đoạn tiếp theo tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, xây dựng nông thôn mới, Mặt trận Tổ quốc huyện Quan Sơn sẽ là tổ chức tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tạo nhiều phong trào thi đua yêu nước, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội huyện Quan Sơn.
4.2.2. Liên đoàn Lao động huyện Quan Sơn 
Ngày 13 tháng 01 năm 1997, Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 02 - TC/LĐLĐ thành lập Liên đoàn Lao động huyện Quan Sơn và Ban Chấp hành Công đoàn huyện gồm 5 đồng chí, đồng chí Hà Văn Đoàn làm Chủ tịch. Ban Chấp hành Công đoàn đã tích cực vận động cán bộ, công nhân viên chức toàn huyện thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hưởng ứng chủ trương này, công nhân viên toàn huyện đã hăng hái thi đua, hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ được giao và chuẩn bị các điều kiện để tiến tới Đại hội Công đoàn huyện lần thứ I vào ngày 24 tháng 2 năm 1998. Tại Đại hội lần thứ I, Liên đoàn Lao động huyện Quan Sơn đã bầu Ban Chấp hành chính thức và bầu đồng chí Hà Văn Khiêm giữ cương vị Chủ tịch Liên đoàn.
Liên đoàn Lao động là tổ chức chính trị xã hội của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và người lao động ở địa phương; đại diện và bảo vệ quyền lợi chính đáng của công nhân, viên chức và người lao động, tham gia quản lý kinh tế - xã hội, kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, động viên công nhân, viên chức và người lao động trên địa bàn huyện Quan Sơn thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Khi mới thành lập, Liên đoàn Lao động huyện mang tên “Công đoàn Dân chính Đảng” gồm có 121 đoàn viên sinh hoạt ở 3 Công đoàn cơ sở. Đồng chí Hà Văn Đoàn được Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh chỉ định làm Chủ tịch lâm thời Công đoàn Dân chính Đảng huyện Quan Sơn.
Trong quá trình đổi mới và phân cấp quản lý theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Công đoàn toàn quốc (khóa VII) đến nay, Liên đoàn Lao động huyện Quan Sơn có 1.867 công nhân, viên chức, lao động, với 1.613 đoàn viên sinh hoạt tại 17 Công đoàn cơ sở và 43 công đoàn trường học.
Liên đoàn Lao động đã thực hiện các chức năng chính là tuyên truyền, giáo dục công nhân, viên chức, lao động, tham gia công tác quản lý; chăm lo, bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng cho công nhân, viên chức, lao động; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần vào những thành tựu đổi mới quê hương Quan Sơn ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Trong quá trình phát triển, Liên đoàn Lao động đã thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng của Nhà nước cấp huyện, Công đoàn ngành địa phương, Công đoàn Tổng Công ty để kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách công nhân, viên chức, lao động; Tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn.
Từ khi thành lập đến nay, Liên đoàn Lao động huyện luôn được Đảng bộ huyện quan tâm, tạo điều kiện phối hợp công tác với UBND huyện và các tổ chức chính trị xã hội khác trong huyện, Công đoàn huyện Quan Sơn đã không ngừng lớn mạnh cả về tổ chức chính trị và tư tưởng, có vai trò quan trọng trong việc tập hợp lực lượng công nhân, viên chức, lao động và tổ chức các phong trào thi đua góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của huyện qua các thời kỳ. 
Trong qua trình hoạt động, Liên đoàn Lao động huyện Quan Sơn đã được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Liên đoàn Lao động tỉnh tặng Cờ thi đua xuất sắc và nhiều bằng khen vì có nhiều thành tích đóng góp xây dựng tổ chức Công đoàn.(1)
4.2.3. Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn
Ngày 25 tháng 01 năm 1997, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 07 - QĐ/TVTH thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn và Ban Chấp hành lâm thời gồm 5 thành viên, do bà Ngân Thị Thới làm Chủ tịch. Ban Chấp hành lâm thời đã tích cực tổ chức các phong trào thi đua xây dựng huyện và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới Đại hội Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn lần thứ I vào ngày 16 tháng 6 năm 1997. Tại Đại hội, đã bầu ra Ban Chấp hành chính thức và bầu bà Ngân Thị Thới làm Chủ tịch Hội.
Hội Liên hiệp Phụ nữ là tổ chức đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước. Đoàn kết vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới. Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình và trẻ em; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh; đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình.
Từ ngày thành lập, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn đã không ngừng phát triển và trưởng thành. Khi thành lập, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn có 2.200 hội viên, hiện nay Hội có 7.236 hội viên. Hội đã tập hợp đoàn kết được đông đảo các tầng lớp phụ nữ các dân tộc trong huyện phát huy truyền thống yêu nước, lao động cần cù sáng tạo, trung hậu đảm đang, giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc, đem tài năng trí tuệ góp phần to lớn vào sự phát triển của huyện Quan Sơn.
Trong quá trình hoạt động, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng chăm lo, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng cho phụ nữ. Hội luôn bám sát các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, tuyên truyền vận động phụ nữ các dân tộc trong huyện hưởng ứng thực hiện phong trào thi đua và cuộc vận động lớn của Hội: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững” và cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” gắn với “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, cuộc vận động “Mái ấm tình thương”.
Với chức năng nhiệm vụ của mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ đã tuyên truyền vận động cán bộ hội viên phụ nữ tích cực thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Vận động chị em phụ nữ thực hành tiết kiệm, phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững. Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện ủy thác với Ngân hàng chính sách xã hội hỗ trợ vốn vay cho hội viên phát triển kinh tế gia đình, xây dựng các tổ tiết kiệm tại chi tổ, chỉ đạo xây dựng câu lạc bộ phụ nữ giảm nghèo.
Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn đã tăng cường phối hợp với các ban, ngành hỗ trợ phụ nữ nâng cao kiến thức, năng lực, xây dựng gia đình: “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” như chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ, trẻ em thông qua tiểu dự án, chương trình phối hợp, tổ chức tập huấn, sinh hoạt câu lạc bộ, tổ chức các Hội thi cấp huyện, xã. Các hoạt động lồng ghép dân số sức khỏe sinh sản, giáo dục con em trong gia đình không phạm tội và mắc tệ nạn xã hội. Thực hiện luật bình đẳng giới, luật phòng chống bạo lực gia đình... Nhiều mô hình hoạt động có hiệu quả như “Câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Câu lạc bộ phòng chống bạo lực gia đình”, “Câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe sinh sản”, “Câu lạc bộ dinh dưỡng” đem lại hiệu quả thiết thực.
Phát huy vai trò đại diện của tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn tham gia Hội đồng tư vấn các ban chỉ đạo các cấp chính quyền, tham gia thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tham gia giám sát các chế độ chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em, phối hợp với các ngành chức năng phát hiện kịp thời giải quyết bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chính đáng của phụ nữ, trẻ em không bị xâm phạm.
Trong hoạt động đối ngoại nhân dân các cấp, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn đã quan tâm chỉ đạo cơ sở tuyên truyền cho cán bộ, hội viên phụ nữ nâng cao nhận thức về đường lối, chính sách đối ngoại nhân dân của Đảng và Nhà nước ta. Thường xuyên phối hợp với Bộ đội biên phòng, lực lượng vũ trang làm tốt công tác bảo vệ đường biên cột mốc, không xâm canh, xâm cư, không tái trồng cây thuốc phiện, không khai thác gỗ, săn bắn thú rừng bất hợp pháp, nâng cao cảnh giác với các âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch chống phá nước ta. Tăng cường các hoạt động giao lưu thăm thân với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, cùng nhau xây dựng biên giới, hợp tác hữu nghị và phát triển bền vững.
Thực hiện phương châm ở đâu có phụ nữ ở đó có tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ, các cấp Hội đã thường xuyên quan tâm xây dựng, phát triển, củng cố, phát triển hội viên. Về công tác cán bộ nữ: Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn luôn coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, xây dựng đội ngũ cán bộ Hội các cấp có phẩm chất chính trị vững vàng, tinh thông về nghiệp vụ, có phương pháp vận động quần chúng nhiệt tình, tâm huyết với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Trải qua gần 20 năm phấn đấu và trưởng thành, đến nay Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn đã có hệ thống Hội từ huyện đến chi hội, có đội ngũ cán bộ chuyên trách và trên 7.000 hội viên sinh hoạt ở 99 chi hội. Cán bộ, hội viên phụ nữ trong huyện đang là lực lượng lao động to lớn, tích cực lao động, học tập cùng nhân dân các dân tộc trong huyện, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng nông thôn mới góp phần đưa huyện Quan Sơn thoát khỏi huyện nghèo vào năm 2020.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Quan Sơn đã có nhiều thành tích, liên tục được Trung ương Hội và Tỉnh Hội tặng bằng khen; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ Việt Nam”.
4.2.4. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Quan Sơn 
Ngày 17 tháng 02 năm 1997, Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 37 - QĐ/TĐ thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Quan Sơn và Ban Chấp hành lâm thời Huyện đoàn gồm 15 đồng chí, do đồng chí Phạm Hồng Kiêu là Bí thư.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Quan Sơn kể từ ngày thành lập đến nay trải qua 4 kỳ Đại hội. Những ngày đầu mới thành lập Huyện đoàn, điều kiện khó khăn, thiếu thốn về nhiều mặt, cơ sở vật chất còn nghèo nàn. Nơi làm việc và hoạt động của Đoàn tạm bợ. Nhưng với tinh thần nhiệt huyết của tập thể Ban Chấp hành lâm thời Đoàn đã sớm củng cố, ổn định tổ chức đi vào hoạt động.
Ngày 08 tháng 3 năm 1997, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Quan Sơn tiến hành Đại hội Đại biểu lần thứ I với sự có mặt của 95 đại biểu đại diện cho gần 1.000 đoàn viên trong toàn huyện, Đại hội đã bầu 15 đồng chí vào Ban Chấp hành huyện Đoàn khóa I (1). Có thể nói công tác và phong trào thanh thiếu niên của nhiệm kì đầu là điều kiện, tiền đề cho nhiệm kì tiếp theo phát triển.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên huyện Quan Sơn, là lực lượng nòng cốt trong phong trào thanh niên, tham mưu và đề xuất với Huyện ủy - HĐND - UBND huyện về quy chế chính sách bảo vệ quyền lợi cho Đoàn viên thanh niên và thiếu niên nhi đồng, đồng thời tập trung tuyên truyền, vận động đoàn viên thanh niên thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Thường xuyên nâng cao trình độ mọi mặt cho đoàn viên thanh niên và thiếu niên nhi đồng, tạo điều kiện cho đoàn viên thanh niên phát triển kinh tế tạo việc làm, tăng thu nhập, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng cho đoàn viên thanh niên và thiếu niên nhi đồng.
Đại diện, bảo vệ quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của đoàn viên thanh niên, tham gia xây dựng Đảng, quản lý Nhà nước;
Đoàn kết, tập hợp, tuyên truyền, giáo dục, vận động, tổ chức hướng dẫn đoàn viên thanh niên và thiếu niên nhi đồng thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, hướng dẫn thiếu nhi làm theo 5 điều Bác Hồ dạy và phấn đấu trở thành đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, người công dân tốt của đất nước.
Đến nay trên toàn huyện có trên 5.000 đoàn viên, thanh niên với 29 cơ sở đoàn, trong đó có 13 chi đoàn xã, thị trấn, 16 chi đoàn trực thuộc, các cơ sở Đoàn đã thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia xây dựng Đảng thông qua việc tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về Đảng cho đoàn viên thanh niên, đóng góp ý kiến vào các văn kiện Đại hội Đảng các cấp về các chủ trương, chính sách có liên quan đến các thế hệ trẻ, đến vai trò của đảng viên và nâng cao chất lượng cơ sở Đảng. Cuộc vận động “Đoàn viên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam” được đẩy mạnh, tạo động lực khích lệ đoàn viên phấn đấu. 
Trong quá trình hoạt động, Huyện đoàn Quan Sơn luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong trào cách mạng, có mặt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đa số đoàn viên là những người có tri thức, sức khỏe, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng đảm nhận những việc mới, việc khó. Huyện đoàn Quan Sơn đã triển khai nhiều nhiệm vụ thiết thực nhằm hỗ trợ, cổ vũ thanh niên vươn lên lập thân, lập nghiệp, xây dựng quê hương qua các phong trào “5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “4 đồng hành cùng thanh niên trên con đường lập thân, lập nghiệp”; cuộc vận động Thanh niên làm kinh tế giỏi và nghị quyết tuổi trẻ xây dựng nông thôn mới do đoàn cấp trên phát động. Sự hỗ trợ của Đoàn Thanh niên làm kinh tế rất đa dạng và thiết thực, thu hút đông đảo thanh niên tích cực tham gia. 
Các thế hệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Quan Sơn đã cùng với thanh niên cả nước luôn phát huy truyền thống cách mạng của các thế hệ cha anh, đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, trung thành tuyệt đối với Đảng, gắn bó chặt chẽ với lợi ích của dân tộc, với nhân dân, truyền thống xung kích cách mạng, xung phong tình nguyện, sẵn sàng đón nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Quan Sơn cũng luôn dành sự quan tâm, tin tưởng đối với thế hệ trẻ, đó chính là niềm cổ vũ lớn lao, là động lực mạnh mẽ để tuổi trẻ tự tin vững bước đi lên, kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc Việt Nam.
4.2.5. Hội Nông dân huyện Quan Sơn 
Ngày 30 tháng 05 năm 1997, Ban Chấp hành Hội Nông dân Thanh Hóa ra Quyết định số 86/QĐ-HND thành lập Hội Nông dân huyện Quan Sơn và Ban Chấp hành lâm thời gồm 15 thành viên do đồng chí Hà Tuyến Din làm Chủ tịch.
Ngày thành lập Hội Nông dân, toàn huyện có 9 tổ chức cơ sở Hội với 87 chi hội; có 3.900 hội viên. Đến nay, toàn huyện có 13 tổ chức cơ sở Hội trên 13 xã, thị trấn; có 99 chi hội với 6.802 hội viên, chiếm 96% hội viên nông nghiệp. Trong đó hội viên là đảng viên 2.271 chiếm trên 30%; có 486 hội viên nữ, 6.334 hội viên nam(1).
Hội Nông dân là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân, đại diện và bảo vệ quyền lợi của nông dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quan Sơn. Hội Nông dân có chức năng, nhiệm vụ:
Vận động, giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt. Tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nông dân.
Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên, nông dân hiểu biết đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của Hội Nông dân Việt Nam; Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa; nghị quyết của Đảng bộ huyện Quan Sơn.
Khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước; ý chí cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa; hiện đại hóa. Tổ chức học tập nâng cao trình độ tay nghề khoa học kỹ thuật và nghề nghiệp trong sản xuất, kinh doanh cho hội viên, nông dân; nghiệp vụ công tác hội cho cán bộ hội. Vận động tập hợp và làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng nông thôn mới, xây dựng gia đình nông dân văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho hội viên, nông dân. Các cấp Hội là thành viên tích cực trong quá trình thực hiện các chính sách pháp luật, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, ở nông thôn; tham gia xây dựng kinh tế hợp tác, hợp tác xã, tổ chức các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nông dân và vận động nông dân thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; tham gia các phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Tham gia công tác giám sát, phản biện xã hội, công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn; tham gia xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân. Tăng cường công tác hòa giải, gạt bỏ những định kiến, mâu thuẫn, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân; góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chống quan lưu, tham nhũng, mất dân chủ và các tệ nạn xã hội.
Mở rộng công tác hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng trên tinh thần hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng phát triển với tổ chức hội nông dân, tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ.
Thực hiện tốt và có hiệu quả 3 phong trào lớn do Hội Nông dân Việt Nam phát động: Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng; Phong trào “Chung tay xây dựng nông thôn mới” thi đua xây dựng gia đình văn hóa, tham gia xây dựng làng, bản, xã văn hóa ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu; Phong trào nông dân thi đua tham gia bảo vệ quốc phòng - an ninh.
Trong suốt chặng đường đã qua, Hội Nông dân huyện Quan Sơn luôn là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đứng vào tốp Hội Nông dân dẫn đầu của tỉnh Thanh Hóa. Hội đã được tặng nhiều phần thưởng cao: năm 1999 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Tỉnh hội tặng cờ luân lưu; năm 2000, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Trung ương Hội nông dân Việt Nam tặng bằng khen; năm 2001 được tặng cờ luân lưu của tỉnh Hội (Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua); năm 2010, đạt giải Ba Hội thi an toàn giao thông toàn tỉnh; năm 2012, Tặng bằng khen đơn vị đạt giải Nhì, toàn tỉnh về nhà nông đua tài, thi tìm hiểu kiến thức nhà nông; Năm 2014, đạt giải Nhì toàn tỉnh về tham gia cúp bóng chuyền “Bông lúa vàng” năm 2014; năm 2015, được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tặng bằng khen về “Đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.
4.2.6. Hội Cựu chiến binh huyện Quan Sơn
Tháng 2 năm 1997, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện Quan Sơn ra quyết định thành lập Hội Cựu chiến binh huyện Quan Sơn. Ngày 15 tháng 3 năm 1997, Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh tỉnh ra Quyết định số 32 chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Hội Cựu chiến binh huyện Quan Sơn gồm 13 thành viên, do ông Hà Văn Cối làm Chủ tịch. Hội Cựu chiến binh huyện Quan Sơn tiến hành Đại hội lần thứ I vào tháng 6 năm 1997. 
Hội Cựu chiến binh là tổ chức chính trị xã hội của các cựu chiến binh huyện Quan Sơn, thành viên của Ủy viên Mặt trận Tổ quốc, do Đảng bộ huyện Quan Sơn lãnh đạo. Hội hoạt động theo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm phát huy truyền thống “bộ đội Cụ Hồ”, góp phần bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực xây dựng, quê hương đất nước.
Khi thành lập, Hội Cựu chiến binh huyện Quan Sơn có 1.391 hội viên, hiện nay tổng số hội viên đã lên tới 2.368. Trong quá trình hoạt động, Hội Cựu chiến binh huyện Quan Sơn đã tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ quan trọng như: tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, đoàn kết giúp đỡ nhau phát triển kinh tế gia đình, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo. Đặc biệt, hội đã tích cực tham gia giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ. Hội cùng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội làm tốt công tác quân nhân, góp phần giữ vững ổn định an ninh - chính trị, góp phần cùng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh của huyện Quan Sơn.
4.2.7. Các tổ chức quần chúng
Hiện nay, trên địa bàn huyện Quan Sơn có các tổ chức quần chúng sau:
Hội Người cao tuổi huyện Quan Sơn thành lập ngày 20 tháng 10 năm 2011.Từ ngày thành lập đến nay, đã trải qua 2 kỳ đại hội, Chủ tịch hội là ông Hà Tuyến Din.
Hội Khuyến học huyện Quan Sơn thành lập ngày 7 tháng 5 năm 2001. Từ ngày thành lập đến nay, đã trải qua 4 kỳ đại hội. Chủ tịch khóa I là ông Lữ Văn Tự, khóa II là bà Lương Thị Ngoan, khóa III và khóa IV là ông Hà Chí Nông.
Hội Chữ Thập đỏ huyện Quan Sơn thành lập ngày 5 tháng 8 năm 2005. Từ ngày thành lập đến nay, đã trải qua 2 kỳ đại hội. Chủ tịch khóa I, II là bà Lương Thị Ngoan.
Hội Cựu Thanh niên xung phong huyện Quan Sơn được thành lập từ tháng 12 năm 2006 đã trải qua 3 kỳ đại hội. Bà Lê Thị Quyên làm Chủ tịch Hội cả 3 khóa liên tiếp.
Hội Nạn nhân chất độc da cam/ Dioxin huyện Quan Sơn thành lập ngày 9 tháng 10 năm 2009. Từ ngày thành lập đến nay, đã trải qua 2 kỳ đại hội. Chủ tịch khóa I là bà Lương Thị Ngoan, khóa II là ông Lữ Văn Tự.
Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi huyện Quan Sơn thành lập ngày 19 tháng 12 năm 2012, đã tiến hành Đại hội lần thứ I do ông Hà Văn Khiêm làm Chủ tịch.
Hội Làm vườn huyện Quan Sơn thành lập ngày 09 tháng 06 năm 2014, đã tiến hành Đại hội lần thứ I do ông Phạm Văn Thư làm Chủ tịch.
Hội Dân tộc học và Nhân học huyện Quan Sơn được thành lập theo Quyết định số 1809/QĐ-UBND, ngày 20/05/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa. Đại hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2015 - 2020 tổ chức vào ngày 29 tháng 09 năm 2015, Chủ tịch Hội là ông Phạm Xuân Cừ.
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay, các tổ chức quần chúng đã và đang phát triển, có nhiều hoạt động phong phú, thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò trong khối đại đoàn kết toàn dân. Chính quyền các cấp huyện Quan Sơn đã tạo điều kiện để các tổ chức xã hội quần chúng hoạt động có hiệu quả, đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và theo điều lệ đề ra. Với các hình thức hoạt động và vai trò khác nhau, nhưng nhìn chung, mục đích hoạt động của các tổ chức xã hội quần chúng đều có những điểm chung tương đồng, nhằm mục đích chia sẻ những khó khăn trong quá trình phát triển, hỗ trợ nhau phát triển kinh tế, nâng cao mức sống, chia sẻ tình cảm, thăm hỏi lẫn nhau, tạo sự đồng thuận và tính cộng đồng trong điều kiện phát triển mới. Với ý nghĩa đó, vai trò của các tổ chức xã hội quần chúng được xem như là một nguồn lực góp phần vào sự phát triển chung của huyện Quan Sơn trong bối cảnh hiện nay.
4.3. VỀ GIÁO DỤC, Y TẾ HUYỆN QUAN SƠN
4.3.1. Về Giáo dục
Quan Sơn là huyện có truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng cũng là vùng quê có tinh thần hiếu học, nhân dân các dân tộc trong huyện luôn cần cù, chịu khó và đoàn kết. Đảng bộ, chính quyền các cấp trong huyện luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao, kịp thời, toàn diện trên mọi lĩnh vực công tác nên diện mạo huyện Quan Sơn đã có nhiều thay đổi: so với năm 1997, tỷ lệ trẻ đến trường tăng từ 80% lên 97%; tỷ lệ người mù chữ trong độ tuổi 15 - 60 tuổi giảm từ 15% (1997) xuống còn 3,6% (2015).
Năm 1997, Phòng Giáo dục huyện Quan Sơn (nay là Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Quan Sơn) được thành lập. Là cơ qua